Friday, August 05, 2016

Ngài Neten Rinpoche


Tại Ấn Độ có đến 16 bậc giác ngộ và giòng Neten Rinpoche bắt đầu từ ngài Lam Tren Ten, (tiếng Phạn là ChudaPantaka, tiếng Việt là Chu Lợi bàn Đà Dà), là bậc giác ngộ thứ 11. Ngài đã tái sanh nhiều lần ở Ấn Độ và Tây Tạng dưới dạng Bồ Tát Mahasiddha. Sau đó ngài được gọi là Neten Ronpoche Tulku Tenzin Gelek và lãnh chức vụ viện trưởng tu viện Jungpa ở Tây Tạng. Tu viện này được ngài Neten Rinpoche đời thứ nhất xây cất. Ngài Neten Rinpoche hiện thời, ra đời một năm sau khi vị Lạt Ma Neten Rinpoche Ngawang Lobsang Kunga đời thứ 8 viên tịch. Năm 1986, đức Dalai Lama đã tìm ra được Neten Rinpoche, chính thức công nhận ngài là vị Lạt Ma tái sinh đời thứ 9 và giao trọng trách quan trọng của một viện trưởng để tiếp tục bảo tồn tu viện Jungpa. Trước khi được công nhận là vị Lạt Ma đời thứ 9, ngài đã là một học giả nổi tiếng của đại học Phật học Seramey. Sau khi hoàn tất học vị Geshe Lharampa (Tiến sĩ Phật học), Neten Rinpoche tiếp tục nghiên cứu và học thêm Phật pháp tại tu viện Mật tông Gyudmed. Sau bốn năm, ngài nhận bằngNgarapa- bằng cấp cao nhất của Mật Tông do đức Dalai Lama cùng hội đồng giáo sư tu sĩ tổ chức kỳ thi.Ngài trở lại giảng dạy chư tăng ở đại học Phật học Seramey, thuộc miền nam Ấn Độ. Neten Rinpoche hoằng pháp khắp nơi trên thế giới. Tại Canada, ngài thành lập Viện Phật học Jam Tse Cho Ling Dharma Center, vùng Mississauga, Toronto. Ontario.

Trên đường hoằng pháp mỗi năm, ngài Neten Rinpoche dừng lại Houston, Dallas, Austin để thuyết giảng ở những ngôi chùa trong thành phố. Ngài có dáng người cao lớn, đôi mắt sáng kèm nụ cười luôn nở trên môi cho cảm giác an lạc khi tiếp xúc. Có nhiều người quy y, trở thành đệ tử của ngài trên đường hoằng pháp. Một số phật tử có duyên gặp ngài qua những chuyến hành hương viếng thăm tu viện do ngài phụ trách điều hành ở Ấn Độ hoặc Canada. Theo dõi sinh hoạt tu tập, hành trì của hàng ngàn vị sư Tây Tạng qua video được thâu từ các phật tử hành hương, mọi người càng thấu rõ trách nhiệm nặng nề của ngài đối với nền Phật giáo lưu vong Tây Tạng. Hàng ngàn tăng sĩ cư trú trong một tu viện cũ kỷ lâu đời chưa được trùng tu, nếu có chỉ là tu bổ từng phần để có nơi cư ngụ. Bữa ăn đạm bạc của học tăng không phải ở phòng ăn mà ở ngoài trời, trong sân tu viện. Tu học trong hoàn cảnh thiếu thốn mọi bề về vật chất, sự khổ hạnh đúng nghĩa phải chăng được dành cho chủng tộc bất khuất, kiên cường dẫu bất hạnh sống đời vong quốc. Quê hương có tên là Tibet bị xóa mất dù đất mẹ vẫn còn.

Trong sự đồng cảm, sẻ chia với vị Bồ Tát giữa đời, đem tình thương xoa dịu nỗi đau qua giáo lý của đức Phật. Ngoài việc tham dự những buổi thuyết giảng của ngài Neten Rinpoche, Phật tử tại Austin, Dallas, Houston mỗi năm đều tổ chức những buổi tiệc chay, gây quỹ giúp ngài thêm phương tiện duy trì các tu viện đang phụ trách. Ban nhạc tên tuổi CBC có mặt mỗi năm. Thừa hưởng từ người mẹ từ bi, các anh chị em trong gia đình CBC ngoài tài chơi nhạc, hát hay còn là những người con Phật thuần thành luôn chung tay góp sức trong nhiều Phật sự. Bốn năm qua, kể từ khi ngài Neten Rinpoche đến với Houston, ban nhạc CBC luôn có mặt cúng dường bằng tiếng hát, bằng tiền thu được ở những CD. Người tham dự được nghe lại những bản nhạc ngoại quốc gợi bao kỷ niệm một thời ở Saigon, cùng những bản nhạc thính phòng sâu lắng trong đêm. Đẹp nhất vẫn là màu áo trắng cả gia đình CBC chọn mặc trong những lần trình diễn. Địa điểm mỗi năm cùng nơi chốn thật yên tĩnh và trang nhã: Villagio ballroom. Chủ nhân cũng là đệ tử của ngài, đã cúng dường nơi chốn thêm hoa trang trí và chung tay tổ chức buổi tiệc tay. Những bình hoa do chủ nhân cắm, làm ấm căn phòng có sức chứa 500 người.


Ngoài chương trình văn nghệ, còn có Show trình diễn Áo dài thời trang được thực hiện bởi chị Khánh Trang. Để bên ngoài chuyện nhận định thời trang, công sức của chị nhiều vô kể. Là cư dân ở Virginia, chị Khánh Trang đến Houston tuyển chọn những người mẫu thiện nguyện rồi design kiểu áo, cắt may cho từng người, thực tập diễn trong thời gian ngắn nhất....Bên cạnh đó còn có sự đóng góp những món quà ý nghĩa tạo thêm tịnh tài góp phần bảo trợ cho tu sĩ lưu vong Tây Tạng. Những bức tranh cắt ghép bằng giấy, bức tranh thêu tay ròng rã trong 6 tháng mới hoàn thành...Tấm lòng trọng đạo, kính Thầy được bày tỏ qua từng bàn tay đóng góp mà đáng kể nhất là các Phật tử và con em của Viên Thông Tự.

Cùng đi với ngài Neten Rinpoche trong từng lần hoằng pháp có chị Nguyễn Mai Phương. Chị là đệ tử của ngài, cũng là một Phật tử uyên bác về Phật học. Chị Mai Phương ngoài việc chuyển dịch qua song ngữ lời giảng của ngài Neten Rinpoche từ tiếng Tây Tạng sang Anh ngữ rồi tiếng Việt cho Phật tử tham dự, chị còn chuyển dịch nhiều kinh sách và những bài thuyết giảng của ngài. Không biết từ bao giờ, chị Mai Phương- một người đến từ Canada trở thành khuôn mặt quen thuộc đối với Phật tử Houston. Sự giản dị, từ hoà của chị cho cảm giác thân gần ngay từ lần gặp đầu tiên.
Những người con Phật đã đến với nhau, cùng chia sẻ nỗi bất hạnh, đau thương từng ngày của một dân tộc hiền hoà chọn đạo cứu khổ ban vui làm quốc giáo. Những kẻ cuồng ngông mang tham vọng bá quyền, vì tham ác sân si đã không ngừng ra tay tiêu diệt giống dân Tậy Tạng. Quê hương Tây Tạng khó nghèo trên những dãy núi trùng điệp đã bị xóa tên. Nước mắt, máu và xương thịt của tu sĩ và thường dân đã đổ, đã hoà trong đất đá tang thương suốt bao năm. Tu viện bị tàn phá. Tu sĩ bị giết hại chẳng nương tay. Họ không có tội tình gì ngoài nỗi cam phận sống cùng đất đá trên quê hương đã mất. Ngài Nenten Rinpoche may mắn đào thoát nên được sống còn để hổ trợ, dìu dắt các tu sĩ lưu vong Tây Tạng, đem giáo lý giải thoát đến với kẻ mê lầm cho nhân loại bớt khổ đau vì tham ái si mê. Đã không còn đường về cho người Tây Tạng lưu vong. Chỉ còn lại nỗi đau buốt nhói khi nhìn đồng bào, chủng tộc của mình sống khổ nhục, chết âm thầm không ai biết dưới bàn tay sắt máu của nhà cầm quyền trung cộng.

Nhìn quốc gia Tây Tạng vĩnh viễn bị xóa dần dấu vết của một dân tộc bị diệt vong. Hướng về quê hương hình chữ S bên bờ Thái Bình Dương xa thẳm nghìn trùng, những người con xa xứ lòng đau. Tim không ai cắt mà như rướm máu. Chỉ còn hơn ba năm nữa mà thôi, khi hiệp định Thành Đô được thực thi. Việt Nam sẽ là một Tây Tạng thứ hai trên thế giới. Hơn ba triệu người ngủ say trên quyền lực, trong tham ác si mê. Vẫn còn gần 90 triệu đồng bào tôi, lẽ nào chưa thức tĩnh hay sao? Họ đã ngủ quên trên phận đời nhược tiểu khiếp hèn. Trên thành công tạm bợ che mờ lý trí. Hay là sống mà không thở nhịp yêu thương, quay lưng lại trước nỗi đau đồng loại. Những đàn heo, những bầy cừu vẫn nhỡn nhơ ăn ngủ vui chơi. Đợi đến ngày đến tháng rồi xếp hàng đi vào lò sát sinh để xong một kiếp cừu, heo.

Mẹ Việt Nam ơi! Giòng máu quật cường, bất khuất mẹ trao truyền đã loãng nhạt hơn bao giờ. Thương quá những người đang tranh đấu thật nhỏ nhoi, bất lực. Trong lời nguyện cầu cho dân Tây Tạng không còn cảnh máu đổ, thịt rơi trên chính quê hương. Con chấp tay khấn nguyện cho dân Việt Nam thức tĩnh, cùng chung tay gìn giữ quê hương. Thời gian đang âm thầm thu ngắn lại từng ngày. Con ngàn lần không muốn thấy quốc gia Việt Nam không còn nữa. Người dân Việt nam sống kiếp đọa đày trong khổ nhục đời đời

Quỳnh My











Sunday, July 24, 2016

Hoa trái nơi này


Sáng nay, hai chị em tôi nói chuyện qua phone. Đang mùa hè mà em bị cúm hành. Hỏi thăm bệnh dẫu biết rõ chu kỳ của cúm, một khi đã ghé thăm rồi là phải ở lại đủ ngày dù không ai muốn tiếp. Chuyện bệnh của em tạo ảnh hưởng dây chuyền. “Hai đứa giận nhau” rồi chị!

Khu vườn nhỏ vừa đủ để hờn anh, giận em năm này qua tháng khác mà kẻ “chủ mưu” là... hoa trái trong vườn.

-Em bệnh không thăm vườn hai ngày. Sáng nay ra nhìn mà muốn xĩu luôn!
-Sao? Có phải cây mãng cầu dai có hơn 20 trái của em bị nạn?
-Nó rụng nhiều, chỉ còn 10 trái đang độ lớn. Nhưng không phải nó làm em mệt!

Thì ra em tôi muốn xĩu vì tên “hàng xóm chung giường” bày biện kiểu thiên la địa võng. Học được kinh nghiệm thu gọn lại, thứ nào không cần thì dẹp bớt, cũng là nhìn lại tính tham của mình có ít hay nhiều. Phải hao tốn thời gian, tiền bạc và công sức hơi nhiều em mới ngộ ra. Đứa em than, mới hai ngày vắng mặt mà phe kia thừa thắng xông lên. Chỉ mình em ăn nên mấy thứ rau thơm đã thu gọn lại bấy lâu, giờ bành trướng như quân xâm lược bắc kinh làm sao em chịu nỗi. 

-Mua mấy đồng rau răm về cắt phần trên trồng riêng một chậu. 
-Thêm mấy đồng hành lá, cắt lấy củ, một chậu riêng. 
-Rau dấp cá một nhúm nhỏ giờ cho ra một chậu... 

Mà chơi xấu thiệt tình nha! Rau răm, hành chỉ lấy phần dưới đem trồng, phần trên đem dục chứ không để lại. Em cần cọng hành bỏ vô chén cháo cảm không có. Rau răm cũng hỏng chừa lại cho em, vậy mà còn đem hai cái bắp chuối về.... 

Trời, nghe kể tội “láng giềng gần” cũng có lý vô cùng. Em rể nói ai trồng, ai tưới, ai hưởng mà than phiền hỏng biết! Em gái phản công. Rau thơm anh có ăn hông? Bày thêm ra để mà chi? Rồi nó than. Thêm chậu, thêm đất, thêm phân, thêm nước...lại cong lưng trả thêm bill. Thú vui làm vườn của những người không còn trẻ, nhiều khi cũng chông gai bởi chuyện nước non. Tôi may mắn trả bill nước nhẹ, trong khi em trả bốn lần hơn dẫu so ra số cây trồng ở vườn bên tôi có hơn phân nửa bên em. Nghĩ lại nhiều khi chỉ vì muốn thỏa mãn thú vui không kém phần cực nhọc này, mà nhiều người quên mất là mình phải trả thêm tiền kèm công sức đã bỏ ra dài ngày vì nó. Có khi chợt nhận ra mình tiến nhanh tiến mạnh không ngờ, bèn dừng lại lấy sức rồi.... chạy tiếp mà không biết.

Chuyện kể, có một bà mẹ dẫn con trai đến gặp vị thiền sư. Người mẹ xin sư giúp bà khuyên đứa con trai mê cây kiểng khiến cho gia đình lâm cảnh túng nghèo hơn. Sư trầm ngâm một lúc rồi bảo hai mẹ con hãy trở lại gặp sư sau hai tuần nữa. Lần gặp thứ hai, sư từ tốn nói với người con trai rằng: Ta vốn có thú đam mê chơi cây kiểng xưa giờ. Trong hai tuần lễ vừa qua ta đã dứt trừ được nỗi đam mê này. Hôm nay thì ta có thể khuyên con. Cố gắng từ bỏ thú vui không cần thiết để có tiền nuôi sống gia đình. Đừng để người mẹ già và vợ con lâm cảnh túng cùng chỉ vì niềm vui của riêng một mình con. Không gì quý bằng sự chân thành trong một lời khuyên. Phải tự thắng chính mình được mới có thể khuyên người khác. Trong đạo Phật gọi là “thân giáo”.

Tôi cũng một thời say mê trồng loại hoa hồng. Năm đó lái xe ngang qua đại lộ Bellaire, thấy những hàng knockout rose trồng khoảng giữa dòng xe cộ ngược xuôi vô cùng rực rỡ. Knockout rose chịu đựng được cả hai mùa nóng, lạnh thêm không cần chăm sóc gì nhiều. Thế là chị em tôi hớn hở mua về trồng sân trước, vườn sau. Tôi còn cắt nhánh dâm xuống đất để có thêm nhiều cây mới. Khi đã thỏa lòng mong ước bấy lâu, không còn “yêu say mê mù quáng” nữa, chợt nhận ra...chân lý. Cây dễ trồng lại cho hoa nhiều nhưng chỉ đẹp khi thời tiết đẹp. Mùa hè hoa ít hẳn đi, thêm co lại, thoi thóp trong nắng nóng. Khi cây lớn, những bụi hoa chiếm chỗ nhiều, trở ngại không ít cho những lần nhổ cỏ dại. Còn thêm phần cắt tỉa dài dài. Hôm nào làm biếng không đeo bao tay dễ bị gai đâm đổ máu hay cào cho trầy xước. Tự hỏi không biết động cơ nào làm mình khổ thế này ha!

Khi khuyên em tôi chậm lại, bớt lại chuyện trồng trọt quanh nhà cho đỡ cực, đỡ tốn tiền và cũng là để tự nhắc riêng tôi. Cũng may, “ông làm vườn” của tôi rất trung thành, cũng thích rỉ rả, nhỏ to khi cần thiết. Biết thế nào là đủ cho nên không trồng quá nhiều cây, để phải xâm lấn tràn qua biên ải. Ông chỉ chăm lo ngăn che bờ cỏi của mình thôi. Em là chủ vườn. Em control cây, không để cây tự do lấn chiếm sinh sôi. Nhờ vậy mà từ cây con đến cây cao, tôi có người phụ tá đắc lực, tỉa cành, cắt nhánh. Nếu không chàng phải bắc thang, vịn thang cho tôi leo hái trái trên cây. Đôi khi cao hứng, anh chàng còn muốn truyền nghề. Lại đây anh chỉ cho coi nhánh nào cần cắt để cho ra dáng đẹp. Cây ngọc lan, cây bồ đề không quá đổi cao, tôi ra tay vài bận. Chàng gật gù khen nội công em cũng khá, chỉ dạy sơ là lãnh hội được liền. Biết thì biết vậy, tôi chỉ ưa hái trái trên cây cùng nhổ cỏ dại, cắt tỉa bông hoa. Bao nhiêu đó đủ cũng đủ hư hao “đôi tay ngà” của mấy mươi năm về trước!

Nghĩ cho cùng, ông làm vườn của tôi chí lý. Đất mình, quyền lợi của mình là tận hưởng những gì mình có. Phải ra tay trừ khử, dọn dẹp gai góc, cỏ dại, những nhánh cây thừa, kể cả cây cam, cây quýt, bụi bạc hà, bụi xả, bụi hẹ cho đến những cây nhỏ như húng lủi, ngò gai...Nếu không nhọc nhằn đổ mồ hôi, chịu nắng chịu cực mà chỉ nằm đu đưa võng thì mong chi được ngắm nhìn hoa trái mỗi ngày, thêm rau quả tươi ngon cho những bữa ăn...

Em thấy chưa! Phải bắt tay vào em mới biết cái gì xấu không cần, phải bỏ. Cách nào để mỗi ngày nhìn thấy đẹp hơn. Thấy mình là chủ mảnh đất mình đang ở, đúng không? Nghe xong chợt thấy ngậm ngùi. Phải chi “ngày đó chúng mình”- hết thảy anh em, cha chú của mình biết cách giữ gìn cho khu vườn Việt Nam đẹp mãi, còn hoài theo với thời gian. Bây giờ, chỉ còn biết ước mơ thôi. Ưóc gì dân mình đừng vô tri như cành cây bị uốn cong queo. Bị hết dần sinh lực chờ ngày héo khô rồi chết. Đã là con người thì phải có ước mơ. Khi mơ ước một cuộc sống tốt đẹp thì phải ra tay dọn dẹp từ trong ra ngoài thay vì tuyệt vọng, ngồi nhìn chờ ngày nước mất, nhà tan. Nguyền rũa, oán than chỉ làm mệt mỏi, tiêu hao sinh lực. Đất nước người ta giàu đẹp do họ tận tâm, tận lực hướng về điều tốt đẹp và thực hiện cho bằng được.
Hôm nay có hai trẻ bạc đầu quên làm vườn lo nghĩ chuyện bên nhà. Chúng mình đã nhìn ra những gì cần nhổ sạch, vứt đi. Bên Việt Nam cũng ngày càng có nhiều người, nhận biết đâu là ngưồn gốc tạo nên thảm cảnh khiến dân Việt ngập chìm trong đau khổ. Từ nhận biết cho đến khi tình yêu quê hương lớn mạnh hơn nỗi sợ, biết có còn đủ thời gian.

Những người đồng hành của anh, của tôi, của em đang ở nơi đâu? Chúng mình có còn đủ thời gian, trước khi nước Việt Nam trở thành Tây Tạng thứ hai như đã thấy?

Thảo Ly



Friday, July 15, 2016

Một ngày với Trang Lê




Thứ Ba,
-Chị ơi! Ba má nuôi em vừa tới nhà thăm nên em không xuống Houston.
-Không sao! Em vui với gia đình, hẹn dịp khác mình sẽ gặp.

Thứ Tư,
-Chị ơi, Bây giờ em trên đường xuống Houston. Sẽ gọi cho chị biết chỗ để chị em mình gặp.

Nơi Trang ở là thủ phủ của tiểu bang Texas. Austin, thành phố thơ mộng, êm đềm với những dốc đồi. Dường như hơi thiếu vắng những tiệm Việt Nam bán thức ăn ngon. Tuần rồi, khi post lên FB câu hỏi ở Houston nơi nào có thức ăn ngon, Trang Lê nhận không biết bao nhiêu câu trả lời quá đổi nhiệt tình, kể cả lời mời “Bà ngoại xì tin” đi ăn tối, ăn trưa. Tôi có lẽ “chậm tay” hơn anh Hoàng, nên được hẹn gặp Trang ở nhà hàng Tân Tân lúc hơn hai giờ. Tuy chưa gặp bao giờ, vừa bước vào bên trong tôi đã nhận ra em đang ngồi chung với ba mẹ nuôi, con gái nhỏ Pha Lê cùng bạn cháu và hai người đàn ông nữa. Khi Trang giới thiệu, nhìn Khoa, tôi thấy quen quen. Khuôn mặt hiền, cách nói chuyện cũng hiền. Thì ra Khoa là “người tình hụt” của Trang 17 năm về trước. “Chàng” bây giờ làm tài xế chở ba má nuôi của Trang lên Austin và tiếp tục đón đưa mẹ con Trang đi Houston rồi về lại trong ngày. Trang kể, khi nói chuyện phone Trang gọi người năm cũ bằng em, xưng chị ngon ơ! Chàng tá hỏa kêu trời khi họ nhận ra nhau. Thì ra chàng ái mộ “Bà ngoại xì tin”, thường gởi video share với mọi người. Đâu ngờ “bà ngoại” chính là ngưòi năm ấy. Chắc để gở lại chuyện ái mộ thầm bà ngoại, tôi nghe Khoa gọi “bé Trang” khi hai người nói chuyện với nhau.

Trang Lê ở ngoài vừa đẹp xinh vừa nhỏ bé, trẻ trung. Em thân thiện, dễ mến chứ không “ngầu” như khi dạy dỗ, la mắng đám bạo quyền ở bên nhà. Vừa nói chuyện Trang vừa gắp thức ăn vô chén cho tôi. Cháu Pha Lê, con gái của em phụng phịu với món bột chiên và lẫu vì chỉ muốn ăn...hột vịt lộn mà thôi. Cha nuôi của Trang đã được giới thiệu trên FB, là thi sĩ Thiên Hà, tác giả bài thơ Nhớ nhau hoài, được phổ nhạc thành bài hát một thời ưa chuộng. Chú Thiên Hà dễ mến cùng vui tính. Nhờ em Trang mà chúng tôi có duyên gặp và được chú ký tặng tập thơ “101 bài thơ tình trên tờ lịch cũ”. Như một cái duyên thật ngẫu nhiên, chú Thiên Hà chọn đọc cho mọi ngưòi nghe bài thơ Đêm trên tuyến lửa xưa, khi cả nhóm ghé thăm, hàn huyên cùng dân biểu Hubert Võ. Chú hỏi ở đây có ai biết về chiến trận năm xưa ở An Lộc, Bình Long. Tôi cười. dạ cháu là người ra đời ở An Lộc và có mặt trong mùa hè đỏ lửa. Anh Hubert Võ thêm câu hỏi năm đó tôi được bao nhiêu tuổi. Tôi thật sự ngấm lời thơ của Thiên Hà, như thuở 13,14 đã từng hát say mê bài Nhớ nhau hoài trong lớp học ngày xưa ở Bình Long.



Ngồi bên Trang nói chuyện tâm tình, tôi thêm thán phục người con gái thông minh, nhiều nghị lực cùng trái tim chung nhịp đập với đồng bào đang trầm luân, thống khổ ở quê nhà. Em đi làm một tuần lễ sáu ngày và không nghỉ cuối tuần. Những video em post thường là thứ Ba, ngày nghỉ duy nhất của em. Mười năm theo chồng đến xứ người, em không có người thân ruột thịt ở đây. Làm việc nhiều giờ thêm làm vợ và làm mẹ, em và gia đình đã hy sinh hạnh phúc riêng để dành thời giờ cho những video clip được cả trăm ngàn người say mê theo dõi, không phân biệt tuổi tác, thành phần ở hải ngoại lẫn bên nhà. Em xóa tan thắc mắc của tôi khi cho biết em tự biên soạn nội dung vì thích độc lập, không lệ thuộc vào bất kỳ ai. Tôi băn khoăn. Muốn thực hiện với nội dung mang tính thời sự nóng bỏng ở VN, em phải cập nhật, phân tích và trình bày quan điểm....Làm sao với thời giờ eo hẹp của em? Trang cười. Em sống với họ lâu nên đủ hiểu, biết mình phải làm gì thay cho tiếng nói của những người ở bên nhà. 

-Em bắt đầu làm video từ bao giờ? 
-Từ lúc nhạc sĩ Việt Khang bị bắt bỏ tù chỉ vì hai nhạc phẩm Anh là ai và Việt nam tôi đâu. 

Em chửi đảng và nhà cầm quyền CSVN “bạo” như vậy, bên cạnh hàng ngàn người ái mộ, em có bị quấy nhiễu gì không từ phía bên kia? Trang lại cười. Em chửi mạnh mà không tục. Đám CS gởi lại cho em toàn lời tục tỉu kèm hình ảnh vô cùng dơ bẩn. Họ chỉ có khả năng làm được chuyện bẩn vậy thôi. Tôi hiểu, không phải chỉ có thế. Những người tranh đấu cho một VN tự do, cho nhân quyền hoặc ngay cả chỉ đơn thuần ủng hộ tinh thần dù bên này hay bên nhà, thường nhận biết rõ ràng ai là kẻ đồng hành. Những ai không cùng nhìn về một hướng sẽ tránh xa mình. Ngay cả một cái nhấn chữ “like” họ cũng sợ hãi như là tang chứng. Tôi đã nghe từ vài người trẻ ở bên đó, bên này cho biết. Em unfriend cũng nhiều vì có giữ lại cũng chỉ thêm chật chỗ mà thôi.

Rời Tân Tân, mọi người giữ chúng tôi lại chưa cho từ giả. Anh Hoàng là thổ địa Houston đề nghị đưa mẹ con Trang và cô chú Thiên Hà qua chụp hình ở Tượng Đài chiến sĩ VNCH, sau đó ghé qua văn phòng của dân biểu Hubert Võ. Thương hai đứa bé Pha Lê và bạn chịu chung nắng nóng Houston, còn thêm tức tửi vì mẹ cho mua chuột bạch, ôm trên tay rồi mà phải bỏ lại Lý do là họ không có bán chiếc lồng nhỏ nào để vừa trong xe mang về Austin. Hy vọng lần sau đến Houston con gái sẽ được toại nguyện ha!

Cảm ơn Trang Lê với chuyến đi về trong ngày đã cho chị cơ hội gặp, được chia với em những khoảnh khắc khó quên. Tình yêu quê hương vẫn đầy ắp trong con tim người xa xứ bên này. Càng ngày càng có nhiều người con gái Việt Nam không thể ngồi yên trước hoạ diệt vong. Mỗi người một cách để nói lên tiếng nói của tự do. Với tôi, em là anh thư nước Việt. Em đã chọn cách đối thoại vô cùng đặc biệt, gần gủi với đời thường, với những con người chịu nhiều ẩn ức, oan khiên. Mang đến cho họ niềm an ủi đuợc sẻ chia, đồng thời lại là bản án dành cho kẻ thống trị ác hèn, gây bao tang tóc, đau thương cho đồng loại.


 Thảo Ly

Sunday, June 19, 2016

Tình Cha



Sau ngày cha mất, lũ con chợt khám phá ra tình mẹ dành cho cha quá đậm. Như cây cổ thụ xum xuê một ngày bật gốc, để lại người nép bóng phận đời chới với. Mẹ từng ngày đưa tay quơ tìm giữa khoảng không còn lại.

"Má bầy trẻ" và "ba thằng Đường" là cách xưng hô hằng ngày của hai người mà đàn con mười đứa vẫn  nghe. Có lần giữa bữa ăn, em gái út tinh nghịch hỏi. Hồi mới gặp, ba má gọi nhau bằng gì? Có bao giờ anh em với nhau không? Rồi khi mới cưới, chưa có con để trở thành má bầy trẻ hay ba thằng Đường, thì gọi bằng gì? Anh em tôi bật cười, và câu hỏi vẫn còn là nỗi thắc mắc - ít ra với em tôi. Mẹ tôi giải thích, mà như không giải thích được gì. Chưa cưới về đã bao giờ gặp nhau đâu mà nói chuyện, xưng hô. Bé út la lên. Trời ơi! Không ai bạo gan như Má, dám lấy người chỉ nhìn loáng thoáng đôi lần. Không nói chuyện, không biết người ta ra sao mà gởi phận trao duyên. Mẹ cười, thì phước ai nấy hưởng, vậy thôi. Có gặp, có hiểu, có tìm thì cũng lầm cũng lẫn như thường. Các con bây giờ tự do chọn lựa, mà nhiều cuộc hôn nhân có đi đến nơi về đến chốn đâu!

Gia đình bên nội tôi khá giả để cha tôi có cơ hội được học chữ quốc ngữ cùng chữ nho, có thầy đến dạy tại nhà. Nhưng dường như ông không được hưởng sự hồn nhiên của tuổi thơ. Nhìn cảnh nhà trên đà phá sản vì sự vung tay quá trớn của ông tôi, đứa con trai còn lại duy nhất là cha sớm nhận biết những ngày sắp tới là tương lai mù tối. Có lẽ nghĩ mình không thể chôn cuộc đời nơi ruộng đồng trơ trọi ở quê nghèo, cha tôi lặng lẽ theo đoàn người trong nhóm mộ phu trốn vào Nam. Vùng trời thăm thẳm, xa xôi chưa biết là đâu. Chỉ nghe người ta nói nơi đó đất trời êm dịu, hiền hòa. Khí hậu không khắc nghiệt, đất đai trừu phú và lòng người thì rộng mở.

Giã từ quê nội Thái Bình, chưa đầy 15 tuổi cha tôi trở thành ngưòi phu đồn điền nhỏ tuổi xuôi Nam, mang ý chí đổi thay cuộc sống dù chưa bao giờ nếm mùi của nhọc nhằn. Khi những rừng cao su bạt ngàn lớn vội, cũng là khi cha đủ ngấm sâu nỗi tủi cực từng ngày cùng những phận đời lưu lạc quanh mình. Cha không còn e ngại, len lỏi tách mình ra khỏi những giòng nhựa trắng, chảy từ thân cây có hòa chung nước mắt, mồ hôi của đám người tha phương. Ông xin vào học nghề thợ máy ở một ga ra sửa xe nơi tỉnh nhỏ. Học nghề không phải tới trường, không đóng học phí nên phải đổi lại bằng muôn ngàn cay đắng. Được chủ nuôi cơm và sai vặt ngày đêm, từ chuyện có liên quan tới nghề cho tới chuyện của tên đầy tớ, kèm theo những mắng chưởi không ngừng. Đôi khi được kèm theo bằng những cái tát tai, những cú đấm vô lý trong cơn giận dữ. Cho tới khi cha tôi làm có chút tiền lương và có dịp xuôi ngược tới vùng quê nghèo bên ngoại. Tính thâm trầm, điềm đạm thêm ảnh huởng của nho gia nên cho dù nét mặt hơi khắc khổ, cha vẫn mang dáng vẽ đặc biệt trong đám người chân lấm, tay bùn. Khi nghe chị em tôi ca cẩm, cha độc tài, vô lý gì đâu khi nghiêm cấm lũ con hát xướng đàn ca. Anh chị tôi thường phải trốn sang nhà hàng xóm khi thèm ca hát. Mẹ tôi cười cười, tiết lộ điều này. Hồi đó ông cũng đờn ca tài tử như ai. Dân Bắc kỳ mà đờn vọng cổ thiệt mùi, đến nỗi chinh phục được luôn người đẹp. Tưởng là có kết cuộc vui. Ai dè nhà gái hồi hôn vì chê ông phiêu bạt nghèo nàn, không xứng với người ta. Từ đó ông quăng đàn không ca hát nữa.

Tôi không ngạc nhiên khi nghe chuyện kể không thứ tự, về cuộc đời của cha tôi những lúc mẹ vui. Thừa hưởng từ cha tính nhẫn nhịn, siêng năng, chừng mực, có pha chút dí dõm, nên dù có hay không dáng dấp, phong lưu các anh em trai của tôi dường như thường thu phục cảm tình của người khác phái dễ dàng. Phải nói cha tôi là một người đàn ông chẳng đẹp trai. Lại là người đàn ông "Bắc kỳ" duy nhất trôi giạt về vùng quê ngoại. Trong khi mẹ tôi là con nhà nghèo nhưng được bao người, theo đuổi ước mơ vì đức hạnh và dịu dàng, xinh xắn. Khi cha hỏi cưới mẹ, đã nhờ người mà mẹ tôi từ chối làm dâu đứng ra đại diện nhà trai. Bà nhận lời nhưng xa xót thở than. Tưởng con dâu của mình, ai ngờ giờ lại đứng ra hỏi cưới về làm dâu người khác. Nghe chuyện hấp dẫn, ly kỳ chị em tôi hỏi tới thêm. Bà mẹ có vẻ là người nhân hậu. Còn ông đó là ai? Lý do nào người ta đi dạm má lại chối từ? Mẹ tôi bùi ngùi. Ngày xưa hai gia đình có hứa hôn. Ông là công tử con nhà giàu, đi học ở Saigon. Cứ 3 tháng hè về quê, mặc bộ pyjama, xách cây đờn lủi thủi đi theo sau những buổi má gánh hàng đi bán. Bán ế trở về ông chận đường nài nỉ đòi mua cho bằng hết. Má thấy người ta giàu lại học hành cao. Mình nghèo quá không chữ nghĩa làm sao xứng, nên từ chối. Má lấy chồng, làng quê có tiếng xì xào. Đúng là già kén, chẹn hom. Chê làm dâu nhà giàu, tưởng lấy ai, hoá ra là tên Bắc kỳ nghèo xơ xác.

Người mẹ nhân từ, đức độ thuở xưa, đã trở thành “bà nội” của anh em tôi khi nối lại liên lạc sau này. Cậu công tử nhà giàu thương mẹ ngày xưa đã lập gia đình và đem người mẹ về phụng dưỡng ở Saigon. Bà mẹ ấy đã thuyết phục ba mẹ tôi đưa anh trai lớn của tôi về Saigon học trường lớn cùng kết làm anh em với cháu nội của bà. Anh trai tôi được thương yêu, nuông chiều như cậu ấm con nhà giàu, nên lơ là chuyện học hành. Vài năm sau anh bị cha tôi triệu hồi về mái nhà xưa. Ngày "bà nội" qua đời, cũng như ngày người cha không duyên nợ với mẹ tôi vĩnh viễn ra đi, ba mẹ tôi từ tỉnh nhỏ về Saigon đưa tiển như tiển đưa một người thân. Khi đủ tuổi để hiểu rõ về sự liên hệ giữa ba mẹ tôi với người bà nội nhân từ, thương từ mẹ tôi cho tới ba tôi và luôn cả đàn con. Mối tình si ngày cũ biến thành tình thương bất diệt, chỉ biết cho đi cho đến cuối cuộc đời thôi. Anh em tôi vừa cảm phục, vừa biết mình có phước nhiều. Chợt nhận ra tình của người xưa cao cả quá.

Bình Dương, Bình Long, Dầu Tiếng, Saigon, Rừng Lá, Gia Rây, Định Quán…là những nơi chốn dừng chân của gia đình. Khác với nhiều người hay bám đất, bám quê khi nhận thấy cần thay đổi cha tôi không ngần ngại. Nơi dừng chân lâu nhất của cha, có lẽ là miền  cao su đât đỏ Bình Long. Nửa đàn con còn lại của ba mẹ tôi đã chào đời ở nơi này. Cũng ở đây cha tôi tạo nên sự nghiệp và phủi tay gởi lại như chưa từng đến và đi. Tuy nhiên những tháng năm êm đềm nơi tỉnh lỵ hiền hoà, đã để lại dấu ấn sâu đậm chuyển đổi đời sống tâm linh của cha tôi.

Khi cha tôi có khả năng bảo bọc người thân, thì đường về đã bị ngăn chia hai miền Nam Bắc. Đau xót ngập lòng ngày cha nhận tấm bưu thiếp từ quê nhà. Bà tôi mất trong nạn đói năm Ất dậu. Ông tôi kéo lê chuỗi ngày tàn trong khó nghèo không nguời thân ruột thịt ở cạnh bên, may nhờ có họ hàng chăm sóc lúc cuối đời. Dù có thể ngồi nhà điều hành công việc kinh doanh với mẹ tôi, đồng thời coi sóc được những chiếc xe hàng và xe chở khách có thuê tài xế, nhưng cha tôi vẫn miệt mài làm việc không ngừng. Ông như sợ phải đối diện với những giờ phút thảnh thơi, nhàn rỗi. Dù cực nhọc, dù hằng ngày phải giao tiếp với đủ hạng người dung tục, nhưng trước sau cha tôi vẫn là người lặng lẽ, thâm trầm trong thế giới của riêng mình. Ông kể thuở còn ở Saigon, những buổi trưa mướn ghế bố nằm nghỉ chờ đến chuyến của mình, từ phòng bên cạnh là tiếng kêu dọc tẩu của những bàn đèn thuốc phiện mà dân ghiền lui tới mỗi ngày. Trên vách, những con thằn lằn kéo ra hít khói vì hình như chúng cũng nghiện theo, trong khi cha tôi thản nhiên nằm đếm thời gian. Sòng bạc là nơi ông xa lánh, bởi nỗi đau thầm lặng ngày xua, chưa kịp lớn đã chứng kiến điều bi thảm mà lẽ ra không xãy tới, nếu như ông tôi không có máu đỏ đen, bán hết gia sản ông cha để lại. Cha tôi dạy con rất đỗi nghiêm. Không chấp nhận bất cứ lời nói khiếm nhã nào, sẽ phạt rất nặng chẳng chừa ai, nếu như một trong mười anh em tôi phạm lỗi. Không muốn bất cứ đứa con trai nào bén mãng đến gần những lá bài, dù chỉ là trò chơi trẻ nhỏ, đặt bằng những cọng dây thun hay bao thuốc lá không.

Căn nhà mới cất nằm trên con dốc, có ngôi tịnh xá thật gần. Hình ảnh những vị sư đầu đội trần, chân đạp đất xếp hàng dài đi khất thực trong ánh nắng như thiêu đốt trên con đường nhựa, đã làm cha tôi xúc động, bồi hồi. Từ đó luật lệ dành cho anh em tôi bỗng như thắt chặt thêm, sau khi cha tôi tìm đến ngôi tịnh xá tìm hiểu và học Phật từ nơi những vị sư thường lặng lẽ khép mắt bước đi trên những con dốc có nắng vàng, bụi đỏ ngập đầy. Cho mãi đến mấy mươi năm sau tôi mới nhận ra, từ thuở nhỏ anh em tôi đã được cha dạy hạnh nhẫn nhục từ nơi cách sống của ông và áp dụng luôn cho cả đàn con. Không nhìn lỗi người, chỉ ráng thấy lỗi mình. Nhịn mà không thấy nhục vì đó là cách mình chọn để sống với mọi nguời, những người cũng có niềm vui, nỗi khổ như mình, chỉ vì nghiệp quả khác nên hình tướng khác. Còn lại ai ai cũng ước mong được hạnh phúc, bình an. Đã mong hạnh phúc thì đừng bao giờ gieo đau khổ cho ai, dù họ đối với mình có ra sao đi nữa. Anh em tôi đã một thời uất ức tủi buồn. Nghĩ cha bất công, chỉ biết lo cho con đầy đủ ấm no mà thiếu tình thương, bởi quá nghiêm khắc, đòi hỏi con phải làm người lớn khi tuổi còn thơ dại. Chỉ cần người anh nghịch ngợm nhất nhà phạm lỗi, là cả đám anh em bị nằm xếp hàng nhận lãnh những ngọn roi từ một cọng mây. Cha bảo nếu như anh tôi không chơi chung với đám nghịch phá thì hàng xóm không tới phiền hà, dù sự thật lần đó anh không góp mặt. Người ta tức bực những người bao che, bênh vực con hư nên tìm tới cha tôi cho hả dạ, vì biết cha sẽ xử tội anh tôi không cần biết những lời cáo buộc kia có đúng như sự thật hay không. Lần đó, tôi chưa đủ tuổi để lãnh quả chung với anh tôi nên ngơ ngác kêu lên khiến chị tôi điếng hồn luôn. Chị vốn sợ đòn roi nên ráng thật ngoan. Vậy mà vẫn bị cha tôi ra lệnh tất cả chịu đòn chung như luật lệ đã ra. Chị cuống quýt tuột ngồi thụp xuống cạnh bên chiếc đi văng. Chụp cái giỏ đi chợ của mẹ treo gần đó lên đầu mong cho cha tôi không để ý. Sau lần đó, cha tôi tội nghiệp, đã tha không bắt lũ con gái chịu đòn chung .

Còn rất nhỏ đã được huấn luyện thật nghiêm như trong quân đội, cho nên tính ra anh em tôi ít bị đòn roi. Người nào cũng lo giữ thân mình, cũng chính là giữ gìn cho người vô tội khác trong nhà. Phải có đàn con đông, phải gánh oằn vai trách nhiệm vật chất lẫn tinh thần và luyện rèn đạo đức cho con, mới thấu hiểu tấm lòng của người cha. Bên cạnh việc để mắt uốn nắn và dạy dỗ khắt khe, cha tôi không nói gì về tâm từ, nhưng chúng tôi học hai chữ từ bi, bằng chính cách sống của cha và mẹ mỗi ngày ở trong đời. Cha cho thiếu hoặc không lấy tiền vé xe đò với đám học trò con nhà nghèo đi trọ học xa nhà. Cha đem về cho ngủ qua đêm những người thiếu nữ hoặc đàn bà lỡ đuờng không có người thân. Một trong những người thiếu nữ hoạn nạn đã trở thành con dâu của cha mấy năm sau.  Anh trai tôi vào quân ngủ lâu rồi, không có mặt trong đêm định mệnh. vậy mà duyên nợ buộc vào nhau. Qua đêm tá túc ở nhà tôi, người thiếu nữ trở về miền Tây và tìm gặp anh tôi để trao tay lá thư mẹ kêu tôi viết gởi cho anh.

Mẹ tôi một đôi lần xót dạ, bởi thỉnh thoảng sau đêm tá túc, khách lạ ra đi mang theo quần áo hay một vài món đồ ở trong nhà. Cha tôi nghe phàn nàn chỉ cười trừ. Thì họ lâm cảnh khốn cùng coi như mình bố thí. Cha tôi bắt đầu ăn chay niệm Phật và thỉnh về những bộ kinh để tụng hằng đêm. Căn gác nhỏ trở thành giang san riêng biệt. Mỗi tối và khuya, giờ chuông mõ tụng kinh, trong nhà tôi là một khoảnh vắng im. Tiếng nói chuyện thì thào. Radio, tivi tắt hẳn tưởng như không có âm thanh nào trong căn nhà rất nhiều người. Có lẽ không chịu nỗi không khí u trầm tĩnh lặng, nên những chị hai giúp việc sau một thời gian lặng lẽ rút lui với cùng một lý do. Ở đây buồn quá, dù con được đối xử như các em trong nhà, hơn bất cứ nơi nào con đã vào làm. Mẹ tôi cực nhọc nhiều hơn mỗi lúc "mất" chị hai. Tôi với chị lớn thay thế giặt thau quần áo của cả nhà, giặt luôn quần áo  người giúp việc của cha tôi. Anh em tôi được dạy tính không phân biệt, mà không hề biết đó là hành trang quý giá của cha trao. Hai đấng sinh thành vẫn đều đặn đón tiếp và lưu lại vô thời hạn những người bà con xa gần nơi quê ngoại, tới ở chơi hay chữa bệnh dài ngày. Khi về ai cũng có quà là bánh trái, thuốc men kèm với ít tiền làm lộ phí.

Phần thưởng của cha tôi chính là niềm vui nhận từ nhiều người xa lạ bên ngoài. Họ cảm ơn cha tôi đã sinh một người con tử tế, hiền lương. Người anh phụ trách về an ninh trong quận lỵ, thường xuyên tiếp xúc với những người có liên lạc với phía bên kia, bởi người thân của họ theo việt cộng. Cảm thông với kẻ ở giữa hai lằn đạn, anh sẵn lòng giúp đỡ mọi điều. Mua giúp dụng cụ cá nhân trong lúc tạm giam. Nhắn tin cho gia đình biết để không lo lắng, kể luôn tiền để đi xe về nhà lúc được thả ra…Một trong những “chị hai” của nhà tôi là người thường bị mời lên để điều tra. Chị sống ở vùng xôi đậu, có chồng theo vc từ lâu. Cảm thông nỗi sợ hãi thường xuyên của chị, anh tôi bảo lãnh cho chị về giúp việc ăn lương của mẹ tôi. Một ngày chị hốt hoảng gần ngất xiũ, khi nhìn thấy đôi dép râu ở cửa sau. Rồi nhanh tay chị lấy đôi dép đem chôn xuống đất. Cho đến khi anh tôi tìm không thấy nên hỏi chị. Thì ra chị hai hoảng sợ, ngỡ người chồng vc mò về để đôi dép sau nhà. Đâu biết rằng anh tôi đang ‘có khách” là vc, đêm rồi đã cắt kẻm gai đột nhập vào quận ly. Anh bỏ giày lại ở văn phòng, xỏ đôi dép râu chiến lợi phẩm đi về nhà cho mát bàn chân!

Không tranh cãi hơn thua, cho rằng mình đúng người sai. Không để mắt vào chuyện người khác và lặng lẽ rút lui khi người gây hấn. Đám anh em tôi đã đi vào đời bằng những bước nhẹ nhàng. Một đôi khi người anh hiền nhất thở than. Sống chân thật, nhường nhịn không hơn thua với bất cứ ai, đôi khi mình giống như ngu khờ dưới mắt mọi người. Tôi an ủi anh tôi. Khờ mà ăn ngon, ngủ yên. Thêm bạn, bớt thù cũng hạnh phúc rồi. Hãy nói cho em nghe, xưa nay anh có kẻ thù không? Anh tôi cười hiền, bởi thừa hiểu những gì nhận được qua cách sống của cha tôi. Không cần nói bằng lời, vẫn làm cho người giao tiếp thân cận cảm nhận sự tin tưởng, bình an. Anh có thêm nhiều những người anh, người chị trong đời bên cạnh gia đình vốn lớn sẵn rồi. Đó là những người khách hàng, cảm mến và mở rộng vòng tay đón nhận anh như một người thân.

Tôi nhớ thời trung học ở Saigon, có nhiều buổi sáng trước sân trường tôi bỗng dưng ao ước tình cha. Hình ảnh cô bạn học ngồi vòng tay ôm người cha trên chiếc vespa, ngó sao ngọt ngào, đầm ấm, dễ thương. Xe dừng lại trước cổng trường. Cô nhỏ bước xuống ôm vai cha và nhận lại gói quà sáng người cha đặt vào tay con gái, xiết nhẹ và ân cần dặn nhỏ điều gì. Tôi thường được Tuyết Dung bạn tôi chia chung quà sáng của cha. Là chiếc bánh bao còn nóng, hoặc gói xôi, khúc bánh mì.... mua đâu đó trên đường chở con đi học. Một lần, tôi đến nhà Dung. Hết sức ngạc nhiên khi nhìn thấy bạn tôi- cô tiểu thư xinh đẹp, hiền ngoan và học giỏi đang trãi tình thương cho lũ heo con. Căn nhà ở ngoại ô thành phố với khu vườn cây ăn trái, đất rộng mênh mông, phía sau còn có một chuồng heo. Nhìn bạn tôi vừa tắm cho lũ heo con, vừa nâng niu đùa giỡn như đang chơi đùa với lũ em thơ. Tôi nhận ra những gì Dung đón nhận từ cha, cô đem chia lại cho đàn heo mọi đen thui, bé bỏng. Chợt biết, mình hay khao khát được thương yêu nhưng dường như quá ích kỷ. Chỉ mong đón nhận hơn là cho ra những gì mình có thể, dù đó là thứ càng cho đi, càng thấy giàu thêm. Những bài học từ bi cha tôi một đời không ngừng dạy bằng ngay cách sống của người. Vậy mà tôi cứ thấy cha là cha và tôi là tôi, cho nên vẫn luôn thầm khao khát tình cha.
Cha tôi ra đi đã 4 năm. Mẹ tôi vẫn hụt hẫng sau khi đã nép bóng bên người 61 năm dài. Riêng tôi luôn cảm nhận cha hiện diện mọi lúc mọi nơi, quanh tôi. Cha ở trên khuôn mặt chị tôi với những vết đồi mồi. Cha ở trên vầng trán cao cương nghị, trong giọng nói hiền ấm của những người anh. Cha ở trong tình thương mà mẹ tôi tiếp tục trải dài từ quê hương mới bên này tới quê hương bên kia. Từ ngôi chùa lớn cho tới mái lá nghèo nuôi trẻ mồ côi ở Việt Nam. Cha còn mãi qua lời an ủi, trong những giờ phút sau cùng tôi quanh quẩn cạnh cha ở nhà thương. Con ơi, không phải chỉ người dư giả, giàu sang mới có cơ hội bố thí, cúng dường. Nếu biết cho ra không suy tính đắn đo những gì đang có sẵn nơi con, là tình thương và sự hiểu biết, thì hạnh phúc của người cũng là hạnh phúc của con.

Gia tài cha để lại, không thấy gì nhưng trùm khắp quanh đây, chở che từng bước. Vậy mà ngày xưa tôi đã ngây ngô ao ước tình cha.

Qùynh My

Sunday, May 29, 2016

Từng ngày qua đi...

 
Không biết bao lâu rồi, thú vui ra vườn ngắm nhìn từng chiếc lá, nụ hoa đã bị bỏ quên. Chỗ ngồi trước hiên bên cụm hoa vàng; trên chiếc ghế sau vườn cạnh bụi hoa màu tím và cả chỗ nằm nghe chim hót, ngắm chiều tà không còn nữa.

Dường như tất cả bắt đầu thay đổi, từ khi cá chết, dân miền Trung thêm khốn khó, lầm than. Từ khi lo lắng bồn chồn theo những bước chân rầm rập xuống đường. Từ khi nhìn cảnh máu đổ, người đánh đập người tàn bạo hơn bao giờ, chỉ vì câu hỏi hết sức bình thường: Vì sao cá chế?. Từ khi nghe tin những người con gái Việt Nam ở bên này đã lên đường, trở về đất mẹ mồi đốm lửa cho ánh sáng tự do bùng cháy. Rồi các em mất tích...Nancy Nguyễn bị bắt từ Saigon đã trở về. Còn Mã Tiểu Linh vẫn chưa có tin em.

Niềm vui vừa nhen nhúm đã lụi tàn. Hàng vạn bước chân xuống đường ở Saigon, Hà nội, miền trung, có lẽ nào như đứa bé mới tập đi. Loạng choạng ngã xuống rồi không đứng dậy. Chút ánh sáng dân chủ vừa le lói, chợt tắt theo những bàn chân lui vào bóng tối ẩn mình. Những người cất cao tiếng nói tự do không sợ bắt bớ tù đày, chỉ sợ cô đơn vì thiếu đồng hành bên cạnh. Trãi lòng theo những đứa con yêu của mẹ Việt Nam, đã từ bỏ hạnh phúc đời thường để đổi lấy sự tra tấn, nhục hình từ thể xác đến tinh thần, chỉ vì quá yêu thương dân tộc, quê hương. Có những giọt nước mắt âm thầm chảy xuống trong khi làm việc. Cảm nghe ướt gối, mặn môi những đêm khuya, khi nghĩ tới Trần Huỳnh Duy Thức. Có cách gì để giữ lại anh- vị bồ tát giữa đời vì tình yêu thương nhân loại sẵn sàng cho đi cuộc sống.

Ngày tháng êm đềm ở nơi này đã hết êm đềm, dẫu lòng thêm ấm khi âm thầm nhận vào đời sống nhiều khuôn mặt mới. Những người anh, người chị, người em ở bên này mà lòng gởi tận bên nhà. Những đứa em có trái tim nồng ấm, thiết tha quên tuổi thanh xuân dẫm lên gai góc mà đi. Những người mẹ trẻ, cách này hay cách khác không ngừng làm đẹp cuộc đời. Bằng tiếng nói cất cao không sợ hãi đòn thù. Bằng đôi vai ghé xuống, sớt chia cơm áo cho những cảnh đời bất hạnh dẫy đầy quanh cuộc sống....

Nguyễn Ngọc Như Huỳnh, Phạm Thanh Nghiên, Lâm Ngân Mai, Hoàng Mỹ Uyên, Hồng Thái Hoàng....Những cái tên đã trở nên gần gủi mỗi ngày quanh cuộc sống bây giờ. Các em là ngọn đuốc, những ngọn đuốc riêng lẻ, lạc loài giữa biển người cùng cảnh ngộ nhưng không cùng tri thức.

Nguyện cầu cho Mẹ Việt Nam có đàn con biết thương yêu dân tộc, quê hương. Cùng chung vai góp sức xây dựng ngôi nhà của tiền nhân để lại trước khi quá muộn. 
 
 
 Quỳnh My

Monday, May 23, 2016

Sinh nhật Dì

Hôm nay là ngày sinh nhật lần thứ 81 của dì- người em gái duy nhất của mẹ còn sót lại và là người có khuôn mặt giống mẹ nhiều.

Ông bà ngoại có sáu người con, bốn gái hai trai. Nghe mẹ kể bà ngoại là người xinh đẹp, đảm đang, đã tận tụy với nhà chồng cho đến lúc lìa đời. Bà ngoại làm nhiều thứ bánh cho mẹ đem đi bán. Ngoại nhọc nhằn, mẹ cũng nhọc nhằn. Đôi quang gánh trĩu nặng trên vai, mẹ rời nhà khi trời chưa rạng sáng bên nhiều nỗi sợ vây quanh. Người thiếu nữ đẹp mặn mà thuở ấy, sợ bóng tối, sợ ma, sợ cả người khi một mình rão bước trên đường làng lúc trở về, vì có nhiều trai làng đi theo trêu ghẹo, cho dẫu họ không ngần ngại mua hết bánh trong những ngày mẹ bán ế trở về. Khi bán hết hàng, niềm vui của mẹ không bao giờ trọn vẹn, bởi số tiền lời chỉ đủ cho bữa ăn vô cùng đạm bạc. Mẹ lết thết rời phiên chợ làng với những giọt nước mắt nuốt vào trong khi nghĩ đến bà ngoại bệnh quanh năm bởi lao lực, lao tâm, chưa bao giờ được nếm những món ăn đủ đầy dinh dưỡng.

Mẹ đi lấy chồng năm mười chín tuổi. Hai mươi tuổi mẹ sinh đứa con đầu lòng cũng là lúc ngoại lìa đời. Trong đàn em nhỏ mồ côi của mẹ, có cậu dì còn hớn hở, mừng vui khi được thay áo mới thọ tang cho ngoại. Hơn bốn mươi tuổi bà ngoại mất chỉ vì bệnh không có tiền chạy chữa thuốc thang. Mẹ mang nỗi đau bởi bất lực, chưa làm gì để đáp đền. Nghe người lớn nói bà ngoại chưa siêu thoát, hay trở về bên đàn con dại mồ côi. Mẹ nhiều đêm ngồi trong bóng tối, trong căn buồng chỗ của ngoại nằm, quơ tay tìm giữa khoảng không, ao ước một lần được chạm vào bà ngoại.

Rồi một ngày tin dữ đưa về. Ông ngoại và người em trai kế của mẹ bị chặt đầu quăng xác xuống sông, vì tham gia phong trào chống pháp. Nhờ người lặn xuống sông tìm xác, mẹ đợi đêm về cùng người bà con bó xác ông ngoại và xác cậu, hai người gánh hai đầu, lén lút mang về chôn cất lặng thầm. Cũng vì lòng căm phẫn giặc Tây mà người em trai ông ngoại bỏ nhà theo kháng chiến. Lòng yêu nước bị phản bội, đã cầm chân ông ở lại đất bắc cho đến năm 1975. Đàn em của mẹ chia hai. Hai người em gái về ở với ông bà cố, cậu út và dì theo về cùng mẹ. Mười mấy tuổi dì theo cha ra ngoài kiếm sống. Có lần sau cuộc giao tranh giữa rừng cao su của hai bên, cha hốt hoảng đi tìm. Dì nằm bất động bên nhiều xác chết, chiếc nón lá phũ lên khuôn mặt. Cha đau đớn không cầm nước mắt, nghĩ cách làm sao mang xác đứa em về. Cùng lúc dì bật dậy mừng rỡ kể. Em đã giả bộ chết để qua mắt họ.




Rồi dì đi lấy chồng. Ba mẹ gả dì cho người đàn ông từ bắc trốn vào nam giống như cha. Sau những tháng năm lận đận trong nghèo khó, cha mẹ rời Sài gòn về sống nơi tỉnh nhỏ như chạy trốn nỗi buồn khi người anh trai mười tuổi chết vì bệnh thương hàn. Những ngày cơ cực qua đi. Cha tạo nên cơ nghiệp nơi đất lành chim đậu. Thừa hưởng tính đảm đang từ ngoại, dì lấy chồng về sống ở Saigon, vừa tròn bổn phận làm dâu vừa buôn bán tại nhà phụ nuôi một đàn con. Thỉnh thoảng dì bỏ hết để đi thăm ba mẹ. Căn nhà mỗi lúc có dì tràn ngập niềm vui. Ngoài quà bánh mua từ thành phố, là tình thương dành cho lũ cháu đong đầy. 

Mẹ với các dì xuất thân là thôn nữ nhà nghèo, nhưng có gương mặt tỏa sáng và thanh thoát. Cách đi đứng, nói cười rất đổi khoan thai. Đám cháu đôi khi đã ngẩn ngơ, khi lặng ngắm dì mồi lửa châm thuốc hút. Dì cười hiền rồi phân trần. Tại hồi nhỏ đi chăn trâu cả ngày đâu biết làm gì. Nhà ngoại trồng thuốc rê, bắt chước mọi người hút thử dì ghiền lúc nào không biết. Mẹ cũng chăn trâu khi còn bé và may thay không hút thuốc như hai người em gái. Kỷ niệm chăn trâu của mẹ là không nhận ra con trâu nào của nhà mình. Người bà con của mẹ ham chơi, đã biết cách làm cho mẹ trông nom trâu người mà tưởng trâu mình cho đến lúc chiều về.

Nhờ dì bươn chải nên tuy làm công chức, dì chú đã xây thêm một căn nhà thuộc quận Nhà Bè. Sau mùa hè đỏ lửa 72, ba mẹ bắt đầu lại bằng hai bàn tay trắng. Đàn con 10 đứa giờ chia tứ tán. Người ở lại chiến trường An Lộc, người đóng bên giòng sông Thạch Hãn năm xưa. Một người anh lên đại học về Sàigon ở với dì. Thương đám cháu nhỏ, dì chú mời ba mẹ về Saigon ở căn nhà còn bỏ trống. Thêm lần nữa cha cố sức, lo cho đàn con còn lại ấm no. Cuộc sống vừa đi vào an ổn, ngày tang của đất nước ập về năm 1975. Đàn con của ba mẹ giờ thu nhỏ lại. Đứa theo chồng rời nước đã lâu. Đứa xuống tàu làm người di tản. Đứa vượt biên tìm đất sống bình yên. Dì nghèo nhanh vì đồng lương chết đói của chồng, vì mọi người cùng đói rách khó mà buôn bán. Mỗi buổi sáng dì đi đò qua sông sang nhà cũ. Mẹ đợi dì cùng đi chợ với nhau, để mua thêm cho dì đủ nấu một ngày. Thỉnh thoảng mẹ ngồi bên đợi, trả tiền khi dì ăn xong món ăn ưa thích mà lâu rồi không có dịp nấu ở nhà. Mẹ vốn ngại ngần chuyện ăn uống bên ngoài. Thương em nên ngồi đợi em ăn.

Rồi các anh chị bảo lãnh gia đình đi Mỹ. Mẹ ra đi mà lòng gởi lại bên nhà. Người em gái út của mẹ đã mất vì bệnh ung thư, khi khám phá ra thì đã muộn. Dì vẫn tiếp tục cuộc sống khốn khó cho đến khi đứa con gái vượt biển thành công, sang sống cùng ba mẹ bên đây. Sau vài năm, hai chi em may mắn ở cạnh nhau. Dì bây giờ đã ngừng hút thuốc rồi, mỗi ngày các anh thay nhau chở dì sang chăm sóc cho ba mẹ. Với dì, cha là người anh lớn đã bảo bọc từ khi dì là đứa trẻ mồ côi. Dường như nhân duyên đã có tự bao giờ. Đến cuối đời, dì vẫn là người cận kề bên ba mẹ. Dì nấu cháo, rót nước, cạo gió cho anh chị trong những ngày bệnh mà cả đàn con mỗi đứa mỗi sống cuộc đời riêng. Sau khi cha từ giã cuộc đời, đứa em mua miếng đất cạnh chỗ nằm ba mẹ. Rồi mẹ ra đi, chú ra đi. Mai này dì rồi cũng yên nghỉ cạnh bên ba mẹ.

Dì là mẹ còn sót lại trên đường đời đang ngắn lại từng ngày. Sinh nhật dì đám con cháu vây quanh, trong nỗi hạnh phúc còn dì là còn mẹ

 


 Quỳnh My

Sunday, May 15, 2016

Chiều chiều...

“Chiều chiều ra đứng ngỏ sau 
Ngó về quê mẹ ruột đau chín chiều”

Trời mưa. Mưa chiều thứ bảy, mưa qua chiều chủ nhật. Giữa những cơn mưa có chút nắng về. Giữa những bụi hoa khoe màu rực rỡ có nhiều cỏ dại. Buồn không muốn làm gì, bởi “ruột đau chín chiều” không phải từ buổi chiều nay. Nó bắt đầu bần thần, lo lắng rồi đau quặn thắt từ lúc nhìn cảnh máu đổ, người đánh đập người ở quê nhà.

Khổ nhục, lầm than, bơ vơ và quá nhỏ nhoi. Những người con gái bỏ quên thời thiếu nữ, những người mẹ trẻ bỏ quên nỗi sợ hằng đeo đẵng, dường như có từ lúc chào đời để xuống đường. Chỉ xuống đường đi những bước thảnh thơi, để nói lên nguyện vọng chân thành trước thảm họa dồn con người vào chỗ khốn cùng, sắp sữa không còn đất sống. Họ có tội gì đâu mà đón nhận đòn thù, từ những người đàn ông mang tâm địa của loài ác thú đang say máu, được nuôi sống bằng đồng tiền mồ hôi, nước mắt của dân lành. Không phải một lần góp mặt bị đòn thù tra tấn rồi thôi, họ đã có tên trong danh sách của tù nhân không phạm tội. Nhà rồi trở thành tù. Những con đường đi lại mỗi ngày cũng là nơi thảm họa chực chờ ập xuống. Đau nỗi đau chung của mẹ Việt Nam. Nỗi đau của người mẹ, người em, người chị bất lực nhìn người thân bị tước đoạt quyền làm người, bị đối xử tệ hơn loài vật chỉ vì yêu thương dân tộc, quê hương.

Hoa mấy bụi mà cỏ dại nhiều vô kể. Khu vườn sẽ hoang tàn khi nỗi lười, nỗi khổ, nỗi buồn làm thụ động buông trôi. Hai bàn tay thiếu chở che bị cào sướt, bị gai đâm chảy máu. Đôi bao tay làm vườn không được đoái hoài cũng bởi buồn phiền. Chỉ mảnh vườn nho nhỏ, nhưng đã cùng sống với nó thì phải nhọc nhằn. Muốn nó xinh đẹp cho nhiều hoa trái thì càng thêm nhiều công sức. Mới bắt đầu làm vườn đôi khi chán nãn. Kết quả đâu chưa thấy chỉ thấy hao tốn thời gian và tiền bạc mà thôi. Ngày nghỉ bớt đi đây đó, chợt thấy mình trở thành người làm vườn cần mẫn tự bao giờ. Ừ, mảnh đất này mình không chăm sóc thì ai sẽ vào đây? Không nhổ đi gai góc, cỏ dại, trừ sâu bọ thì mong gì có khu vườn đẹp.

Cái xấu, cái ác và những gì không cần thiết cần loại bỏ. Phải bắt tay vào chăm sóc mảnh đất hoang dại, khô cằn nhiều gai góc lâu rồi. Ngôi nhà Việt Nam không của riêng ai. Khi bỏ mặc, thờ ơ, chấp nhận cũng là dung dưỡng cho điều xấu ác, thì những gì tốt đẹp mãi mãi ở xa tầm tay với.

Chiều nay có người khóc cùng mưa. Trong cơn mưa đó vẫn nhìn ra khu vườn đẹp. Đống rác thật to ngày mai sẽ được mang đi. Hai bàn tay đầy vết cào sướt của gai không cảm thấy đau khi nhìn ngắm từng bông hoa khoe sắc. Xin được tặng những bông hoa đẹp nhất cho anh, cho chị, cho em. Cho những người biết yêu thương đất mẹ, đã chăm sóc giữ gìn cho đất biển thôi đau bởi bàn tay tàn phá của ngoại bang.

Nguyện cầu cho những người tôi thương chân cứng đá mềm. Bóng tối sẽ qua, ngày mai trời lại sáng.


                                                            quỳnh my