Sunday, December 18, 2005

tháng cuối của năm

Không mây cũng không nắng. Chỉ màu trắng, mờ bầu trời. Đứa con trai cùng cô bé học chung trường leo lên chuyến bus màu vàng, bỏ lại phía sau đợt mưa. Mưa nhẹ, rơi như sợ xao động những chiếc lá vàng đang run rẩy sót lại trên cây. Nàng đứng đó, nhìn cho tới khi chiếc bus xa dần sau ngõ quẹo đầu đường. Vừa trở gót thì mưa bỗng rơi nặng. Tóc ướt, áo ướt trên những giọt mưa tạt mạnh trên khuôn mặt khó đoán vui hay buồn trong sáng hôm nay.

Đứa con gái hớt hãi gọi tìm từ quê nhà xa khuất, báo tin một người thân vừa ra đi. Tìm nhắn mẹ dùm con, người em dâu của mẹ mới qua đời. Con gọi, gọi mãi mà không biết mẹ ở đâu. Nàng lục lọi số phone mới có không lâu, kèm lời dặn chị không cho ai số mới này, chỉ riêng em để những khi cần kiếm chị thôi. Chị dạo này hay lang thang, vì buồn. Nàng thoáng nỗi băn khoăn. Chị đang ra sao, có thay đổi gì trong cuộc sống hay không? Giọng nói bên kia thấp xuống, khác với sự ân cần nàng thường quen nghe mấy năm nay. Chị đang buồn. Biết đâu chừng rồi sống một mình. Sắp tới nếu như chị ghé qua thành phố đó, sẽ cho em biết để hai chị em gặp nhau. Nàng tỏ bày với chân thành của nàng. Nghe chị thường nhắc đến anh, em mừng, nghĩ chị thật sự tìm thấy hạnh phúc sau từng thăng trầm, đỗ vỡ. Tiếng nói nghẹn lại, pha thêm nước mắt. Sự thật, chị vẫn giữ nhiều thứ trong đời. Trừ một thứ là được cảm thông, được nhẹ nhàng trong sự hiểu biết của người có căn bản giáo dục ...Phải chi chị đừng trải qua, để không muốn mà vẫn nổi dậy trong lòng sự so sánh. Chị càng nhận ra vật chất dẫu nhiều tới đâu, vẫn không làm mình hạnh phúc hơn người chọn lối sống giản tiện. Nàng làm sao không biết, đâu là điều bất hạnh, đâu là sự may mắn của mình khi đời ghép vào một nửa sẵn dành. Nàng nói nhỏ, em hiểu chị. Khi nói ra được dễ dàng nỗi sầu chôn trong lòng, em tin rằng chị đã biết cách để vượt qua. Cảm ơn em nhắc. Quả thật chị đang dạo quanh mua sắm sáng nay. Uyên ơi, dạo này em có gầy hơn? Cỡ áo cũ vẫn mặc được hay phải đổi? Nói chị nghe để chọn áo mùa lạnh cho em và các con luôn. Biết chối từ vẫn chẳng kết quả gì, bởi nàng quen làm em nhỏ bên cạnh chị lớn, lúc nào cũng thật lòng, nghĩ và làm dù câu hỏi được trả lời nghĩa khác.

Một thoáng ngạc nhiên, nàng chợt nhớ ra, năm nào vào mùa lạnh cũng có người nghĩ đến nàng qua từng chăm sóc. Nàng có nhiều những người anh, chị "bên chồng" dù gia đình chồng ít có người thân nào ở bên này. Từ người anh hay lắng nghe, để ý từng chút để sớt chia, cho tới người chị và đứa cháu gái hay gởi đem về cho cô Uyên những chiếc áo dễ thương để mặc mùa lạnh. Còn có những người anh hay hỏi, có ai làm cho em buồn nữa hay không? Nói đi, anh sẽ cố khuyên. Hoặc đây là quà VN tặng cho em. Anh chị thích nhìn Uyên mặc áo dài cho nên chọn món này. Anh chọn màu chị chọn vải; cho đều. Nàng cảm động thấy mình đợc nhiều phước lộc, nhất là trong cơn bệnh thập tử nhứt sinh của người đồng hành, những người anh người chị tuy không cùng cha nhưng khác mẹ đã giang tay ra bảo bọc nàng, chia hết những nhọc nhằn bên giường bệnh để nàng còn đủ sức lo cho đứa con còn bé. Uyên ơi, bất cứ lúc nào em cần, đừng quên các chị luôn có mặt bên em để sớt chia...Nơi này, mùa đông không lạnh nhiều. Riêng nàng còn được ưu đãi, trong tình thương ấm vây quanh bất kể tháng năm.

Để lại lời nhắn "Chị ơi, bên nhà có chuyện buồn. Nhớ gọi về nhanh kẻo con mong", vài phút sau nàng được tin. Chị vừa mới gọi về và đã gởi tiền lo đám tang rồi. Đứa em trai của chị từ đây đã mất điểm tựa. May ra nó biết học cách sống, cách làm người, làm cha có trách nhiệm với con sau khi người vợ mất đi. Nàng đã quen với tính nói thẳng, từ người không thích đón rào. Có lẽ vì nàng lúc nào nghe cũng chỉ là nghe, không thắc mắc hỏi han cho nên nhiều người vẫn bày tỏ dễ dàng những điều khó tỏ bày. Từ sau khi mẹ mất, chị không nôn nao về mỗi năm như trước. Không về nhưng vẫn lo cho tất cả. Có lẽ tình thương cho đi không đúng chỗ cho nên nẩy ra đứa em ỷ lại. Em ơi, con gái có lẽ chán sống bên VN rồi. Nó nhắc chị hỏi em, hồ sơ con còn bao lâu mới xong? Nó còn hỏi mẹ Uyên chẳng biết có buồn gì con không, đã lâu không gọi cho con. Chị mới mắng con gái lớn nhiều, đã làm mẹ rồi, sao hay nhỏng nhẽo, y như khi còn bé. Mẹ Uyên có nhiều chuyện để lo, sức khoẻ cũng không tốt; nên thưa liên lạc. Nó nghe xong hỏi tới không ngừng .. Mẹ Uyên bệnh ra sao, sao bố con không nói con nghe? Nó mau nước mắt, trong khi chị thì chúa ghét, mấy đứa con gái hay khóc, giận hờn tự thuở nào tới giờ. Mai mốt nó qua chắc sẽ lựa ở gần em. Em lúc nào cũng lắng nghe trong khi chị thì không đủ kiên nhẫn. Chị lo vật chất, em có tình thương. Như vậy là phước lớn của hai đứa nó.

Nàng cười qua phone .. Em có gì đâu để cho con. Em có nhiều thứ nó cần mà chị rất nghèo. Chị dù cố sửa vẫn không sửa được. Thôi, tính trời cho sao, để vậy. Có khi chị ước được ở gần em để tập thiền cho người bớt bứt rứt, nóng nảy hay tạo ra khẩu nghiệp. Em biết rồi, hậu quả càng bi đát, khi cạnh bên có người dễ nóng giận giống mình! Nàng lại cười. Chị đi nhà thờ lâu rồi mà, chắc anh không cho chị theo em để thiền đâu! Không ai ngăn chị, chỉ lo chị không có chí để theo. Chị cứ nhắc và thường nói về em còn hơn nhắc tới em gái của mình. Anh đã quen nghe, còn ước làm sao có cơ hội gặp!

Nàng cũng không ngờ mình một ngày bỗng làm mẹ của hai đứa con mà lúc biết đã trưởng thành. Đứa con trai cao lớn ngay lần gặp đầu tiên đã bước tới, nhẹ ôm vai gọi nàng bằng tiếng mẹ chẳng e dè, để rồi sau đó vẫn tìm nàng để hỏi những câu không dễ trả lời trong hoàn cảnh đen tối, mong manh của hạnh phúc riêng. Mẹ ơi, con thương vợ con nhiều lắm, sẽ không sống được nếu xa nhau. Con không biết làm sao, xin mẹ chỉ cho. Nàng cầm phone chăm chú nghe. Đặt mình vào chỗ đứng của người vợ trẻ, để khuyên con đừng vì điên đảo yêu thương mà biến tình thương thành trói buộc. Con sẽ nghe lời mẹ không nóng giận, không nghi ngờ và đi gặp counselor để chữa trị bệnh bất an...Nghe giọng nói nàng biết con đang khóc. Nàng bỗng lo. Một đứa con trai tương lai chưa kịp mở ra, đã dừng lại bởi nhiều bổn phận. Bỏ học đi làm để nuôi con và người vợ trẻ học lên cao mãi. Ngày nàng nhận tấm thiệp mời dự lễ ra trường của đứa con dâu xinh xắn, cũng là ngày nàng nghe tin dữ con trai toan huỷ hoại cuộc đời vì không chịu nổi sự thành đạt của vợ mình, kéo theo những bướm ong dìu dập vây quanh. Giọt nước cuối làm tràn ly nước đã đầy. Mặc cảm thua sút, hoảng sợ khiến con trai như điên trong lần nhìn thấy vợ sóng đôi với bạn trai. Nàng biết khó lòng giữ lại, cuộc hôn nhân bên bờ vực. Đứa con dâu hỏi nàng có thể đi dự buổi ra trường sắp tới hay không, rồi thẳng thắn nói với nàng, nó biết nàng quan tâm và muốn giúp cả hai giữ lại tổ ấm bấy lâu. Nó cũng khuyên chồng đi chữa trị. Nhưng H bỏ dở ngay sau lúc bắt đầu và tỏ ra hung bạo khi nhìn thấy nó vì buồn đi dạo lang thang với đứa bạn trai thân - chỉ bạn thôi! Không chữa bệnh, không tỏ bày thiện chí để cùng nhau gầy dựng lại gia đình. Còn buông thêm lời hăm doạ liên quan đến tính mạng con người. Thử hỏi con còn trông, còn mong gì nơi H nữa?

Nàng lặn lội đi thăm đứa con trai si tình sau khi vượt đường dài 4 tiếng lái xe. Từ bệnh viện ra mấy ngày, con như kiệt sức.Đứa em gái cùng mẹ khác cha đã đưa anh trai đến. Để mọi ngừơi ngồi ăn bữa trưa trong quán, H nói mẹ đi ra ngoài tản bộ với con. H xin lỗi đã không kiên nhẫn, làm theo lời nàng nhắc và khuyên. Mẹ ơi, con sống sót trở về căn nhà lạnh lẽo. Vợ con nói vì cảm thấy không an toàn nữa cho nên đã đem con gái nhỏ của con đi mất. Con không chịu nổi khi phải đối diện với điều mình sợ nhất. Mấy đêm rồi con lang thang và ngủ trong xe. Nàng gật đầu, mẹ hiểu con đau. Nỗi đau nào rồi cũng sẽ lành. Con phải đi tới và phải thêm sức, bởi con sẽ còn tiếp nhận những nổi đau khác của đời con. Đừng yếu đuối buông trôi đời mình khi chỉ vừa mới bắt đầu. Con có biết là mẹ con lo lắng tới độ nào không, vì tìm con chẳng biết tìm đâu?. Con xin lỗi, vì mẹ con không chia đưọc với con như con có thể chia với mẹ đây. Nàng cảm thấy nghiệp tình con quá nặng, nhưng vẫn nói lời cần nói với con. Con hãy về thu xếp cuộc sống lại. Cả hai mẹ đều mong muốn con quên quá khứ, chỉ sống mà lo cho hiện tại. Hiện tại vững thì tương lai mới vững. Mẹ con sẵn sàng mở rộng cửa đón con về, bỏ việc làm đi học tiếp. Chắc chắn sẽ có nhiều đổi thay đến với con - Tốt hơn những gì con đang có hôm nay.

Đứa con trai chào người cha, hỏi mấy đứa em không bằng vẻ tinh nghịch thường lệ rồi ôm vai nàng xiết nhẹ. Con mừng gặp mẹ. Cảm ơn mẹ đã đến thăm con. Đứa em gái nhìn nàng với nụ cười ấm nồng rồi nắm tay anh nhắc, về thôi! Trên đường về nàng nghe người mẹ gọi, vẻ an tâm. Chị chỉ lo nó tránh em vì ngại gặp như tránh chị. Em gọi tìm; nó trả lời, chị thì không. Tội cho em thức khuya dậy sớm thăm con. Chị em mình lại chưa có duyên để gặp, thôi hẹn lại. Nàng hiểu tình thương người mẹ, đã làm con ỷ lại, sống lệch lạc làm dang dở tương lai. Nghĩ rằng thương là cho con nhiều những gì con muốn, để bù lại phần nào sự mất mát khi thiếu người cha bên cạnh. Phải chi người mẹ nào cũng nhớ, dù có sự hiện diện của cha thì đứa con cũng chưa chắc thành nhân.

Sáng nay, nàng nhớ tới đứa con trai. Hỏi con có gọi về không? Nàng được trả lời, nó bỏ đi xa với một con nhỏ vừa mới gặp mà không thèm nói với em hay với chị câu nào. Nàng nghe như có hạt mưa, cay trong mắt. Bỏ tương lai, làm như đời duy nhất chỉ có một chữ tình. Nàng tiếc cho con, cầu mong một ngày con sẽ nhận ra những vết thương, sẽ không bao giờ lành khi con mãi lao đi tìm trên những cuộc vui.

Quỳnh My

Tuesday, December 06, 2005

Cào lá

Đêm lạnh.
Với My, lạnh vừa đủ cuộn chăn chuẩn bị tìm giấc ngủ êm đềm. Ngày mộng mị bên đêm với giấc mơ hay ác mộng đã thưa dần. Có lẽ từ khi My đến với thiền. Chỉ vì thấy đủ những giấc mộng ngày nên My không còn đem mộng vào đêm; giống như xưa.

Sáng.
My ra sân. Mặt trời đang lấp ló trên ngọn cây cuối con đường, chiếu tia nắng chưa đủ ấm. Bãi cỏ trước sân nhà vẫn xanh mướt màu xanh ảm đạm dưới những chiếc lá rụng trải đều trên. Lá trên cây chưa thấy đổi màu Thu. Chưa kịp vàng đã úa, run rẩy, mong manh lìa cành theo cơn gió lạnh về. Cây hoa vàng nở khoe sắc, kéo dài hơn một tháng giờ bắt đầu thưa dần. Từ trong những nhụy hoa, bỗng vươn mình trở thành trái nhỏ màu xanh, rũ xuống cạnh bên những nhụy còn sót lại đong đưa trước gió, nhìn thật lạ. Khi những cánh hoa không còn nữa, thì trái lớn nhanh như những trái đậu xanh, dẹp và dài đều khắp trên cành. Những bụi hoa cúc cậu tặng năm ngoái, giờ bắt đầu trổ nụ, ra hoa. Màu hoa cúc tím thẩm như thầm nhắc mùa Thu đang hiện diện. Chợt nghĩ, cô T và Phượng Tím bên kia chắc sẽ mê màu hoa cúc của My. Những tấm ảnh tình cờ với màu áo tím gởi đi, lần nào cũng có xôn xao. Riêng My chưa bao giờ chọn màu nào cho riêng mình để mãi mãi thủy chung. Có điều, chỉ duy nhất màu My ngại tới gần. Không sao hiểu được nguyên do. My cười, nói với dứa em. Tình cờ đọc ở đâu cũng thấy người mạng hỏa "hợp" màu làm chị sợ! Chắc vì sợ màu "thích hợp", nên sẽ chẳng bao giờ đời le lói hơn lên!

Ngày cuối tuần.
My ra sân cào lá trả lại màu xanh cho đám cỏ. Những cánh hoa vàng rơi lối đi trải xi măng. Hoa vàng trước sân nhà mỗi năm được nhìn hai mùa. Hoa nhiều đến độ nở kéo dài gần hai tháng, rồi thi nhau rơi ngập đầy trên lối đi. Bây giờ khi cào lá My thấy lòng thơ thới, nhẹ nhàng. Khác với thuở vừa cào lá vừa kêu rêu thầm vì cây nhà mình không có bao nhiêu. Nhìn thì biết, toàn cây nhà ông hàng xóm. Ông lười quét mà sân nhà ngó sạch, khổ thân My cứ cào lá thu. Bây giờ, My nhìn lá chết không buồn. Bởi đã biết cái gì nhìn thấy được bằng đôi mắt cũng sẽ đổi thay theo chu kỳ. Nghe hỏi sao lúc nào nhìn My, My cũng như hoa, hồn nhiên như lá. Biết trả lời sao.. Điều chắc, là lúc buồn hay khóc, không có ai cầm máy bấm tự nhiên như lúc đang vui. My cũng buồn, nhưng khi nào còn cười được, cứ cười cái đã. Có buồn hiu thì chuyện chung quanh vẫn vậy thôi. Vẫn không thay, không đổi chút nào. Đám em gái của My giờ an lòng chấp nhận, bên cạnh việc để chăm sóc cho mình hơn một chút. Có điều dường như không có điều cân bằng trong mấy chị em. My sống nhiều về nội tâm. Nguợc lại các em lo cho thân nên ra sức luyện tập mỗi ngày, rồi dần dà bị hút vào, lòng như quyết chí đi đến đích mục tiêu mình đã chọn! My chỉ cười, dần dần trở thành chiếc bóng bên cạnh lao xao của lũ em. Mới đầu, tập luyện đều đặn để tốt cho sức khỏe. Tiếp theo, nghe ngóng, sưu tầm những "bài thuốc" lạ được lan truyền trên Net, chưa kể song song với "truyền khẩu" giống như phong trào nở rộ khắp nơi nơi. Hết nấu, tới xay ép đủ 5 thứ rau và quả...My lại cười khi nghe than không có thời giờ đọc sách, nấu ăn. Thời giờ có lẽ bỏ quên vào những lần ra siêu thị thường hơn. Mua hoài phải đi hoài vì rau quả không thể mua một lúc thật nhiều để dùng dần. Ngày hai lần xay ép thì chỗ đâu dự trữ. Hoặc giả có chỗ đi chăng nữa, thì 5 thứ rau quả khác nhau mua một lần nhiều cũng thấy...ngại ngùng, tốn kém một lần hơi nhiều, để rồi đi nhiều lần kể ra lợi thêm ở khoảng...an tâm. Đứng bên lề "thời cuộc", My dễ đâu được bình an. Tới tuổi này, chị không tập thể dục mỗi ngày, người yếu ớt, ngó không săn chắc. Chị cũng thiếu luôn những thứ tối cần cho sức khỏe bây giờ..My lặng yên làm kẻ bàng quan. Bây giờ rồi sẽ thành quá khứ nay mai thôi chứ không xa. "Thời trang nhạc tuyển" sẽ ra thêm bài bản mới. My đâu có chạy theo mốt thời trang. My chẳng bận tâm. Thôi thì mừng cho đám em dù sao cũng còn vẫn yêu đời, còn hăng say dành nhiều thời giờ chăm sóc cho sức khoẻ vẫn hơn là lao vào những cuộc vui chừng như bất tận, đâu đó ở bên ngoài mái ấm gia đình. My dù là chiếc bóng, nhưng lúc nào cũng hiện diện cạnh bên, khi các em bất chợt thay nụ cười bằng giọt lệ. Từ điểm này, My kiên nhẫn nắm tay em, cùng dắt em đi đoạn đường em bỏ dở.

Từ chiếc lá khô.
My nhìn thấy ánh mặt trời, thấy gió, thấy đất, thấy hương mưa ; quyện vào. Mỗi lần nhìn sang mà có My cào lá là mợ bước qua con đường nhỏ dặn dò để đó cho mợ đem về ủ mấy gốc cây. Mợ nói, lá mục làm phân bón tốt hơn phân hóa học. Cào lá mùa Thu với My đã thành thú vui. Có khi My nhìn thấy My trong đời lá.

Quỳnh My

Thursday, December 01, 2005

Qua cơn mê

Trong cuộc sống hằng ngày, tất cả mọi người, từ tấm bé cho đến khi trưởng thành, đều phải trải qua nhiều giai đoạn khác nhau. Lúc còn nhỏ, chúng ta chỉ biết ăn cho no, ngủ cho đã, chơi cho sướng, còn mọi chuyện khác, có người lớn lo. Lớn lên một chút, chúng ta được cha mẹ cho đến trường để học. Ở quê nhà, trước đây, chúng ta được học lễ giáo, trước khi học chữ nghĩa. Chắc chúng ta ai cũng còn nhớ câu: "Tiên học lễ hậu học văn". Còn ở hải ngoại, học sinh được dạy dỗ nhiều về trí dục và thể dục, phần đức dục có phần khiếm khuyết, có nơi hầu như không có!
Sau khi tốt nghiệp, tiểu học trung học, hoặc là đại học, cũng có những người, kém may mắn hơn, chưa kịp học xong, tất cả mọi người, đều phải bước qua, ngưỡng cửa cuộc đời. Có người bước được, những bước chắc chắn, vững chải tốt đẹp, thành công tốt đẹp, vui vẻ hạnh phúc. Dưới góc cạnh cuộc đời, trong con mắt thế gian, người ta thường cho rằng: đó là những người "có tài". Dưới cái nhìn trong nhà đạo, đó là những người "có phước". Cũng có nhiều người, bước đi những bước, loạng quạng vào đời, có khi vấp ngã, thiệt thòi thương đau, người đời gọi là "bất tài", hay là "vô phước"!
Dù có tài hay có phước, dù bất tài hay vô phước, sau sáu mươi năm cuộc đời, người sống lâu hơn, hơn kém trăm năm, người ta bắt đầu, cảm thấy mệt mỏi, tuổi già sức yếu, lưng còm gối mỏi, da dẻ nhăn nheo, bệnh hoạn triền miên, cuối cùng thì sao, kết thúc thế nào? Ít người có thời gian, có can đảm, chịu suy nghĩ về ngày cuối cùng của cuộc đời mình. Một nấm mồ với tấm mộ bia, hay một cái hủ đựng xương cốt với tấm biển đồng, khắc ghi tên họ, bằng cấp chức tước, là cái phước cuối cùng, con người có thể hưởng, lúc cuối đời! Thế là xong hết! Xong hết thiệt rồi! Một đời đã qua! Người nào cũng vậy! Ðời nào cũng vậy! Nơi nào cũng vậy! Thánh phàm cũng vậy!
* * *
Trên thế gian này, từ ngàn xưa cho đến ngày nay, tất cả mọi người sinh ra trên quả địa cầu này đều chấp nhận diễn tiến, tuần tự của cuộc đời mình như vậy, sinh lão bệnh tử, không ai nghĩ là có thể làm bất cứ điều gì khác hơn được. Cho nên, trong cuộc sống hằng ngày, con người thường đấu tranh, giành giựt, để được phần thắng, phần lợi, phần tốt, phần hơn, phần phải về phía mình, gia đình mình. Còn phần thua, phần thiệt, phần xấu, phần lỗ, phần quấy, dành cho mọi người, họ có ra sao cũng mặc kệ, chẳng có gì quan trọng, chẳng có điều gì đáng quan tâm, miễn sao, mình và gia đình mình vui sướng là được rồi! Con người thường suy nghĩ đơn giản như vậy. Ðến khi nào chính mình gặp khổ nạn, bất trắc, tai họa, nguy biến, phiền não, hệ lụy, con người bèn la hoảng lên, than trời trách đất, kêu gào thảm thiết, van xin cầu khẩn, thánh thần thiên địa, phù hộ độ trì, cứu tai cứu khổ, ban ơn ban phước, cho mình đều được, tai qua nạn khỏi, hết chuyện xui xẻo, qua cơn khốn khó. Khi qua được rồi, cuộc đời con người lại trôi nổi bềnh bồng, lại tiếp tục đấu tranh giành giựt, không cần biết ngày sau mình sẽ ra sao!
Trong cuộc sống hằng ngày, để được sống còn, để được sung sướng, để được hưởng thụ, dù quan niệm "đời hãy còn dài", hoặc suy nghĩ "đời quá ngắn ngủi", con người sẵn sàng làm bất cứ điều gì, lợi mình hại người, không cần đếm xỉa đến quyền lợi, danh dự, sự nghiệp, đời sống và gia đình của người khác. Nhứt là đối với những người mình không ưa, và những người không ưa mình, hoặc những kẻ oán thù, con người thường mang tâm niệm muốn cho họ biến mất trên thế gian này, càng sớm càng tốt, cho khuất mắt mình. Con người sẵn sàng, làm đủ thứ chuyện, đủ mọi thủ đoạn, mưu sâu kế hiểm, nghe lời xúi bảo, thưa gởi kiện tụng, vu oan giá họa, để hại người đời, làm cho người khác, thân bại danh liệt, suy sụp nguy khốn, gia đình tan nát, phiền não khổ đau, họ mới hả dạ, họ mới vui lòng!
Lòng tham lam của con người vô cùng vô tận, được một đòi mười, được mười đòi trăm, được trăm đòi triệu, một vốn bốn lời, nhứt bổn vạn lợi, được voi đòi tiên, được tiên đòi tiền, được tiền đòi danh, được danh đòi thọ, trường sinh bất tử, cải lão hoàn đồng, không muốn chết uổng.
Than ôi, tâm địa người đời, thực khó mà hiểu, thấu cho cùng được!
Tục ngữ có câu: "Dò sông dò biển dễ dò. Ðố ai lấy thước mà đo lòng người".
Lòng sân hận của con người vô lượng vô biên, cao ngất trời xanh, một điều không vừa ý có thể đòi lấy mạng người, hay đòi hủy hoại danh dự và đời sống người khác, hoặc muốn cho người khác ở tù chung thân! Người nào không chịu giúp mình, như mình mong muốn, dù gian hay ngay, mình phải ra tay, hãm hại họ trước, bằng đủ mọi cách, không hề từ nan, nộp đơn thưa kiện, vu khống cáo gian, đặt điều thêm bớt, làm đủ thứ chuyện, miễn sao người đó, khốn nạn điêu linh, tán gia bại sản, sống khổ không yên, thiệt mới hả dạ!
Lòng si mê của con người vô bờ vô bến, những chuyện hiểm nguy, tàn ác vô nhân, cũng đều dám làm, những lời độc hại, có thể giết người, hãm hại người khác, cũng đều dám nói, mưu sâu kế độc, tinh vi khôn lường, tàn bạo dã man, thỏa lòng tự ái, cũng đều dám nghĩ! Khi mình gặp nạn, bởi tâm si mê, nhứt định trả thù, mong muốn người khác, nhứt là kẻ thù, cũng phải khốn khổ, khốn nạn như mình, hoặc khổ hơn mình, thiệt mới hài lòng!
Những hành động do tâm tham lam, những lời nói do tâm sân hận, những ý nghĩ do tâm si mê thúc đẩy, quả thực đã tạo ra, không biết bao nhiêu, tội lỗi nghiệp báo, khiến cho con người, xô nhau đẩy nhau, chìm đắm trong biển, phiền não khổ đau, trầm luân sinh tử, đền trả quả báo, trong bao nhiêu kiếp, không bao giờ dứt, không thoát ra được. Vì thế cho nên, chư Phật Bồ Tát, chư hiền thánh Tăng, vì lòng từ bi, xuất hiện trên đời, để giúp chúng sanh, tự mình biết rằng, đang sống trong mê, sống trong điên đảo, sống trong mộng tưởng, đến khi lìa đời, con đường trước mặt, mờ mờ mịt mịt, không biết về đâu, đâm ra hoảng hốt, sợ hãi khủng khiếp, thì đã quá muộn!
* Tổ Sư Qui Sơn có dạy: "Tiền lộ mang mang vị tri hà vãng", chính là nghĩa đó vậy. Người nào thức tỉnh, giác ngộ như vậy, xa hẳn cơn mê, điên đảo mộng tưởng, không còn tạo nghiệp, tức là đạt được, cứu kính niết bàn, mà thập phương tam thế chư Phật hằng tâm nguyện chỉ bày cho tất cả chúng sanh.
* * *
A. Trong cơn mê : Có thể nói rằng: hầu hết mọi người, khi được sinh ra, trên trái đất này, đều không biết mình, từ đâu đến đây, đến để làm gì, sau khi từ giả, sẽ đi về đâu? Con người chỉ biết, cuộc đời hiện tại, cho nên cảm thấy, mấy mươi năm sống, ở trên thế gian, quả là dài lắm, tưởng chừng mọi việc, đều như vậy mãi, không hề thay đổi, không có nổi trôi. Ðến khi về già, nhìn lại cuộc đời, tưởng là giấc mơ, nhưng mà quả đúng, thực là cơn mê.
Khi gặp hoạn nạn, phiền não khổ đau, khó khăn trắc trở, con người cầu mong, mọi chuyện xui xẻo, trôi qua cho mau. Khi gặp an ổn, dễ dàng sung sướng, suôn sẻ vui vẻ, con người cầu mong, cuộc đời mãi mãi, cứ y như vậy. Ðến khi những chuyện, bất trắc bất thường, bất như ý muốn, xảy đến cho mình, người đời đau khổ, vì những mất mát, vật chất tinh thần. Chẳng hạn như là: buôn bán thua lỗ, mất tiền mất của, mất nhà mất xe, mất việc làm tốt, đưa đến quẩn trí, mắc bệnh tâm thần, có thể mất mạng! Chẳng hạn như là: người thân qua đời, từ giả ra đi, qua thế giới khác, chúng ta đau khổ. Chẳng hạn như là: người thân ngỏ ý, từ giả ra đi, lập cuộc sống khác, chúng ta phiền não, cảm thấy chới với, không còn muốn sống, cảm thấy cuộc đời, chỉ toàn màu đen, đen thủi đen thui, tối thủi tối thui!
Con người không biết rằng cuộc đời hiện tại này chỉ là một đoạn, một mắc xích trong chuỗi dài sinh tử luân hồi, nhiều đời nhiều kiếp. Cuộc đời hiện tại chỉ là một dòng chuyển biến không ngừng. Sau cơn mưa, trời lại sáng. Hết cơn bỉ cực, tới hồi thới lai. Trăng tròn rồi khuyết. Bèo hợp rồi tan. Hoa nở rồi tan. Cuộc đời dâu biển. Không có cái gì tồn tại vĩnh viễn. Không có việc gì kéo dài vĩnh cửu. Mọi sự mọi việc, mọi vật mọi thứ, trên thế gian này, thay đổi đổi thay, liên tục liên miên, trong từng sát na, từng giây từng phút, từng giờ từng ngày, từng tháng từng năm. Chẳng hạn như là: cái tấm thân này, nay khỏe mai đau, nay trẻ mai già, nay còn mai mất. Chẳng hạn như là: chính tâm tính mình, nay vui mai buồn, nay an mai động, nay thiện mai ác, nay ác mai thiện, thường xuyên thay đổi. Con người không ai có khả năng, cũng như không vị giáo chủ nào có thể, dừng được bánh xe thời gian!
Con người chỉ có thể dùng trí tuệ bát nhã, dừng bánh xe luân hồi nghiệp báo, nếu muốn, nếu giác ngộ. Nghĩa là chỉ khi nào thức tỉnh, vượt qua cơn mê, con người mới hiểu được: tại sao mình phải ngưng làm những việc bất thiện, tại sao mình phải ngưng nói những lời thô ác, tại sao mình phải ngưng suy nghĩ những điều lợi mình hại người! Còn trong cơn mê, những việc bất thiện dễ làm hơn những điều thiện, những lời thô ác dễ nói hơn những lời êm dịu ngọt ngào, những điều lợi mình hại người dễ suy nghĩ hơn những điều vị tha, vì ích lợi của người khác.
Trong cơn mê, con người sẵn sàng nhảy vào căn nhà lửa, mà cứ tưởng là đang vui hưởng ngũ dục. Căn nhà lửa chính là cái thân tứ đại của mình, đang bị lửa thời gian thiêu đốt, từng giây từng phút, bị lửa tham lam, lửa sân hận, lửa si mê, thiêu đốt qua từng cơn, qua từng cơn mê. Căn nhà lửa cũng chính là cái thế giới đầy dẩy những cám dỗ, những cạm bẫy hiểm nguy vô cùng. Con người luôn luôn mơ ước thụ hưởng ngũ dục thế gian gồm có: tài, sắc, danh, thực, thùy. Con người luôn luôn mơ ước lắm của nhiều tiền, trúng số độc đắc, nhà cao cửa rộng, xe cộ đắt tiền. Con người luôn luôn mơ ước được sắc đẹp mỹ miều, trẻ mãi không già. Ai khen mình trẻ đẹp thì thích. Ai nói sự thực thì mích lòng mình. Con người luôn luôn mơ ước được danh tiếng lẫy lừng, nhiều người biết đến, vỗ ngực xưng tên, nhưng lại chẳng tài cán chi. Con người luôn luôn mơ ước được ăn ngon mặc đẹp, sơn hào hải vị, không ngại giết hại, mạng sống sinh vật, bằng đủ mọi cách, để được ăn ngon. Con người luôn luôn mơ ước được ngủ nghỉ thoải mái, giường cao nệm tốt, đầy đủ tiện nghi.
Không được thỏa mãn ngũ dục, con người luôn luôn tìm đủ mọi cách, để đoạt cho bằng được, bất chấp mọi thủ đoạn, dù phải hại người hại vật cũng chẳng ngại, dù phải chà đạp người khác để hưởng lợi hay để bước lên đài danh vọng, dù phải khen mình khinh người cũng chẳng sao, dù phải nhận người khác xuống bùn đen cũng thấy thích thú. Chỉ vì ngũ dục mà con người tạo không biết bao nhiêu là tội nghiệp, để rồi phải đền trả quả báo sau này, bởi vì trong cơn mê, mình không hay biết đó thôi.
Trong cơn mê, con người tưởng rằng tấm thân tứ đại là "mình", quanh năm suốt tháng, làm lụng vất vã, thức khuya dậy sớm, không từ bất cứ việc gì, miễn là cung phụng cho tấm thân được no ấm, sung sướng mà thôi. Bởi vậy bất cứ ai động đến tấm thân này, con người đều cảm thấy khổ đau, cảm thấy bị chạm tự ái, cho nên phải trả thù, phải hại người khác, dù mười năm sau cũng chẳng muộn! Cho đến lúc thở hơi ra, mà chẳng có khả năng hít hơi khác vào, con người mới biết tấm thân tứ đại này phải trở về với cát bụi, phải xuống nấm mồ hay phải vào lò thiêu. Lúc đó, con người mới nhận biết được: tấm thân tứ đại này không phải là "mình" thì đã quá muộn màng! Biết bao nhiêu tội nghiệp đã tạo trong đời, để rồi phải đền trả quả báo sau này, bởi vì trong cơn mê, mình không hay biết đó thôi.
Trong cơn mê, con người tưởng rằng cái tâm suy nghĩ lăng xăng lộn xộn là "mình". Bởi vậy khi tâm tham nổi lên, con người liền theo, bất chấp thủ đoạn để thỏa mãn lòng tham, khi tâm sân nổi lên, con người liền theo, bất chấp nhân nghĩa để thỏa mãn lòng sân, khi tâm si nổi lên, con người liền theo, bất chấp lý lẽ để thỏa mãn lòng si. Cho nên con người tạo không biết bao nhiêu là tội nghiệp, để rồi phải đền trả quả báo sau này, bởi vì trong cơn mê, mình không hay biết đó thôi. Con người suốt đời cứ bị cái vọng tâm lăng xăng lộn xộn sai khiến, điều khiển, quên mất cái bản tâm thanh tịnh sẵn có từ lâu, ít ra cũng từ khi lọt lòng mẹ. Sách có câu: "Nhân chi sơ tánh bổn thiện".
Trong cơn mê, những khi gặp hoạn nạn, con người bực tức, thù hận cuộc đời, chán ghét người khác, sẵn sàng trả thù, sẵn sàng gây đau khổ cho bất cứ ai, mà con người có thể làm được, để thỏa mãn tâm sân hận và si mê. Con người thường không hiểu tại sao tai nạn xảy đến cho mình, không hiểu tại sao có người đến chửi mắng mình, làm nhục mình, không hiểu tại sao người thân từ giả, bỏ mình ra đi! Hằng ngàn hằng muôn câu hỏi "tại sao" những chuyện như vậy, xảy ra thường xuyên, trong cuộc đời mình?
Con người không bao giờ chịu đáp lại bằng câu trả lời: "Lỗi tại tôi, lỗi tại tôi mọi đàng!". Hoặc ít ra cũng suy nghĩ được rằng: "Lỗi tại tôi, lỗi tại tôi một phần! ". Thông thường con người nghĩ rằng tất cả đều do lỗi của người khác, lỗi của ai đâu không, tại người này thế này, tại người kia thế khác, không có tại mình, chút xíu nào cả, thậm chí có lúc bực quá, con người la lên: "Tại ông trời đó! ".
Con người gặp tai nạn là do kém phước báu, và do con người đã gieo nghiệp nhân không tốt, trong kiếp trước hay kiếp này. Kiếp trước làm gì không tốt, con người chưa có tu chứng nên không thể biết được. Kiếp này tai nạn xảy ra, do con người có một phần bất cẩn trọng. Nếu không có nghiệp nhân xấu, không thể có nghiệp quả tự nhiên xấu được. Hãy thử suy nghĩ: tại sao tai nạn không xảy ra cho người này, người khác, mà lại xảy ra cho mình? Chuyện xui xẻo không xảy ra cho người khác, tại sao lại đến với mình? Không chịu suy nghĩ, không hiểu như vậy, con người sẽ hết sức tức giận kẻ gây ra tai nạn cho mình, kẻ gây ra phiền toái cho mình, kẻ gây ra thương tích cho mình, kẻ đã làm khổ làm nhục mình.
Không thấu hiểu được như vậy, con người sẽ đòi hỏi sự bồi thường quá mức, do lòng tham lam của chính mình và lòng tham lam của những người chung quanh, hay trong gia đình, thúc đẩy sai kiến, bất chấp mọi thủ đoạn, mọi mưu kế, hại bất cứ người nào liên can, miễn đoạt được lợi! Nghĩa là con người lại tiếp tục tạo tội nghiệp, gây quả báo cho đời sau, cho kiếp sau, tiếp tục trầm luân, trong lục đạo sinh tử luân hồi, không biết đến bao giờ mới dứt! Bánh xe luân hồi nghiệp báo chỉ dừng, không tiếp tục quay, khi con người qua cơn mê mà thôi. Tỉnh người sau cơn mê, nghĩa là con người đã giác ngộ, sau đó sẽ được giải thoát khỏi vòng trầm luân sinh tử luân hồi vậy.
Có câu chuyện sau đây để chúng ta cùng nhau suy gẫm: Có hai vị thiền sư đi qua sông, gặp một chiếc thuyền chài đang lưới cá. Mẻ lưới đầy ắp cá đang được kéo lên thuyền. Có một con cá ra sức vùng vẫy, nhảy thoát khỏi lưới, rớt trở lại sông, bơi lội tung tăng, có vẻ mừng rở, vì mới thoát nạn. Vị thiền sư thứ nhứt nói: Con cá giỏi thiệt, chỉ phóng một cái, thoát ra khỏi lưới! Vị thiền sư thứ hai bèn nói: Nếu con cá giỏi thiệt, sao lại để bị lưới?
Cũng vậy, con người thường bị lưới tình cảm, lưới tiền tài, lưới danh vọng, lưới sắc đẹp, lưới ăn ngủ, nói chung là lưới ngũ dục của thế gian, vây chặt, xiết chặt, nhưng có mấy ai muốn thoát ra khỏi đâu? Con người vẫy vùng bơi lội trong màn lưới mê mờ đó, từ lúc còn bé thơ cho đến khi thành người lớn, lại lấy làm thỏa thích vô cùng. Ðến khi tuổi già sức yếu, nhiều người vẫn chưa có phước duyên thức tỉnh, vẫn tiếp tục bơi lội trong lưới, không ngại tróc vẩy trầy vi, bám lấy tiền bạc, danh vọng địa vị, cho đến hơi thở cuối cùng! Những người thức tỉnh, giác ngộ, đều hết sức cố gắng, nhảy một cái ra khỏi lưới, không được thì cố gắng lần thứ hai, thứ ba, cho đến khi nào, được giải thoát mới thôi. Lúc được giải thoát, tức là lúc thoát ra khỏi lưới, con người đã qua được cơn mê, đến bờ giác ngộ.
Nghĩa là trong cơn mê, bất chợt lúc nào đó, thấy được cảnh trần khổ đau phiền não, chẳng hạn như người thân qua đời, con người liền giựt mình thức tỉnh, hiểu rằng cuộc đời vui ít khổ nhiều, không phải "đời còn dài" như mình mộng tưởng, mình có thể ra đi bất cứ lúc nào, bất cứ cách nào, bất cứ nơi đâu. Cho nên con người liền quay đầu hướng thiện, xa lánh những cuộc vui giả tạm của cuộc đời, xa lánh những bạn ăn nhậu đua đòi ngày trước, xa lánh những cuộc tranh chấp, xa lánh những chốn bụi trần, xa lánh những nơi ồn ào náo nhiệt, tìm nơi thanh tịnh, tìm gặp thiện hữu tri thức, để gặp Chánh Pháp, để thấy Chánh Ðạo, để bắt đầu tu tâm dưỡng tánh, để cuối cùng qua được cơn mê ngàn đời!
Con người thường hay nằm mơ. Cơn mơ có thể là các giấc mơ đẹp, có hoa có bướm, trời cao mây xanh, gió mát hiu hiu. Cơn mơ cũng có thể là các cơn ác mộng, các giấc mơ hãi hùng, các giấc mộng ghê sợ. Lúc đó mình sẽ ú ớ la hét, tay chân quờ quạng, nhưng không tỉnh được. Trong cơn mơ, chuyện gì xảy ra, mình đều cho là thực. Nếu có người bên cạnh đánh thức mình dậy, thì hay biết mấy. Cũng vậy, hiện nay, chúng ta đang sống trong cơn mê ngàn đời, chúng ta đang sống trong điên đảo mộng tưởng, nếu có người đánh mình thực đau, giúp mình thức tỉnh, thì hay biết mấy. Người này có thể là người ơn, giúp đỡ mình hiểu được đạo lý, chỉ dẫn mình đường lối tu tâm dưỡng tánh. Người này cũng có thể là kẻ thù người oán, luôn luôn hại mình, làm mình điêu đứng, khốn khổ triền miên, hết làm chuyện này, đến gây chuyện khác.
Trong kinh sách, hai hạng người này đều được gọi là thiện hữu tri thức. Hạng người trước, ví như thầy lành bạn tốt, chỉ dạy, giúp đỡ mình tận tâm, tận sức tận tình, trên mọi phương diện, được gọi là bồ tát thuận hạnh, chuyên tạo thuận cảnh, giúp đỡ người tu học. Hạng người thứ hai, ví như giám khảo, hạch hỏi, tra xét, cật vấn, để chứng nhận mình đang ở trình độ tu học nào, tiến bộ ra sao, có đạt gì không, được gọi là bồ tát nghịch hạnh, chuyên tạo nghịch cảnh, giúp đỡ người tu học tiến bộ nhanh hơn.
* * *
B. Sau cơn mê : Người đã từng ngụp lặn trong biển mê, có nhiều phước duyên, gặp được minh sư, gặp được Chánh Pháp, ví như được phao, giựt mình thức tỉnh, cảm thấy từ lâu mình đã phí phạm cả quãng đời trong cơn mê, bèn hạ quyết tâm, tu tâm dưỡng tánh, tìm ra đường đạo, nếm được thiền vị giác ngộ, giải thoát khỏi sự trói buộc của dục lạc thế gian, cuộc sống được an lạc và hạnh phúc. Sau cơn mê, con người được tâm khinh an, không còn lo âu, sợ hãi phập phồng, thấp tha thấp thỏm, nếm được thiền vị giải thoát, không còn tâm tham, không còn tâm sân, không còn tâm si, xa lìa hết thảy, điên đảo mộng tưởng.
Sau cơn mê, con người không còn suy nghĩ đến chuyện trả thù, tâm từ bi hỷ xả phát triển cao tột, con người cảm thấy chúng sanh đau khổ, cũng như mình đau khổ, không khác. Sau cơn mê, con người không còn suy nghĩ đến lỗi lầm, hay tội lỗi của người khác, không quan tâm đến quá khứ của người khác, luôn luôn quán xét tự tâm, luôn luôn quan tâm đến những gì mình đang làm, đang nói, đang nghĩ mà thôi. Người đã thức tỉnh, đã biết chuyển hóa, trở thành người tốt, tự lâu lắm rồi, mình chẳng hay biết, còn mình thì sao, có gì tốt chăng, có gì hay chăng, đã biết dừng nghiệp, chuyển nghiệp hay chưa?
Trong Kinh Pháp Cú, Ðức Phật có dạy:
"Lấy oán báo oán, oán nghiệp chập chùng.Lấy ơn báo oán, oán nghiệp tiêu tan".
Sau cơn mê, con người không còn ham thích những bửa ăn ngon miệng, trên sự đau khổ của chúng sanh, không còn thích tìm giết những con vật sống, để thỏa mãn cái khẩu vị, như lúc còn trong cơn mê. Tại sao vậy? Bởi vì trong cơn mê, con người không hiểu được các sinh vật có thể là người thân, từ nhiều đời nhiều kiếp của mình, vì tạo nhiều nghiệp báo trong cơn mê, cho nên phải đọa lạc vào đường súc sinh, phải mang lông đội sừng, phải mang vi mang vẩy. Những sinh vật đó cũng biết đau đớn, biết sợ hãi, biết chạy trốn, khi bị rượt đuổi, bắt giết làm thịt.
Sau cơn mê, con người không còn bị tâm lăng xăng lộn xộn, tâm tham lam dụ dẫn, tâm sân hận xui khiến, tâm si mê lôi kéo, bởi vì con người đã thức tỉnh, đã có trí tuệ bát nhã, đã nhìn muôn sự mọi việc, đúng như thực tướng, không còn mơ mộng viễn vông, không còn điên đảo mộng tưởng. Sau cơn mê, con người đã hiểu tại sao mình phải tu tâm dưỡng tánh, tại sao mình phải nhẫn nhịn, tại sao mình phải từ bi hỷ xả. Bởi vì không có gì quí hơn sự bình yên trong tâm hồn! Sống an lạc và hạnh phúc, được giác ngộ và giải thoát là mục đích cứu kính của người theo đạo Phật, mặc dù trong cuộc sống hằng ngày, chúng ta vẫn phải tiếp xúc với cuộc đời, vẫn gặp những điều bất trắc, những cảnh ngộ bất như ý. Qua cơn mê, mọi việc không còn thành vấn đề!
Trong kinh A Hàm, đức Phật có dạy "Thập nhị nhân duyên", gồm có mười hai nhân duyên phát sinh muôn sự muôn việc, đó là: vô minh, hành, thức, danh sắc, lục nhập, xúc, thọ, ái, thủ, hữu, sinh, tử. Thập nhị nhân duyên là giáo lý giảng dạy nguyên nhân nào sự việc này sinh khởi, sự việc này sinh khởi đều có quan hệ với sự việc đã sinh khởi trước đó. Trong thập nhị nhân duyên, cơn mê của con người, từ muôn kiếp trước, gọi là "vô minh". Vô minh là nguyên nhân của mọi phiền não khổ đau, dẫn dắt chúng sanh trôi lăn trong lục đạo luân hồi. Vô minh là không sáng suốt, là si mê lầm lạc, là không nhận được thực tướng của cuộc đời, là điên đảo mộng tưởng, là chấp ngã và chấp pháp. Cho nên, muốn giải thoát khỏi vòng sinh tử luân hồi, chấm dứt phiền não khổ đau, con người phải phá cho bằng được màn vô minh đen tối, tức là phải "qua cơn mê", phải thức tỉnh, bằng cách thắp sáng ngọn đuốc trí tuệ bát nhã của mình qua Chánh Pháp.
Trong Kinh Pháp Cú, Ðức Phật có dạy:
"Hãy tự thắp đuốc lên mà đi.Thắp lên với Chánh Pháp".
* * *
Tóm lại, một khi qua cơn mê, xa cuộc đời bềnh bồng, xa mộng tưởng điên đảo, được cứu kính niết bàn, ta lại về bên nhau. Ngày gió mưa không còn, nên đường đời thật dài, ta mặc tình rong chơi. Tỉnh người sau cơn mê, ta thấy đời an lành, thấy mọi người hiền từ, nên đời đẹp như tranh. Ta sẽ ươm thật nhiều, trái yêu thương ngọt ngào, hái đem cho mọi người.
Nghĩa là qua được cơn mê, chúng ta sẽ xa lìa được cuộc sống bềnh bồng, điên đảo mộng tưởng, chúng ta không còn thấy mình tốt hơn người, không còn thấy mình và người khác nhau. Trái lại, sau khi lòng lắng xuống, không còn khổ đau phiền não, không còn tức giận hận thù, không còn đố kỵ ganh tị, không còn thương ghét giận hờn, không còn quay lưng ngoảnh mặt, chúng ta thấy được mọi người đều có "bản tâm thanh tịnh" như nhau, thấy được "tâm cảnh nhất như", không khác.
Do đó, chúng ta đạt được cảnh giới cứu kính Niết bàn, an lạc hạnh phúc, ngay cuộc sống hiện tại, chúng ta lại có thể về bên nhau, sống chung nhau theo tinh thần lục hòa. Tại sao vậy? Bởi vì, tỉnh người sau cơn mê, chúng ta thấy được vạn vật vũ trụ đồng nhất thể, tuổi thọ của con người không hạn chế trong cuộc đời này, không phải chỉ có trăm năm mà thôi. Sống được với bản tâm thanh tịnh, không còn chịu ảnh hưởng của thời gian và không gian, chúng ta mới thực sự thấy đường đời không giới hạn, chúng ta mặc tình rong chơi, tiêu dao tháng ngày, an nhàn tự tại, ở khắp mọi nơi, không bị ràng buộc, không còn phiền não, chẳng còn khổ đau, quên hết sự đời, an hưởng cảnh giới niết bàn. Cho nên chúng ta thấy cuộc đời hết sức an lành.
Chúng ta nhìn mọi người với cặp mắt từ bi, cho nên thấy mọi người hiền từ. Chúng ta nhìn thế gian với cặp mắt lạc quan, cho nên thấy đời đẹp như tranh. Từ đó, cuộc sống của chúng ta sẽ an lạc và hạnh phúc ngay hiện đời, chúng ta sẽ sống với tâm lượng từ bi hỷ xả, đem yêu thương đến cho mọi người chung quanh, chúng ta sẽ sống đời như lời Ðức Phật dạy, niết bàn cực lạc chính là đây, không còn chờ đến sau khi từ giả cuộc đời, mới được niết bàn cầu nguyện, phân ưu mộng tưởng, trên mặt báo chí! Tại sao vậy? Bởi vì khi còn sống, chưa biết được niết bàn thế nào, thì làm sao, sau khi chết, được niết bàn?
Muốn đạt được cảnh giới thanh tịnh của chư Phật chứng được, con người phải thật cố gắng, kiên tâm trì chí, dũng kiệt mạnh mẽ, cắt đứt mọi cám dỗ của cuộc đời. Muốn đạt được an lạc và hạnh phúc trong cuộc đời hiện tại trên thế gian, trong lúc chúng ta vẫn phải đối diện với muôn ngàn khó khăn, phải đối phó với mọi hoàn cảnh bất trắc, bất như ý chung quanh, chúng ta phải sống thực với chính mình, với chính bản thân mình, với tâm lượng khiêm tốn, thực hành hạnh từ bi hỷ xả, và cố gắng giúp đỡ tất cả chúng sanh, sống chung quanh mình, đều được thức tỉnh, giác ngộ, quay về với chánh đạo.
Trong Bát Nhã Tâm Kinh, Ðức Phật có dạy: "Bồ đề tát đõa y bát nhã ba la mật đa cố, tâm vô quái ngại, vô quái ngại cố, vô hữu khủng bố, viễn ly điên đảo mộng tưởng, cứu cánh niết bàn". Nghĩa là chúng ta muốn phát tâm tu tập, để thoát khỏi phiền não khổ đau, như các vị bồ tát đã làm, thì chúng ta phải nương theo trí tuệ bát nhã ba la mật, tức là trí tuệ nhìn thấy thực tướng của các pháp trên thế gian, nói cách khác là trí tuệ giúp chúng ta qua được cơn mê, qua được bể khổ nguồn mê, sớm đến bờ giác ngộ.
Ðược trí tuệ bát nhã ba la mật, chúng ta nhìn cuộc đời đúng như thực, không còn si mê lầm lạc, không còn điên đảo mộng tưởng, cho nên tâm không còn quái ngại, không còn việc gì khủng bố được, không còn chuyện gì làm cho sợ hãi. Từ đó chúng ta xa lìa điên đảo mộng tưởng, xa lìa cơn mê nhiều đời nhiều kiếp, cũng như mây đen tan biến thì trăng sáng hiện tiền. Lúc đó, chúng ta hiểu được, thấy được, ngộ được, đạt được, chứng được, sống được trong cảnh giới niết bàn cực lạc, như lời chư Phật dạy, ngay tại thế gian này vậy

Thích Chân Tuệ
(CTLD 2)

Monday, November 14, 2005

Ra đi mùa Thu

Không đợi hết mùa Thu như HH đã nói. Từng chuyến bay vội đi về , kết thúc vài tuần thu xếp vội. Vậy là bạn tôi thật sự đi xa. Một ngày trời chớm lạnh, đủ lạnh để tôi khoát chiếc áo len sợi mỏng đầu mùa. Tôi lơ đãng quanh giọt mưa. Mưa Thu rớt đều, ướt khoảng hành lang ngoài hiên. Chợt biết hôm nay là ngày HH giã từ thành phố.

HH ơi! HH đang ở đâu, HH đã khởi hành chưa? Nụ cừời ấm và câu chào quen thuộc, tắt ngang không hiểu vì sao. Mưa buổi sáng qua nhanh chào nắng giữa trưa đến vội. Tôi nghe lại câu chào và tiếng cười ấm áp, hiền hoà. Mình còn sống sót! Đã lên đường từ sáng nay rồi. Lúc nãy mưa nhòa đoạn đường đèo. Chưa kịp nói điện thoại đã bị mất sóng. Bây giờ mình đang đi ngang qua thành phố, có những quán ăn Việt. Vừa lúc đói bụng lại cần nghỉ ngơi một chút, trước khi tiếp tục để kịp đến nơi không trễ lắm, đêm nay. Tôi nhắc HH lái xe cẩn thận với đường dài, thêm lời chúc may mắn bình an trong những tháng ngày sẽ mở ra phía trước. Tôi không hỏi, cũng không nghe HH nói, vui hay buồn khi quyết định đã rồi. Có lẽ cả hai đã quen nghe chỉ để mà nghe. Không lời từ giả, cũng không băn khoăn vì những gì cần nói tôi đã nghe HH nói, giản dị, chân tình như nói với người thân. An tâm về nhau là điều thường có ở hai bên.

Biết đời như trang sách vừa viết qua chương mới, cho nên tôi bình thản nghe đổi thay và bạn tôi bình thản ra đi. Đi xa với HH cũng mang nghĩa về gần. Nói chi với tôi, HH chưa bao giờ gần cũng như chưa lúc nào xa. HH biết như tôi biết, những ánh mắt nồng ấm thơ ngây sẽ sáng lên, khi có trở lại vòng tay yêu đương cũ. Khoảng thời gian vài năm trống vắng tuổi thơ, tôi nghĩ dài hơn nhiều lắm so với khoảnh thời gian của những người trưởng thành. HH đi về xứ lạnh mang hồn ấm áp. Ấm như tình thương sâu đậm dành cho đám trẻ thơ cùng những hoài bão bạn tôi mang theo về miền Bắc xa xôi. Tình thương cho đi lồng trong tâm từ, bạn tôi chắc chắn không có gì để phải ngập ngừng. Vậy đó, M ơi! Mình sẽ lấp đầy những ngày giờ thảnh thơi nếu có, bằng cách góp một bàn tay giữ gìn phần nào cội nguồn. Những đứa trẻ biết đâu một ngày nào sẽ tự mình tìm đọc trang nhật ký của người cha, không còn là chuyện xa vời hay mơ ước nữa. Một khoảnh đất nằm kề bên con suối nhỏ. Những nụ hoa chớm nở dạo mùa xuân trong nỗi lạnh sắt se...đủ để làm cho mình bận rộn nếu như trở thành điều có thật. Sống hòa cùng với thiên nhiên chính là niềm vui, niềm vui bất tận đó M! Tôi nói rất mừng, khi biết dù ở đâu HH cũng tìm cho mình một đời sống tự tại, ung dung. Thảnh thơi trong bận rộn và biết rõ con đường mình chọn, đi làm sao để không lộn trở lại điểm khởi hành. Hạnh phúc của bạn tôi nhỏ và dễ có, không cần kiếm tìm vẫn thấy mỗi ngày. Những buổi sáng đi làm muộn, ngồi trên thềm ngắm bãi cỏ xanh, những cụm mây hợp tan. HH kể, thường ngó không chán mắt, con mèo nhà hàng xóm, chạy đuổi mãi vẫn chưa bắt được con mồi, chỉ vì người chủ rất từ bi, đeo xâu lục lạc vòng quanh cổ chú mèo, để bảo vệ sự sống cho những con mồi vô tội, là đàn sóc và lũ chim tụ lại hàng ngày trước sân nhà.

Tôi hỏi cho có hỏi, nghĩ gì khi làm người đi trong mưa gió hở HH? Mưa gió trong lòng đã tạnh lâu rồi, cho nên vui chứ chẳng buồn! M biết rồi, mình có thú lái xe một mình những đoạn đường dài. Bao nhiêu năm đi về, cùng một chỗ làm với hai giờ lái xe nhưng chưa bao giờ thấy đường xa. Tôi an tâm, thật sự an tâm. Nhưng vẫn nhắc, về trên đó lạnh nhiều chắc HH sẽ "khói buồn bay lên mây" nhiều hơn nữa phải không? Không đâu M! Không hứa nhưng rồi sẽ không còn vui, buồn với khói một ngày gần. Mình đã ngưng một dạo nhưng ngày đó bị cuốn trở vào vì ở bên cạnh H với Thầy. Tôi bật cười. HH lớn rồi, đừng đổ thừa nghe! Nếu gần Thầy với H cũng chỉ gần trong khoảng ngắn. H ở mãi tận bên này và Thầy cũng chẳng gần nhiều. Bây giờ H đã ngưng rồi. M không mong nghe HH nói tại, bị... ở nơi miền lạnh! Bạn tôi cười. Nhất định được mà. Khi có quyết tâm thì lo gì không thực hiện được hở M?

HH đi rồi, tôi ra bưu điện nhận "gia tài" HH không quên chia phần cho tôi trưóc lúc lên đường. Đứa em gái băn khoăn hỏi, sao ông phát thư không chịu để trước hiên nhà. Lỡ như thùng sách nặng, chị làm sao có thể mang về được? Hay là để đó cho em. Em tôi bao giờ cũng không quên người chị, đủ sức gánh trên vai nặng trĩu nhiều buồn ít vui, trừ ra làm việc nặng. Tôi cười trấn an em. Đừng lo. Chị nghĩ rằng chị mang về được, vì người gởi dường như cũng...ngang sức với chị thôi. Làm sao tôi quên, cảm giác xúc động, thoáng chút bàng hoàng trong lần nghe HH kể chuyện. Cô em gái nhắc nhỡ mình nên ăn uống thêm, vì dạo này như gầy yếu quá. Không dưng, tôi chợt hỏi. Nói cho M nghe, HH cao bao nhiêu, nặng bao nhiêu? Trời ơi! Như vậy là "qua cầu gió bay" rồi? Với sức nặng như thế làm sao làm việc nổi? HH cười. Như vậy vừa đủ cho đôi chân yếu đó M! Rồi HH cười. Có lẽ những nhát kiếm nghiệt oan của một đời làm kiếm sĩ, giờ để lại vết hằn lưu dấu ở đôi chân. Cảm giác bồi hồi, xúc động trôi qua. Với tôi HH luôn luôn vững vàng và cứng cỏi. Biết rõ chọn lựa của mình trên đọan đường còn lại trong đời. HH đã qua thời ngập chìm trong biển rộng, những mê đắm cuồng say cùng hạnh phúc, khổ đau. Để một đôi lần ngoái nhìn, giật mình khi nhận biết rõ ràng những gì mình đã tạo.

Bây giờ, dù ở đâu có lẽ ngày của bạn tôi cũng như nhau. Vẫn nắng vẫn mưa, cỏ cây và vòng tay mở ra ôm gọn cuộc đời bé bỏng yêu thương. Đêm vẫn tiếp tục cùng với những buổi tọa thiền thường nhật, và đi vào giấc ngủ bằng những bài pháp thoại như HH vẫn thường kể tôi nghe. Thật là tuyệt diệu M ơi! Cảm ơn M đã gởi bộ CD của HT Tâm Thanh. Mình càng nghe càng nghiệm thêm nhiều điều vi diệu. Bây giờ nghe giảng kinh đâm ghiền như trẻ thơ ghiền tiếng mẹ ru. Lòng thanh thản, bình an. Kèm theo quyển kinh Pháp Hoa khổ nhỏ, xinh xắn gọn gàng với bìa cứng màu nâu. HH còn gởi cho tôi nhiều sách của thiền tông. Quyển sách mỏng tôi mang theo vào nơi làm đọc là quyển Mùa Hoa Son, tác giả: sư cô Hạnh Chiếu. Những giọt nước mắt đồng cảm của tôi chợt rớt xuống. Cũng may, chỉ một mình tôi trong căn phòng, có ánh sáng không đủ soi rõ mặt.

Những giọt nước mắt khô nhanh không còn dấu vết. HH dù xa hay gần vẫn để lại tiếng cười lẩn quẩn đâu đó quanh tôi. Quyển kinh Pháp Hoa có thật. HH cũng có thật trong giòng đời hư ảo, mênh mông. Cả tôi và HH đang miệt mài tìm theo dấu người xưa. Thôi chẳng cần hẹn nhau một lần gặp mặt. Lòng tôi ấm khi nghe như trong cơn gió thoảng, lời người chị chưa bao giờ gặp trong đời đã một lần nói với tôi rằng. "Hẹn em một lần ngồi trên bãi cỏ, cùng uống trà, ngắm trăng dưới chân chư Phật".

Quỳnh My

Monday, November 07, 2005

Sao không trở lại?

My đến phi trường lúc 7 giờ chiều. Tới sớm hơn My là gia đình dì, người em gái duy nhất của mẹ sang đây đã mười năm. Mười năm với thật nhiều trắc trở. Cuối cùng dì chú thỏa dần ước nguyện. Ðêm nay ba đứa con của dì sang đoàn tụ với gia đình.

My thấy hạnh phúc tràn đầy trên mặt chú. My nhớ lại, như phép lạ. Chỉ cách đây vài năm thôi, Người đàn ông đó sụt xuống còn hơn 80 pounds, phải chuyền thức ăn dinh dưỡng qua ống dẫn vào bao tử, nằm thoi thóp chờ trút hơi thở... Ngày đó trong bệnh viện, hai chị em My nước mắt đầm đìa ôm người người chồng của dì. Tụi con thương chú lắm. Chú ơi, chú ráng vượt qua để còn có cơ hội đem các em sang đây như tâm nguyện. My biết lúc đó My nói mà không dám trông mong, bởi tiếng nói của chú đã tắt, không còn thoát ra được từ thanh quản. Chú nằm im chịu đựng cơn đau. Hai hố mắt sâu và thân xác bất động. Em gái My vừa khóc vừa bảo em rễ đem vào cho chú cái máy nhỏ, để ghi âm lại những gì muốn nhắn gởi với đàn con còn lại ở VN, nếu như chú còn có thể nói được trong giây phút cuối. Rồi em gọi cô y tá, phụ tiếp tay nâng chú vào phòng tắm để em tự tay tắm gội sạch sẽ, thể như chăm sóc cho cha. Dì của My có một thói quen rất kỳ khôi. Dì có thể làm mọi chuyện dù cực nhọc tới độ nào để chăm sóc chồng con, trừ ra lúc phải vào nhà thương. Dì đến thăm như thăm một người quen, rồi vội vã ra về, nhất định không ở lại lâu, như sợ phải xúc chạm vào thịt da người bệnh. Mẹ đã bất bình nhiều khi thấy dì bình thản ra về, nhất định không cận kề bên cạnh người chồng kiệt sức trong bệnh viện. Dì chú sang đây đoàn tụ do đứa con gái một mình vượt biển ngày nào. Ðứa em này qua tới đảo, được anh My bảo trợ sang sống với ba mẹ vài năm. Rồi em tìm sang Canada, đem người bạn trai gặp ở đảo qua đây chung sống. Khởi đầu chỉ một người có mặt nơi này, là nhịp cầu nối dài cho những người thân tiếp bước qua. Nhờ ý chí mãnh liệt, phải sống để thực hiện xong ước nguyện, tạo cơ hội cho đàn con còn lại cơ hội thoát ra khỏi cảnh sống tối tăm, mà chú đã vượt qua nổi chết cận kề. Ngày đó, trong hành lang bệnh viện, ba My đã ngậm ngùi nói vói My rằng, có lẽ nào chú ra đi mang theo luôn những ước mơ chưa thành.

Vậy mà sau đó không lâu, chú vượt qua tất cả làm người sống sót trở về đưa tiễn ba My. Những đứa em còn lại bên nhà, ngày nghe tin ba My mất đả trở thành những đứa con đi vào chùa, quấn khăn tang tụng kinh mỗi thất cho ba My. Thầy trụ trì xúc động nhiều, bởi chưa lần nào nhìn thấy những đứa cháu thọ tang cho người bác chồng của dì mình, tới chùa tụng kinh cầu siêu thất tuần và mỗi năm đúng ngày giỗ đều tới chùa làm lễ cầu siêu như những đứa con hiếu đạo.

Mẹ My lấy chồng năm 18. Năm sau mẹ sinh đứa con đầu rồi cùng ba My giang tay ra để bảo bọc đám em nhỏ mồ côi bởi ông bà ngoại lần lượt ra đi khi chưa chạm tới tuổi già nua. Dì là đứa em gần gủi ba mẹ My hơn hết. Ba My vừa là người anh cả vừa tựa như một người cha. Mẹ là con gái Nam kỳ mộc mạc, lấy người đàn ông phiêu bạt đến từ đất Bắc mù xa. Rồi đứa em vợ lớn dần được ba gả chồng- cũng là một người trai từ Bắc vào Nam lưu lạc, như ba. Anh em My gọi chồng của các dì bằng dượng. Chỉ duy nhất một người gọi bằng chú mà thôi. Cũng vậy, ba và mẹ cũng có riêng một đám cháu gọi cả hai bằng bác. Khác với đám cháu con các dì khác gọi bằng dì dượng theo cách xưng hô của người Nam. Mẹ My bao năm vẫn giống vậy thôi. Dì trái lại nói giọng Bắc như người xứ Bắc và nấu những món ăn Bắc kỳ không thua bất cứ ai! Có lẽ nhờ dì làm dâu qua những tháng năm. Khác với mẹ, vì ba My lạc loài chỉ có một mình. Những người em chồng của dì, đều bắt chước dì gọi ba My bằng hai tiếng "anh Hai" nghe gần gủi làm sao! Còn có thêm những nhân duyên cùng làm việc chung với nhau một khoảng thời gian. Ba My lúc nào cũng được quý kính như bậc trưởng thượng kể luôn bên gia đình chồng của dì My. Đến phút cuối, ba vẫn còn nhân duyên gặp lại người em gái chú. Cô từ VN sang chơi, thăm chú dì và ba mẹ của My. Những ngày cuối cô ở lại, cũng là ngày cô có mặt để tiễn ba My về nơi an nghỉ.

My và lũ em ở phía sau My có nhiều gắn bó vói chú hơn các anh chị lớn. Sau mùa Hè đỏ lửa 72, chú là người đã thuyết phục ba mẹ đem chị em My về sinh sống ở Saigon. My rời nơi được gọi tên là Rừng Lá. Chấm dứt những đêm nằm nằm nghe tiếng mưa rơi từng giọt nhẹ, gõ xuống thanh âm đều đều trên mái lá. Cũng từ vách lá vọng sang tiếng đàn và giọng ca buồn não nuột trong bài hát Mưa Rừng của cô bé hàng xóm xinh như công chúa, sống lạc giữa chốn núi rừng giống chị em My. Chú thương xót chị em My chưa bao giờ ra khỏi căn nhà rộng rãi, êm đềm. Qua cơn binh lửa, phút chốc như trở thành dân du mục. Ðứa em gái giờ vẫn còn mang vết sẹo dài ở ống chân, trong một lần vào rừng đi tắm suối năm nào. My đã trãi qua những đêm trăng nằm ngắm trời sao, trên chiếc đệm trãi trước sân căn nhà lá nhỏ. Những buổi sáng trời mù sương, chưa nhìn thấy dáng những ngọn núi màu tím thẩm, lẫn trong mây buồn ảm đạm quanh năm. My còn loáng thoáng trong trí nhớ, dáng ai cao sừng sững bước lang thang. Những bước rã rời mang trái tim trầy trụa, quặn đau, của người bạn học si tình cô em gái con người dì Út. Em đẹp kiêu sa và dư biết mình xinh đẹp, đủ để dễ dàng làm điêu đứng những mắt nhìn, những con tim dễ lạc nhịp trong khoảnh khắc. My như in sâu vào trong trí dáng lao đao, tiều tụy, như người mắc bệnh tương tư My bắt gặp thuở xưa, trong những lần tiễn My ra chuyến xe đò đưa My về thành phố, để gởi theo những lời hỏi han và trái tim đang vật lộn với những nổi đau..Có lẽ vì vậy mà những năm sau, khi bắt gặp lại dáng cao gầy sừng sững đợi chờ My trên đường về ở Saigon, My chỉ thoáng lao xao chút xíu. Kẻ si tình hoài đi lại những con đường. Rồi sẽ đi qua đoạn gập ghềnh. Rồi sẽ quên trong nhớ và đời trôi đi mãi.

Những ngày đầu về thành phố, My thường ngồi phía sau lưng chú trên chiếc vespa. Chú chở My đi, chỉ dẫn những nơi chốn My cần để có thể tự mình lo cho My cùng các em đến trường trở lại sau mùa hè năm đó. Có lẽ thấy chú tỉ mỉ, để ý chăm sóc cho chị em My từng chút, đem tất cả từ miền núi rừng về ở căn nhà chú vừa mới dọn ra chẳng bao lâu, một trong những người em gái chú, đã đôi khi bóng gió, xa xôi. Chú vẫn thản nhiên bỏ ngoài tai, thay ba My sắp xếp và ổn định cuộc sống cho bầy con gái nhỏ, bơ vơ về thành phố sau cơn binh lửa. Nắng Saigon trong những ngày ngồi sau chú trên chiếc vespa, và sau những tháng làm người miền núi khiến My đen như người Thượng. "Con nhỏ đen thui" là mấy tiếng quen thuộc mà người em chú gọi My. Ðể sau 20 năm gặp lại ở đây, khi MY lên tiếng hỏi chào, người em gái chú ngẩn ngơ, hỏi con nhỏ nào đây, tại sao cô không thể nhớ ra. My cười, là con "con nhỏ đen thui" của ngày xưa. Trời ơi, sao con lạ vậy? Cô không ngờ con nhỏ xíu bây giờ. Mà da thì trắng! Nghĩ cũng lạ, ai cũng được nhận ra dễ dàng sau hơn 20 năm không gặp. Chỉ riêng My thường phải giới thiệu lại tên với người thân. Nào con nhỏ đen thui. Nào con nhỏ đau răng khóc ngập lụt chung quanh. Toàn những hình ảnh mà khi nhớ thấy ngại ngùng vì không chút...nên thơ !

My nhớ khi dì chú còn ở căn nhà cũ, thỉnh thoảng My về chơi vài ngày. Mỗi lần My xuống bếp nhìn dì nấu nướng, dì hay bảo con nêm nếm theo kiểu Nam bữa nay đi. Những đứa em con dì mỗi người một vẻ. Mai Hoa lớn hơn My mấy tuổi, sâu lắng, nhẹ nhàng ngược lại với Thái Hòa bằng tuổi My luôn rộn rã tiếng nói câu cười chừng như không ngừng nghỉ. My thân với Mai Hòa và gần gũi Thái Hòa. Ðám em còn lại My thương quý nhưng không gần lắm. Cả hai chị em này đều hát hay. Hoa hát giọng trầm buồn như khuôn mặt thường thoáng nét u sầu kể cả lúc cười. Thái Hòa thuở ấy hay hát vang những bài tuổi ngọc, tuổi thần tiên như ca sĩ Thái Hiền. Ðời mấy đứa con gái của dì sao buồn. Cả ba đứa em lần lượt theo chồng rồi mang khuôn mặt đầm đìa nước mắt trở về. Mai Hoa bền bỉ, âm thầm trong cảnh khổ kéo dài. Mãi đến khi con lớn mới có đủ can đảm để cắt đứt mới tình thơ mộng thời thiếu nữ nhưng lại trở thành cuộc hôn nhân tràn ngập khổ đau. My nhớ ngày đám cưới Thái Hòa, người dì Út xinh đẹp nhưng khó tính của cả đám cứ theo căn dặn mãi. Ngày mai người ta tới rước dâu, con nhớ không cười, nói thoải mái toàn những câu dễ chọc cười người khác. Phải ra dáng nhu mì, hiền thục một lần. Mai mốt ván đóng thuyền rồi có hiện ra nguyên hình cũng được! Mẹ là chị lớn, My có 3 dì là dì Tư, dì Sáu, mẹ Thái Hòa và dì Út có duy nhất cô con gái đẹp kiêu sa. Dì Út ở quê nhưng đẹp cao sang, và khó tính hơn bất cứ dì nào hết. Dặn dò Thái Hòa chưa đủ. Dì còn thêm, chắc là dì phải cột sợi vào cổ tay của cô dâu để gịật nhẹ, để nhắc cho nó nhớ đừng cười nói khi có mặt của nhà trai trong buổi lễ. Thái Hòa chỉ cười không nói. Em đi theo chồng với nụ cười, để rồi hơn một năm sau trở về với tấm thân tiều tụy, chừng như vướng bệnh lao phổi vì những ngày làm dâu đói rách, nhọc nhằn xa mãi đâu đâu My thật sự đã quên. Cũng may chưa có đứa con nào ra đời trong khoảng đới tăm tối của Thái Hòa. Em sống trở lại thời độc thân vui tính cho mãi đến ngày nay.

Chuyến bay đến phi trường Houston buổi tối hôm qua mang cho dì chú của My 3 đứa con xa. My cùng chàng có mặt ở phi trường lúc 7 giờ, đã bắt gặp cả gia đình chú và gia đình đứa con gái ở chung tới sớm hơn. Những chuyến bay đưa người từ VN sang thường đến vào buổi tối. My không biết đã có bao nhiêu lần đêm ra phi trưòng đón đợi người thân. Cậu mợ, mẹ, anh chị và em gái , lần lượt hiện diện. Chuyến bay đến muộn hơn một tiếng, làm mọi người có dịp ngồi nhắc lại những lần đưa đón. Như mới ngày nào cả mọi người tới đón chú dì. Bây giờ dì chú là người đem thêm những đứa con qua. Người chị dâu của My hơn 4 năm xưa một mình ngơ ngác đến nơi này. Ðêm nay bên cạnh chị là hai đứa bé đang tung tăng chạy nhảy. Hơn 22 năm không gặp, vẫn thường nhìn thấy qua hình cho nên My nghĩ rằng không khó nhận ra nhau. Nhìn dòng người lũ lượt ra khỏi máy bay đi xuống nơi nhận hành lý, My ngạc nhiên vì cả một chuyến bay chỉ bắt gặp môt người Mỹ lạc loài. Còn lại tất cả hầu như là dân Á Ðông của mình thôi. Ba chị em Thái Hòa là những người đi sau cùng. My nhìn thấy Thái Hòa từ trên cao với ánh mắt ngơ ngác, kiếm tìm nhanh. Bàn tay mừng rỡ giơ lên vẫy, và nụ cười năm xưa vẫn còn nguyên. Bước nhanh tới ôm My, nhỏ em cùng tuổi giọng nghe giòn giã, tựa như My chưa bao giờ cách biệt một khoảng đời dài. Trời ơi, My thiệt tệ. Ði mất biệt, mấy mươi năm nhất định không về, để cho em phải lặn lội đi qua, khổ thiệt nha! My nghe ấm áp, thân quen câu trách nhẹ hồn nhiên. Nhìn Cậu đang mỉm cười bên cạnh, My nghĩ phải giới thiệu thêm với cậu về cô em có tính vui đùa tự thuở nào giờ. Cậu chắc chưa biết Thái Hòa con của dì nói chuyện tiếu lâm gần giống HÐào.

Ðứa em trai sau phút bỡ ngỡ tới ôm vai My chụp hình chung. Phải đợi đến mấy mươi năm mới được ôm vai chị một lần, lâu thật là lâu! Chị không già như em tưởng. Vẫn nhỏ nhắn như xưa chư không phát tưóng ha!! My nhìn đứa em nhỏ nhất thấy thật gần. Em mang vóc dáng của Mai Hoa và có vẻ trầm mặc giống như My ngày "ngơ ngác cỏi ngươ`i".. Ngày My chia tay, em mới mấy tuổi thôi. Mai Hân vui nhất vì con gái Út của dì từ đây không xa mẹ nữa. Theo gia đình dì từ phi trường về nhà. Mẹ và anh em My ở lại mừng một lúc rồi về. Dì nấu sẵn nồi phở lớn nên tỏ ra thất vọng khi không ai ở lại ăn chung vì đã muộn. Thái Hòa ngồi kể cho chị em My và mẹ nghe về những người thân. Câu cuối cùng trước lúc ra sân là áo dài của các chị đẹp lắm, nhưng ráng đợi em soạn ra sau vì đêm nay chưa cần mặc phải không? My cười, nói chắc vẫn còn cơ hội gả chồng cho nhỏ nữa rồi. Vẫn không bao giờ già nổi sau mấy mươi năm không gặp! Thái Hòa cười, tóc chị sao rồi, tóc em bạc, nhuộm hoài. Chồng con gì nữa, em lo kiếm tiền để sinh sống thôi, không kiếm chồng đâu! My nhắc lại, vậy mà mấy mươi năm trưóc, rủ chị đi kiếm ông thầy bói đòi tiền vì bói sẽ lấy chồng mà đợi hoài chẳng thấy chồng đâu?

Mẹ, chị em My và những đứa em xa vừa gặp lại rảo bước ra sân. Những nụ cười ấm áp theo My về trên đoạn đường dài. Mẹ, chị em My và đám em con của dì, dù ở nơi đâu vẫn mãi mãi gần. My mừng chú dì có thêm con bên cạnh cuộc đời đã gần bóng hoàng hôn.

Thầm cầu chúc và thầm mong những đứa em qua sau, sẽ sớm thích nghi với đời sống mới. Kiên nhẫn và có thật nhiều may mắn để vượt qua đoạn gập ghềnh trong những bước đầu tiên, như bao nhiêu bước đi trước của những người, sống kiếp chim tha hương, chọn đất trích làm nơi nương tựa.

Quỳnh My

Sunday, November 06, 2005

Góp nhặt

ÐỜI

Hôm nay chúng ta sẽ nói chyện đời, vì đời và đạo là hai mặt của một đồng tiền. Nếu không có đời thì sẽ không có đạo, đời và đạo nương nhau mà có. Phật pháp bất ly thế gian pháp. Không phải chỉ nói thiền, tịnh, vô ngã, tánh không, v.v... mới là Phật pháp mà ngay cả những chuyện ăn uống, ngủ nghỉ, gánh nước, bửa củi, lặt rau, rửa chén, quét nhà cũng là Phật pháp. Phật pháp không hẳn chỉ dạy cầu niết bàn, vì căn cơ chúng sinh khác nhau, đâu phải ai cũng muốn thành A La Hán, Bồ Tát, hay thành Phật hết. Vì thế mới có ngũ thừa Phật giáo: nhân thừa, thiên thừa, thanh văn thừa, duyên giác thừa và bồ tát thừa. Có một kinh điển hình nói về nhân thừa, đó là kinh Thi Ca La Việt (Sigalo-vadasutta), trong đó Phật giảng cho một thanh niên dòng Bà la môn, con nhà giàu ở thành Vương Xá. Ngoài ra lúc còn tại thế đức Phật vẫn thường giảng cho các cư sĩ tại gia sống làm sao cho an vui hạnh phúc, giảng cho vua chúa cách an dân trị nước, những kinh này bàng bạc trong các bộ A-Hàm.
Qua những dịp tiếp xúc với Phật tử, tôi thấy có nhiều người khổ vì tình. Tình ở đây gồm đủ loại: tình vợ chồng, tình cha con, tình anh em, tình yêu, tình bạn, tình đời, v.v... Nhờ có khổ như vậy mới đến chùa học hỏi mong sao hết khổ. Nhưng phần đông lại rơi vào một trường hợp, đó là lấy cảnh chùa làm nơi trốn tránh cuộc đời, trốn tránh bổn phận gia đình, chồng con, vì chồng con nhiều lúc đã làm mình đau khổ. Hãy nhìn hoàn cảnh của người phụ nữ Việt Nam. Theo truyền thống phong tục tập quán, người đàn bà chỉ biết suốt đời hy sinh cho chồng con, nhưng rồi ít có chồng con nào ý thức được sự hy sinh đó. Nho giáo đã xem nhẹ vai trò của người phụ nữ. Cái gọi là tình vợ chồng thật ra là nghĩa vợ chồng. Thời xưa người ta cưới gả nhau ít vì tình mà vì môn đăng hộ đối, hoặc tìm chỗ nương thân, sống chung cho đỡ hiu quạnh. Khi ký một hiệp ước sống chung thì mỗi người phải có bổn phận. Bổn phận làm vợ phải thế này, bổn phận làm chồng phải thế kia. Người phụ nữ phải tam tòng tứ đức. Nhiều cặp vợ chồng bề ngoài có vẻ hạnh phúc, mỗi người làm đúng bổn phận của mình, nhưng bên trong rất nhạt nhẽo vô tình, không có sự thương hiểu lẫn nhau. Tuy sống chung một mái nhà nhưng trong lòng cách xa nhau cả ngàn cây số, mỗi người sống riêng trong thế giới của mình. Sống như vậy đâu có vui thú gì, đúng là oán tắng hội khổ. Nay mình biết chùa muốn tu, muốn dứt bỏ chồng con, nhưng ai cho phép? Nhiều bà, nhiều cô muốn vào chùa thọ bát quan trai một ngày một đêm nhưng chồng không cho phép. Những ông chồng này nói rằng: muốn tu thì cứ việc tu, đâu ai cấm, nhưng phải làm tròn bổn phận người vợ trước đã. Ở đây tôi không thể bênh vực bên nào cả, vì mỗi khi có sự bất hòa thì cả hai bên đều có phần trong đó. Không có ai phải, ai trái mà chỉ có một sự thiếu hiểu biết, không thông cảm, không thực sự thương yêu và thay vào đó là một sự đòi hỏi kẻ khác phải chiều theo ý mình.
Tu học không phải để chạy trốn chồng con. Tu học để tỉnh thức, nhận ra những điều mà trước đây mình không hề hay biết. Nhiều người phàn nàn, chán ngán chồng con, nhưng trước kia ai bắt mình lấy người đó, ai bắt mình đẻ con? Nếu không thương mà lỡ lấy vì bất cứ lý do gì đi nữa thì mình cũng có 50% trách nhiệm. Nếu thương mà lấy thì 100% trách nhiệm. Sinh con ra để làm gì? Ai bắt? Vì thương yêu hay vì bổn phận? Những quan niệm như con trai lớn lên phải có vợ, con gái lớn lên phải có chồng, rồi phải sinh con đẻ cái, v.v... đã gây đau khổ cho nhiều thế hệ.
Con người là loài hữu tình, tiếng Phạn là sattva, có nghĩa là có tình cảm. Ai cũng muốn thương và được thương. Khi thương ai mà được người kia thương lại thì chúng ta sung sướng. Khi cưới được người mình thương thì đúng lý ra ta phải sung sướng chứ? Việc hôn nhân cần phải đạt trên nền tảng của tình yêu. Thương yêu nhau mới cưới và muốn sống chung với nhau. Ở đây tôi không bàn đến những cuộc hôn nhân miễn cưỡng, bất đắc dĩ, vì đương nhiên những cuộc hôn nhân như vậy vô nghĩa, vô tình, làm sao đưa đến hạnh phúc được! Nhưng ngay cả những cuộc hôn nhân do tình yêu đi nữa, sau một thời gian cũng đưa đến sự nhàm chán. Như vậy là sao? Trước kia ở Việt Nam, vấn đề ly dị là điều tối kỵ, dù vợ chồng bất hòa đánh nhau đến đổ máu cũng phải cắn răng sống chung cho tới chết. Ngày nay vợ chồng ly dị là chuyện thường. Sống chung mà không biết thương yêu nhau, chỉ làm khổ nhau thì tốt hơn nên ly dị. Nhưng nhiều khi ly dị xong ta lại cảm thấy cô đơn, muốn đi tìm một người tình khác để yêu, để cưới và để rồi lại ly dị.
Vấn đề tôi muốn nêu lên ở đây là ly dị cho chúng ta bài học gì? Chúng ta hiểu được gì? Hay cứ nhắm mắt theo đà, tái diễn lại cảnh khổ. Nhiều lúc khổ quá muốn đi tu, nhưng tu làm sao yên khi tình cảm hãy còn ướt át? Tôi xin nhấn mạnh một điều là tu không phải dứt tình mà là chuyển tình. Quan niệm chung thường cho rằng tu là dứt hết tình như câu kệ xuất gia:
Hủy hình thủ chí tiết
Cắt ái từ sở thân
Xuất gia hoằng thánh đạo
Thệ độ nhất thế nhân.
Dứt hết tình cảm thì đâu còn là người nữa, tu như vậy để thành gỗ đá chăng? Cây cỏ, núi sông còn có tình huống chi con người.
Chúng ta đau khổ vì tình, vì tình của chúng ta là thứ tình ích kỷ, tình thương chiếm hữu mang nhiều tính chất ái luyến của ngã và vô minh. Thương mà không biết cách thương nên làm cho kẻ khác bực bội, khó chịu đau khổ.
Tu là sửa, là chuyển. Từ đau khổ chuyển thành an vui, từ tình thương ích kỷ, chiếm hữu thành tình thương ban bố vị tha. Vào chùa học đạo mà chỉ biết thương Phật, thương thầy của mình thôi, không biết thương yêu kẻ khác thì đó đâu phải là tu. Phật là người đại từ, đại bi thương chúng sinh, Phật đâu phải là người vô tình. Mặt trời tỏa ánh sáng cho khắp mọi loài, cho cả thế giới, cho khắp vũ trụ, không tỏa riêng cho người giàu, cho nước Mỹ, Canada, hoặc cho riêng trái đất.
Ở Việt Nam trong thời chiến, khi nghe tin người yêu tử trận, nhiều cô nữ sinh ngất xỉu, thấy bầu trời sụp đổ, không còn lẽ sống, có cô quyên sinh tự tử. Ðó là vì dồn hết tình yêu vào một cá nhân, một đối tượng. Một bà mẹ có đứa con cưng độc nhất, chẳng may nó bị bệnh qua đời, bà ta có thể đau khổ phát điên lên được. Nhưng nếu bà ta có mười đứa con và bà thương yêu mười đứa như nhau thì chắc chắn bà sẽ chỉ đau khổ một phần mười mà thôi.
Ở Làng Hồng, vào mùa hè mỗi năm, có rất nhiều gia đình gồm vợ chồng con cái về làng tu học. Thầy Nhất Hạnh giảng dạy những cách thức sống làm sao cho gia đình được hạnh phúc. Có nhiều người 'chuyên tu' phàn nàn rằng thầy không chịu dạy tu mà chỉ dạy hạnh phúc gia đình, thầy chú trọng về đời nhiều! Có lẽ những người này cho tu chỉ là tụng kinh, ngồi thiền, niệm Phật thôi. Quan niệm tu như vậy thật là giới hạn. Từ đấy họ suy ra một ông thầy tu chỉ biết gõ mõ tụng kinh thôi, ngoài ra không biết gì về việc đời. Ðương nhiên cũng có những thầy tu như thế chứ không phải không, nhưng theo Ðại Thừa Phật giáo, một thầy tu là người phát nguyện tự lợi, lợi tha, đi vào cuộc đời để cứu nhân độ thế. Ngay cả người cư sĩ sống trong đời cũng chưa chắc hiểu được cuộc đời. Một thầy tu có thể nghiên cứu tâm lý học, phân tâm học, xã hội học, nhân chủng học, v.v... để hiểu rõ những căn bệnh của con người và để dễ dàng độ sinh hơn.
Người cư sĩ tại gia hãy còn sống với gia đình, nay học cách thức làm sao cho gia đình hạnh phúc, đó không phải là tu hay sao? Ðây cũng là nhân thừa Phật giáo, hay nói cách khác là nhân đạo (con đường làm người). Nhiều lúc nhân đạo chưa xong mà đòi ngay Phật đạo.
Tóm lại sống làm sao cho cuộc đời trở nên đáng sống, có ý nghĩa, có lý tưởng, có thương yêu, hiểu biết thì đó là Ðời Ðạo. Còn chạy theo Ðạo mà quan niệm hẹp hòi, bảo thủ cố chấp, không khoan dung độ lượng thì đó là Ðạo Ðời. Có người sống cả đời chỉ để làm một việc lợi ích thôi, như Lão tử, đến và đi không tung tích, để lại độc nhất một quyển Ðạo Ðức Kinh giá trị vô cùng. Há không phải là một đại thiền sư hay sao?

ÐI TÌM Ý NGHĨA

Có bao giờ trong cuộc sống bon chen vội vã hằng ngày, ta dừng lại vài phút tự hỏi mình sinh ra đời để làm gì? Phải chăng để chạy theo sau đồng tiền, danh lợi, địa vị, tình yêu, sắc đẹp, của cải, v.v...? Ðể lập gia đình, sinh con đẻ cái nối dõi tông đường? Ðể gây dựng một sự nghiệp? Ðể tranh đấu cho một lý tưởng chính trị, kinh tế, xã hội, v.v...? Hay để đơn giản đi làm kiếm ăn sống qua ngày như bao nhiêu người khác? Ðể rồi một ngày kia nằm xuống ra đi với hai bàn tay trắng?
Dừng lại vài phút để tự hỏi hay tự kiểm lại xem cuộc đời mình đang sống đây có ý nghĩa gì không? Mình có hài lòng với những gì đang có và đang sống không? Những cái đó có đem lại cho mình hạnh phúc hay không? Hay mình chỉ làm một kẻ nô lệ, một người máy rô bô mặc cho xã hội vật chất lôi kéo điều khiển.
Ở đây không bàn đến những người vô thần vô đạo, chủ trương duy vật, sống chỉ để hưởng thụ, chết là hết. Ngay trong Phật giáo, đa số cho rằng sinh ra ở đời để tạo nghiệp và trả nghiệp, vay trả trả vay mãi mãi không ngừng. Quan niệm này đúng chứ không sai, đứng trên luật nhân quả mỗi khi ta cử động, nói năng, suy nghĩ một chút dù chỉ vài giây cũng là tạo nghiệp và như vậy đương nhiên sẽ gặp quả báo tránh sao cho khỏi. Nhưng quan niệm này nếu không khéo có thể khiến cho người ta trở nên thụ động, gặp việc gì cũng đổ tại nghiệp rồi ngồi yên chịu trận.
Cuộc đời đã lắm khổ đau, sao ta không tìm những quan niệm khác giúp ta lạc quan hơn trong cuộc sống? Ðối với tôi, con người sinh ra ở đời để học hỏi những kinh nghiệm để tiến hóa. Mỗi kiếp sinh ra là một lớp học. Ta có thể chọn học một hoặc nhiều môn, nhưng bài học phải được hiểu và học cho xong mới được lên lớp.
Ta lấy vợ lấy chồng không phải để thỏa mãn tình cảm nhục dục hay lấp vá cô đơn mà để học thương yêu và sống chung hòa hợp.
Ta sinh con đẻ cái không phải để tiếp nối giòng dõi hay để nhờ vả khi về già mà là để chính ta tập học làm cha làm mẹ, tập thương yêu dạy dỗ giúp đỡ con cái.
Ta làm vua hay tổng thống một nước không phải để ăn trên ngồi trốc, bóc lột của dân mà để học thương dân trị nước.
Ta làm bác sĩ, nha sĩ, dược sĩ không phải để có nhiều tiền hay danh vọng mà để học cách giúp đỡ thương yêu bệnh nhân.
Ta làm bác học, kỹ sư không phải để chế ra những vũ khí máy móc sát nhân hay nô lệ hóa con người mà để đóng góp xây dựng cho cuộc đời bớt khổ về vật chất.
Ta có thể tiếp tục nói về từng nghề nhưng tóm lại tất cả nghề nghiệp trong đời từ cùng đinh hạ tiện cho đến quý phái sang trọng, không có nghề nào thực sự hơn nghề nào vì nghề nào cũng có giá trị và cùng đóng góp cho sự tiến hóa của nhân loại nếu ta đứng trên quan niệm đời là một trường học tiến hóa.
Trong kinh Pháp Hoa và Niết Bàn, đức Phật nói tất cả chúng sinh đều có Phật tánh và đều sẽ thành Phật. Vậy nếu nói theo tinh thần Pháp Hoa thì mỗi kiếp sinh ra đời là mỗi kiếp cho ta cơ hội học hỏi để tiến dần đến Phật quả.
Còn một quan niệm nữa, đó là không phải ai sinh ra đời cũng để tạo nghiệp vay trả trả vay, hoặc để học hỏi tiến hóa. Có những người đã học xong hoặc đã tiến hóa rất xa so với người thường, họ trở lại thế gian hay cõi Ta Bà với một sứ mạng cứu nhân độ thế, hay nói cách khác là giúp nhân loại tiến hóa. Những người này không hẳn phải là những giáo chủ nổi tiếng như Phật, Chúa, Mahomet, Khổng tử, Lão tử, v.v... hoặc các vị lama Trulku Tây Tạng mà là những người thường sống ngay bên cạnh chúng ta.
Ðiều quan trọng cần nhấn mạnh là chúng ta có muốn tỉnh thức để học hỏi tiến hóa hay không? Hay là tiếp tục sống đời vay trả trả vay, sống như những đàn cừu, như những người máy!

TÌNH DỤC

Hỏi: Trong quyển Ðạo Gì thầy nói về năng lượng tính dục (énergie sexuelle), nhiều người cho rằng thầy chủ trương tình dục.
Ðáp: Không nên lẫn lộn năng lượng tính dục (énergie sexuelle) với tình dục (sexe). Khi tôi nói về năng lượng tính dục không có nghĩa là khuyên quý vị làm tình! Người mà phán xét tôi như vậy có vẻ hơi hấp tấp và cùng lúc cho thấy người này có nhiều mặc cảm đối với tình dục. Tôi xin nhấn mạnh là tôi không chủ trương tình dục, nhưng tôi không sợ nói về tình dục. Ai cũng biết ái dục, tình dục hay dục vọng (những ham muốn sai lầm) đều là nguyên nhân đưa đến đau khổ. Nhưng không phải vì thế mà ta không dám nói đến. Tôi lấy thí dụ về thuốc lá. Một người nghiện thuốc lá hay một nhà buôn thuốc lá, khi nói về thuốc lá họ sẽ ca tụng quảng cáo thuốc lá và dụ dỗ người khác hút thuốc lá. Nhưng một ông bác sĩ phổi, khi nói về thuốc lá, sẽ nói về sự nguy hiểm, tai hại của thuốc lá đối với sức khỏe. Hai bên đều nói về thuốc lá nhưng với mục đích hoàn toàn khác nhau. Những tiểu thuyết tình cảm, báo chí khiêu dâm, khi nói về tình dục, sẽ khêu gợi và kích thích lòng dục của con người. Trong khi đó trong quyển Ðạo Gì tôi chưa hề nói về tình dục mà chỉ mới nói về năng lượng tính dục. Không nên lẫn lộn tính dục và tình dục. Chữ tính hay tánh là một nguyên lý (principe), tính dục là nguyên lý của sự ham muốn. Còn tình dục là sự khao khát về nhục dục.
Từ lâu trong các tôn giáo, vấn đề tình dục (sexe) là một điều cấm kỵ (tabou) không được đả động đến, không được hé miệng nói đến. Vì đó là một điều 'bậy bạ'! Nhưng có phải không nói đến điều 'bậy bạ' đó là chúng ta trở thành thánh thiện và không còn ham dục nữa chăng?
Tam độc: tham, sân, si là ba thứ độc nguyên nhân của khổ đau, có phải không được nói đến ba thứ 'độc' đó là chúng ta hết tham, sân,si chăng?
Khi trong người bị bệnh ung thư (cancer), ung thư có nghĩa là thịt thối, đi khám bác sĩ, ta bảo bác sĩ đừng nói đến chữ ung thư vì chữ đó nghe 'ghê' quá, như vậy ta có hết ung thư chăng?
Chúng ta bị ảnh hưởng rất nhiều về quan niệm tu là phải diệt dục, diệt trừ tham, sân, si, tiêu diệt giặc phiền não. Toàn là tiêu trừ, tiêu diệt, đoạn diệt, v.v... Qua những danh từ như thế là thấy có chiến tranh rồi. Tôi vẫn biết có nhiều kinh bàng bạc những quan niệm như thế, đó là những kinh thuộc tư tưởng Nam tông. Nếu quý vị thích tu theo kiểu diệt dục thì cứ theo các kinh đó mà tu. Theo tư tưởng Bắc tông, nhất là hệ bát nhã thì không có gì sinh và cũng không có gì diệt. Các pháp bất sinh bất diệt.Từ đó không có quan niệm diệt phiền não mà là chuyển phiền não. Phiền não không bị tiêu diệt như kẻ thù mà được chuyển thành bạn, thành bồ đề. Tình yêu nam nữ ích kỷ, chiếm hữu không bị tiêu diệt mà được chuyển hóa thành tình bác ái, tình thương nhân loại (amour universel), thành lòng từ bi (amour et compassion).
Dù muốn diệt dục hay chyển dục đi nữa cũng cần phải quán chiếu để sự tu tập được dễ dàng. Về dục (ham muốn), đạo Phật thường đề cập đến năm loại (ngũ dục): tiền của, sắp đẹp, danh vọng, ăn uống và ngủ nghỉ.
Nếu ta ham tiền thì ta phải quán chiếu xem tiền bạc là gì? Ðộng cơ nào thúc đẩy ta tham tiền, thích vơ vét tích trữ tiền của?
Nếu ta ham sắc thì phải quán chiếu sắc đẹp là gì? Ðộng lực nào thúc đẩy ta cứ nghĩ tới sắc đẹp, đứng ngồi không yên?
Về sự diệt dục, kinh sách có dạy quán chiếu về sự bất tịnh của thân thể (bất tịnh quán), xem người đẹp yêu dấu là một túi da hôi thúi (xú bì nang), hoặc vào nghĩa địa nhìn thây ma tan rữa (cửu tưởng quán), v.v... Nhưng đó mới chỉ giúp ta phân nửa trả lời sắc đẹp là gì, tức là quán chiếu đối tượng của dục. Ta chưa hiểu động lực nào đã thúc đẩy ta tham dục. Có thể vì thấy đàn bà con gái là túi da hôi thúi nên ta không ham sắc nữa, nhưng lòng dục vẫn còn và ta đi tìm đối tượng khác, như ham tiền hay ham danh chẳng hạn. Cũng có người không mê sắc đẹp mà họ yêu cái tánh nết thùy mị đoan trang của tình nhân, trong trường hợp này bất tịnh quán sẽ hoàn toàn thất bại!
Dục là một chướng ngại rất lớn cho người tu hành, dù đó là tu sĩ hay cư sĩ. Ấy vậy mà ít ai chịu tìm hiểu sâu xa để giải tỏa. Chỉ toàn là những điều cấm đoán hoặc làm ngơ. Giống như con đà điểu (autruche) gặp thợ săn, bỏ chạy chúi đầu vào bụi cây để lộ thân ra ngoài rồi cho đó là an toàn.
Trên thế giới hiện nay có một bệnh hiểm nghèo, đó là bệnh Sida (Aids). Nhiều bậc cha mẹ không dám nói tới, bàn tới vì cho đó là điều 'bậy bạ'. Một ngày kia con mình lén lút mang bệnh, xấu hổ bỏ nhà ra đi. Những bậc cha mẹ này tự mình không hiểu hiết, không học hỏi, lại còn gây thêm mặc cảm tội lỗi cho con cái!
Trở về vấn đề tình dục, người nào cảm thấy mình tu hành khá, không còn ham dục ham sắc nữa thì hoan hỷ bỏ qua đừng để ý đến phần này. Ở đây chỉ bàn cho những ai còn dính mắc vào tình dục và muốn tìm phương giải tỏa.
Có nhiều cách giải tỏa, hoặc tập thể dục thể thao, hoặc chuyển hóa và thăng hoa theo giáo lý luân xa hoặc qua nghệ thuật sáng tác như thiền cắm hoa, thiền thủ bút (calligraphie), điêu khắc, hội họa, âm nhạc, v.v...
Tóm lại như tôi đã nói trong quyển Ðạo Gì, năng lượng tính dục hay bất cứ năng lượng nào khác cũng cần được hiểu để xử dụng và chuyển hóa trong việc tu hành. Tuy nhiên có nhiều người, khi nghe tới hai chữ 'tình dục', họ cảm thấy khó chịu, bất an, và 'bậy bạ'. Vậy thì đây là một cơ hội để họ nhìn lại, quán chiếu vì sao họ có mặc cảm với danh từ 'tình dục', dù đó chỉ là hai chữ. Chắc chắn nó đã gợi cho họ những kỷ niệm khổ đau, hoặc những cảm tưởng xấu xa, hay nói cách khác là những cái tưởng không tốt đẹp gì. Họ đã tưởng gì về tình dục, tưởng gì về năng lượng tính dục?

TÌNH YÊU VÀ ÁI LUYẾN
Nhiều lần tôi nói về tình thương, đối với tôi tu không phải là dứt tình (đoạn tình) mà là chuyển tình. Nhưng một thầy tu mà nói về tình thương hay tình yêu không khéo sẽ có Phật tử hiểu lầm ngay. Ở cõi Ta Bà này là cõi nhiều chuyện nên Phật Thích Ca đã phải nói suốt 45 năm, ấy vậy mà vẫn còn nhiều người hiểu lầm. Sau cùng Phật phải tuyên bố: từ lúc thành đạo cho đến nhập niết bàn, ta chưa hề nói một lời nào.
Trước hết ta cần phân biệt giữa tình thương và ái luyến. Trong tiếng Việt, hai chữ thương và yêu hình như được dùng lẫn lộn, thương với yêu đồng nghĩa, có người nói thương là tiếng bắc, còn yêu là tiếng nam, hoặc ngược lại. Song le trong sự bày tỏ tình cảm, chữ thương có vẻ nhẹ hơn chữ yêu. Nhiều khi rắc rối quá người ta nói luôn hai chữ cho rồi.
Trong vòng giây xích 12 nhân duyên, vòng thứ 8 là ái (tanha), tiếng Việt dịch là yêu hay thương. Tôi nghĩ nếu chỉ có ái không thôi thì chắc không có vấn đề gì, nhưng vì yêu (ái) rồi muốn nắm giữ (thủ) làm của mình (hữu) nên mới sinh ra ái luyến. Chữ luyến có nghĩa là yêu mến không rời bỏ ra được. Do đó tình yêu trai gái thường được gọi là ái luyến, cô cậu một khi yêu nhau thì không thể rời xa nhau được, tiếng Pháp là amour-attachement. Có lẽ vì chữ yêu (ái) còn mang nhiều tính chất của vô minh nên trong đạo Phật người ta không thích dùng hoặc không dám dùng nó mà thay thế bằng chữ từ bi. Từ bi tiếng Pali là metta-karuna, tiếng Pháp dịch là amour (từ)-compassion (bi). Theo Hán-Việt thì từ là tình thương hay sự hiền lành, bi là thương xót, thương hại. Sau này khi nói đến từ bi, quý thầy dịch cho gọn là ban vui cứu khổ. Nhưng ban vui cứu khổ chỉ là kết quả hay sự thể hiện của cái tình bên trong. Có thương và xót thì mới ban vui cứu khổ được chứ!
Từ từ hai chữ từ bi có vẻ đi gần và hợp với tình thương hơn là tình yêu. Một thầy tu mà nói yêu Phật tử thì thật loạn luân, không thể chấp nhận được, nhưng nếu ông ta đổi đi một chút, nói thương Phật tử thì người ta sẽ bảo là ông từ bi. Cũng cùng là một thứ tình nhưng nếu phát ngôn không đúng với tâm lý xã hội thì sẽ có chuyện ngay.
Con người là loài hữu tình, có quả tim nên ai cũng biết thương, biết yêu, nhưng hầu như mọi sự thương yêu đều dẫn đến thủ hữu, bám víu và ái luyến. Vì ái luyến nên mới đau khổ. Nếu ái mà không luyến, không thủ hữu thì ái (yêu) trở thành từ bi. Vì thế công việc tu hành không phải là cắt ái mà là chuyển ái thành từ, nói cách khác là ái mà không luyến.
Ðối với tôi tình yêu hay tình thương đều được, miễn sao biết yêu thương đúng mức, đúng nghĩa, yêu mà không dính mắc, bám víu, không chiếm làm của mình, yêu một cách sáng suốt tỉnh thức, không ích kỷ và nhất là không được xem đối tượng yêu như một món vật mà là một con người.
Sau đây tôi sẽ dùng chữ yêu, nói về tình yêu để thay đổi không khí, mong quý vi đừng hoảng sợ, nhất là quý vị Phật tử thuần thành ngoan đạo.
Nếu ta thực sự yêu một người nào, ta sẽ không tìm cách thay đổi hay biến người đó theo ý mình, ngược lại ta sẽ giúp người đó tìm lại tư cách của họ, trở thành chính họ và không còn lệ thuộc vào ta nữa.
Thông thường khi yêu nhau, người ta hay có khuynh hướng xâm lấn vào thế giới của người yêu và vô tình tước đoạt dần tự do của người kia. Từ từ tình yêu đẹp đẽ ban đầu bị biến thái, trở thành chiếm hữu, ghen tuông, tranh dành quyền lợi, muốn điều khiển kẻ kia, v.v...
Nếu biết yêu thực sự, không vô minh ái luyến thì tình yêu trở thành một sự tự do vô bờ bến. Và tình yêu này bắt đầu ngay nơi bản thân mình, cá nhân mình, tức là ta phải biết yêu thương mình trước hết. Ta đừng làm kẻ ăn mày đi xin xỏ tình yêu. Ta có dư đủ tình yêu để ban cho mình kia mà! Vì không biết hoặc quên đi điều đó nên ta phải tìm mọi cách, mọi thủ đoạn để khiến người khác yêu ta, ban cho ta những gì ta muốn. Vả chăng nếu người kia có yêu ta đi nữa thì động lực vô minh ban đầu đã khiến cho tình yêu này bị ô nhiễm, trở thành một thứ tình yêu lợi dụng, đổi chác.
Trí huệ hiểu biết rất cần thiết để chuyển hóa tình yêu say mê thành tình yêu chân thật tự tại. Yêu say mê hay si tình là một thứ ái luyến, bám víu và ràng buộc. Tình yêu chân thật có tính chất cởi mở và thông cảm.
Trên đời, người ta yêu nhau, cưới nhau đều đều, nhưng chắc ít có ai biết yêu thực sự. Chỉ có những người trưởng thành tâm linh mới biết yêu đúng với ý nghĩa của tình yêu. Một cặp vợ chồng yêu nhau, quyến luyến nhau, không rời nhau được, đó chỉ là một loại tình yêu ái luyến mường tượng, tức là có vẻ giống như tình yêu nhưng không phải tình yêu.
Một người đã tìm lại được chính mình, biết sống thực với mình, biết thương yêu chính mình thì tự thân người này tỏa ra hào quang của tình yêu. Một người vô ý thức, không biết chính mình, không biết thương yêu mình thì làm sao có tình yêu dư thừa để toát ra ngoài được! Chính vì thế mà anh ta cần phải đi tìm tình yêu từ bên ngoài, giống như một kẻ ăn xin đi gặp một người ăn xin khác và tưởng rằng người kia sẽ có tình yêu cho mình. Nhưng cuối cùng cả hai đều thất vọng và cảm thấy như bị lường gạt. Làm sao ta có thể ban cho người khác những gì mà chính ta không có? Làm sao thương yêu kẻ khác khi chính ta không biết yêu thương mình? Tệ hơn nữa là sau khi thất vọng, thất tình, vì không hiểu biết nên người ta lại đổ lỗi cho nhau, người này bảo lỗi tại người kia...
Khi tình yêu biết cho, biết ban ra, đó là tình yêu thực sự. Khi tình yêu chỉ biết lấy vào, ôm vào, đó là tình yêu giả mạo, một sự khát ái, cần tình.
Tình yêu có ba trình độ:
* Trình độ thứ nhất thuộc thú tánh, mang nặng tính chất sinh lý, nó phát hiện một cách tự nhiên và vô ý thức. Thí dụ một người đàn ông gặp một người đàn bà đẹp, có hình dáng hấp dẫn, thì tự nhiên anh ta như bị thu hút, khởi tâm ưa thích và yêu người đàn bà kia.
* Trình độ thứ hai bớt thô trọc hơn, nó không còn là sự hấp dẫn giữa hai thể xác mà là giữa hai tâm hồn. Nó mang nặng tình cảm hơn là sinh lý. Nhưng nó cũng chịu chung một quy luật, luật vô thường: thành, trụ, hoại, diệt, nói cách khác nó phát sinh rồi sẽ đi đến tàn lụi, chìm dần vào vô thức.
* Trình độ thứ ba thuộc tâm linh. Ðến trình độ này ta không còn yêu ai nữa, không yêu một người hay một đối tượng nào nữa, vì ta với yêu là một, ta là tình yêu, tình yêu là ta. Tình yêu này không hướng vào một đối tượng cá nhân, nếu cần đối tượng thì đối tượng sẽ là cả vũ trụ pháp giới. Tình yêu này tự nó tỏa ra yêu thương như mặt trời tỏa ánh sáng, như bông hoa tỏa mùi thơm dù có hay không có ai ở đó thưởng thức. Loại tình yêu thanh tao và cao thượng này thường là do kết quả của thiền quán hay sự chín mùi của tâm linh. Nó phát sinh khi ta tỉnh thức nhận ra mình là ai và biết sống thật với chính mình. Người mà ý thức được mình với sự sống là một thì biết được tình yêu này. Nó là căn bản mà cũng là cứu cánh của tất cả tôn giáo, đạo giáo. Chúa Giê-Su có nói: 'thương người như mình ta vậy'. Ðức Phật nói bồ tát thương yêu chúng sinh như con một.
Ða số người đời khi nói về tình yêu, họ chỉ biết đến hai trình độ hay hai loại tình yêu đầu. Hai loại tình yêu này thường được người tu xem là giây oan nên họ tìm cách dứt tình. Nhưng làm sao dứt tình được, họ chỉ chuyển tình của họ đến Chúa, đến Phật. Nhưng nếu chỉ biết yêu Chúa, thương Phật thôi, không biết thương yêu kẻ khác thì vẫn chưa đạt đến loại tình yêu thứ ba này. Tu là tập chuyển tình, chuyển hai loại tình yêu nhục dục và ái luyến thành loại tình yêu cao thượng.

ÁI LUYẾN

Ái luyến là muốn người, vật và hoàn cảnh luôn luôn như ý mình và không bao giờ thay đổi. Không muốn thân xác mình già yếu, không muốn tình cảm thay đổi, không muốn tình yêu phai nhạt. Mỗi khi bắt đầu yêu một người nào thì liền có ái luyến theo sau, và đương nhiên là dẫn đến phiền phức và khổ đau. Vì ái luyến ta trở nên chiếm hữu, sợ mất người yêu hoặc người yêu của ta sẽ yêu kẻ khác... Từ đó ta phải suy nghĩ tính toán mưu kế để giữ gìn người yêu. Vô tình ta xâm lấn tự do và biến người yêu thành một món đồ, một vật sở hữu. Cuộc tình ban đầu dần dần trở thành một sự giằng co: một bên xâm lấn, một bên dành lại độc lập tự do. Và nếu cứ tiếp tục sống bên nhau thì chả còn tình nghĩa gì nữa mà là hỏa ngục, danh từ trong đạo gọi là oắn tắng hội khổ. Vì thế ái luyến là thuốc độc của tình yêu, tàn hoại tình yêu.
Nếu chưa yêu được theo trình độ thứ ba thì ta vẫn cứ yêu, nhưng phải học và tập yêu với sự hiểu biết thông cảm, không chiếm hữu, không ghen tuông. Yêu là một nghệ thuật, muốn yêu cho có hạnh phúc ta cần phải học vì bản chất yêu của người đời là ái luyến chứ không phải là yêu theo nghĩa thứ ba đã nói ở trên, không phải tự nhiên mà ta có thể yêu theo kiểu Chúa hay Phật được.

CHIẾM HỮU

Chiếm hữu là biểu tượng của sự nghèo nàn và thèm khát. Người nghèo nàn thiếu thốn tình thương bao nhiêu thì thường có khuynh hướng chiếm hữu bấy nhiêu. Tình yêu chiếm hữu cũng giống như tình trạng của một đứa bé khát sữa đòi bú mẹ. Nhưng mẹ nó bận việc không cho bú được nên nó đâm ra tức tối, giận hờn, ganh tỵ.
Một người trưởng thành về tư tưởng thì không thể chiếm hữu được. Làm sao có thể bắt người khác phải thuộc về ta? Phải thương yêu ta? Mỗi khi gặp nạn hay khổ đau mà đổ lỗi cho người khác, đó là thái độ ấu trĩ nhất trên đời. Một người biết ban bố, chia xẻ thương yêu là người đang làm thể hiện Phật tánh bên trong. Cũng thế, mỗi khi ta cảm thấy muốn đòi hỏi, chiếm hữu, lấy về làm của mình thì phải nhận thức rằng ta đang làm hiển lộ cái tánh ấu trĩ, con nít bên trong. Lúc đó ta hãy ghi nhận, quán sát cái ta con nít đó xem nó biến chuyển và lôi kéo ta như thế nào? Không cần trách mắng hay xua đuổi, chỉ cần nhận diện và quan sát nó. Nhờ tỉnh thức nhận diện, quan sát thường xuyên cái ta con nít bên trong (the baby within) ta sẽ giúp nó trưởng thành. Trước khi muốn thành Phật thì phải thành người trước đã.

HẠNH PHÚC

Hạnh phúc là mục đích sống của con người, là điều mà ai cũng muốn tìm. Nhưng ta không thể xác định hạnh phúc là gì vì nó tùy trình độ tiến hóa của mỗi người.
Nhân loại có thể được xếp thành ba hạng:
- Hạng thứ nhất là những người còn mê ngủ.
- Hạng thứ hai là những người sửa soạn gần thức giấc.
- Hạng thứ ba là những người đã tỉnh giấc, không còn mê ngủ.
Hạng thứ nhất, hạnh phúc đối với họ là những cảm giác khoái lạc thuộc về thể xác như ăn uống, thỏa mãn nhục dục. Suốt đời họ lo chạy đi tìm hạnh phúc, nhưng loại hạnh phúc này rất mong manh. Mong manh ở đây không có nghĩa là không có, nó có nhưng không kéo dài được, thoáng có để rồi nhường chỗ ngay cho sự thèm khát khổ đau. Loại hạnh phúc này rất nguy hiểm, đạo Phật thường ví nó như kẻ khát uống nước muối, càng uống càng khát, hoặc như liếm mật trên lưỡi dao, thoáng nếm vị ngọt nhưng bị đứt lưỡi ngay sau đó.
Càng đi tìm hạnh phúc lại càng thèm khát và không bao giờ được thỏa mãn. Vì thế hạng người này phải tìm cho nhiều, nhiều tiền, nhiều danh, nhiều sắc, họ sống trong ảo tưởng về số lượng (quantité), nghĩ rằng nếu có nhiều thì mới được thỏa mãn hạnh phúc.
Ðối với hạng thứ nhì, hạnh phúc thuộc về phẩm (qualité). Ðối tượng hạnh phúc của họ không còn là những thứ thô kệch như vật chất, sắc đẹp thể xác hào nhoáng bên ngoài, họ chú ý về phẩm chất nhiều hơn. Họ vẫn đi tìm khoái lạc cảm giác, nhưng thanh tao hơn, như nghe một bản nhạc hay, ngâm thơ vịnh phú, thưởng thức hương trà, ngắm kiểng cắm hoa, v.v... hoặc đàm luận với bạn bè, hoặc đơn giản được sống bên cạnh người yêu, người thân là họ cảm thấy hạnh phúc rồi. Loại hạnh phúc này thanh tao, sâu sắc và có vẻ lâu bền hơn loại hạnh phúc thứ nhất nhưng nó vẫn còn tùy thuộc vào đối tượng bên ngoài như thơ, nhạc, hoa, trà, cảnh, người, v.v...Và nếu ngày nào đó đối tượng kia mất đi thì hạnh phúc liền biến thành khổ đau.
Ðối với hạng thứ ba, hạnh phúc không còn tùy thuộc vào đối tượng bên ngoài nữa. Loại hạnh phúc này có thể được xem là hoàn toàn nhất. Hạnh phúc là sự bình an của tâm hồn, là sự tỉnh thức không còn ngủ mê trong đêm tối. Họ sống trong ánh sáng, không còn bóng dáng của chấp ngã lo âu, ham muốn bám víu vào một đối tượng bên ngoài. Họ sống trong hiện tại, bây giờ và ở đây, sống hòa nhịp với cuộc đời và sự sống. Loại hạnh phúc này là một loại sung sướng thứ thật (chân lạc), nó ở ngay trong ta và nó cũng chính là bản chất hay bổn tánh của ta.

THÍCH TRÍ SIÊU
(Góp nhặt- chương 3)

Sunday, October 30, 2005

Ngày cuối tháng Mười

"Tháng Mười chưa cười đã tối". Tháng Mười bóng tối kéo về nhanh hơn, khi đồng hồ được vặn lui lại một giờ. Dù sao, sáng nay My có quyền lười biếng, không dậy vội vàng khi bóng tối còn vây quanh. Thôi thì hãy vui với buổi sáng chẳng tất bật chạy theo kim giờ trên chiếc đồng hồ, để không nghĩ tới những chiều vội tối, như đi sáng- về đêm trong chừng đó giờ, làm việc.

Tháng Mười, sau cơn bão đi qua để lại riêng My những cơn gió đời thổi mạnh. Việc làm an nhàn bên cạnh toàn người dễ mến, dễ thương đã trở thành quá khứ. My chật vật với những ngày nắng mưa nhòa lang thang dong ruỗi. Để rồi nhìn ngày của tháng Mười ngắn, ngắn hơn, bên giờ làm mới của My dài hơn. "đừng để Blog héo khô, tàn tạ,cho đến khi em tưới tẩm, nâng niu chãm sóc lại thì cũng muộn màng rồi. Làm sao vực dậy, ban sự sống cho thân cây đã mục rã tự bên trong..". Biết thế, vẫn đành như thế. My không khô héo, lụi tàn là may! Mỗi buổi sáng không còn nhàn nhã, pha ly cà phê nóng đầu ngày, ngồi, viết, đọc thảnh thơi. Buổi trưa không còn ngồi lặng lẽ một mình, nghe nhạc, thiền hay viết một vài đoạn ngắn. Đoạn đường đi về của My hai buổi cũng kéo xa hơn. My đếm được 17 ngọn đèn ở mỗi ngã đường. Đã thử đi thêm hai con đường khác, nhưng không đường nào rút ngắn lại thời gian. My chọn đi "đường làng", vừa đi vừa đếm những ngọn đèn, tựa như vài người My biết dù bao năm sống ở hải ngoại vẫn chưa lần nào dám lái xe ra xa lộ. HH nghe My kể đã cười. Thong dong như My mà cũng muốn đi nhanh nữa sao? Nghĩ tới đêm về vội khi My ra khỏi nơi làm và hai đứa trẻ vẫn đợi mẹ về lo bữa tối làm sao không vội.

Cũng tháng Mười, gia đình cậu mợ dọn đi qua nơi ở mới. Không xa nhưng My cảm nghe như trống vắng nhiều. Căn nhà quen My thường đi bộ tới, và lái xe ngang mỗi buổi đi về suốt nhiều năm, bây giờ trở thành dĩ vãng. Những khuôn mặt lạ sẽ làm đầy căn nhà cũ. My không còn bao giờ ghé lại để mang cho mợ những món ăn mẹ nấu gởi cầm về. Hàn huyên với mợ và những cô em gái, chuyện đạo, chuyện đời trong cuộc sống hằng ngày. Những loại hoa bốn mùa thay nhau khoe sắc, chắc cũng sẽ theo về nơi mới của mợ từ đây. Sẽ không còn nghe tiếng chuông cửa gọi My vào sáng sớm, vào giờ My có thể mời mợ cùng ngồi uống ly cà phê pha vội cho hai mợ cháu trước lúc đi làm, để nghe Mợ nói một vài điều vướng mắc trong lòng, hay hỏi thăm mẹ và từng người thân của gia đình. Một đôi khi mợ tìm sang để check email, khi máy ở nhà bị trục trặc. Còn nhiều lắm những buổi sáng My ghé, ngồi ngắm hoa và trái mợ trồng ở vườn nhà. Một đóa hoa vừa nở, một chồi non từ nhánh ngắn mợ cắt và ươm thành cây con...My được chỉ cho xem và được một phần từ những chăm sóc, nâng niu đó. Đôi khi mợ còn mang qua trồng xuống cho My những cội hoa, vì biết My ngại làm nặng. Bên dãy hàng rào ở khu thương mại VN, có hàng cây palm lớn nhanh, là những cây palm mợ ươm từ hạt khô rụng xuống tặng My. Cội hoa vàng My không biết tên gì, cho những chùm rực rỡ bằng những cánh hoa mai ghép lại trước sân nhà My mỗi độ thu về, cũng là những cội hoa mợ lượm hột ở sân chùa, về uơm chờ cây lớn mang sang trồng xuống cho My. Hoa ở khắp nơi và nhìn đâu đâu My cũng thấy bóng dáng của mợ quanh My. Không dưng mà cảm thấy buồn khi mợ báo tin dọn đi qua nơi khác.

Chủ nhật rồi My đi bộ lang thang qua nhà mợ. Cánh cửa bên hiên nhà vẫn mở như tự thuở nào giờ. Giàn hoa ti gôn vẫn tươi thắm một màu. Những cánh hoa tim nhỏ xíu nở từng chùm mong manh đẹp kiêu sa. My chụp vội vài tấm hình trước khi hoa tàn, và người lạ sẽ có mặt trưóc khi mùa Thu hết. Dưới giàn hoa ti gôn mát rượi bên hiên nhà mợ, My còn nhìn thấy những ly và phê đã khô, cạnh chiếc băng dài My thường ngồi. Mợ có lẽ lo dọn vội vã bên trong, nên còn để lại dấu tích khiến My gợi nhớ. Mợ đi rồi, giàn hoa ti gôn chỉ còn là kỷ niệm. Băng ghế dài và chỗ ngồi quen thuộc sẽ không bao giờ còn có My hiện diện. Tấm hình chụp hoa ti gôn sẽ gởi cho người anh xa ngắm. My lặng lẽ đi về duy nhất một lần không gặp người nào.

Tháng Mười hết, con trai theo hỏi. Mẹ ơi, mình sẽ đi đâu bữa hôm nay? Đi thăm bà ngoại rồi mẹ có đi mua kẹo hay không? My nhìn con lắc đầu. Mai mẹ về muộn chắc không kịp mở cửa ra cho kẹo đám trẻ con giống mọi năm. Con trai nhìn My thất vọng. Rồi mẹ cũng không dắt con xin kẹo nữa sao? Nhìn mắt con ngó xuống buồn hiu. My bảo con nói bố ráng về sớm may ra kịp. My không nhớ đã có bao nhiêu lần dẫn con đi vòng quanh khu xóm. Năm dẫn con đi lần đầu, nhiều người lầm tưởng là My cùng đi kiếm kẹo với em trai, bảo My sao không bước lại gần hơn đưa giỏ kẹo ra cho họ bỏ vô. My cười, nói chỉ cần cho con trai là đủ. Khi con trai lớn chưa kịp chán ngày Halloween theo tuổi lớn, My tiếp tục mỗi năm dẫn đứa em đi. Nhìn kẹo ê hề sau một vòng đi qua khu xóm quanh nhà, rồi sau đó phần nhiều là đem bỏ vì ngại chẳng an toàn khi ăn, chợt nhớ thời tuổi nhỏ và thương cho những đứa trẻ nơi quê nghèo bên đó. Mẹ ơi, nhiều kẹo ngon con thích. Không phải kẹo rời mà từng thỏi nhỏ riêng. Mẹ cho con giữ lại, đừng quăng nha mẹ! My không hiểu mọi người đã tiêu biết bao nhiêu cho lễ hội này. Quần aó hoá trang, kẹo và đồ dùng trang trí trong ngoài những ngôi nhà. Chưa kể tiệc tùng cho ngưòi lớn rủ nhau vui ké...Nhìn kẹo bày bán ê hề và được tiêu thụ gần như ít khi ế ẩm, My chợt thấy vô lý làm sao vì mua về để cho đi, như trao tặng chút niềm vui trong khoảnh khắc thôi, vì ngưòi nhận rồi đem vứt bỏ.

My đang cười nhận ra My lẩn thẩn nhiều. Sống bao năm nơi xứ người sao còn bơi ngược giòng. Không thấy My đã từng dừng lại trước sân nhà thờ trên con đường có cây cao bóng mát êm đềm. Cũng chỉ để chụp vội tấm hình những trái bí ngập đầy sân, trong một buổi sáng tình cờ ngang qua từ tháng trước.

Quỳnh My

Saturday, October 08, 2005

Tìm nhau

Đêm khó ngủ, có lẽ vì My ăn tối muộn. My chợt nghĩ về Tường Vi. Quá nửa đêm ở bên này mà ở nơi kia, chỗ Vi ở, là chiều dần đến. Cách nhau 15 múi giờ vẫn là khoảnh nhớ của không gian đùa dai. My không giật mình khi thỉnh thoảng nhận phone của nửa đêm về sáng từ Vi. Đang buổi chiều bên kia, vậy mà Vi thảng thốt. Trời ơi, My làm Vi mừng đứng tim luôn, vì đang lo, lo không biết My về đâu trong cơn bão. Vi vừa định gọi thì bất ngờ nghe tiếng của My, hỏi làm sao không khỏi rộn vui.

Xa nhau hơn 23 năm. Hai trẻ xưa giờ là hai bà mẹ, với nhiều trăn trở về con. Ngày thơ, tình thơ đã thành chuyện cổ tích, phủ nhiều lớp bụi mờ. Chỉ hai đứa hiểu, người cùng đi bên cạnh cuộc đời dường như không đủ thời giờ, hay dường như không sót lại những cố gắng; để hiểu. Qua câu tình cờ gợi lại, chợt nhận ra nỗi trùng hợp, bởi cả hai cùng vướng vào oan khiên, khó giải thích được bằng lời. "Đời con gái, cũng cần dĩ vãng, mà tôi em chỉ còn ..." Vi ơi, dĩ vãng của riêng hai đứa mình là trời xanh, mây trắng. Là những ước mơ và gìn giữ cho mai sau, dẫu đời chưa biết về đâu. Ai bảo mình như trang sách. Mở ra cho tha nhân đọc. Chuyện tình khép, thật sự khép sau khi đời qua bến lạ. Hai đứa chống, hai đứa chèo, hai đứa mỏi sức, mòn hơi trên giòng nước ngược. Cách nào để nói những điều không dễ?. Mà cũng không có sẵn ngôn từ dành cho những người trong cảnh huống giống tụi mình. My thương Vi đời như chiếc lá, cuốn xoay trong cơn gió nghiệp giống My. Thật ra, My không khốn đốn, bận lòng nhiều. Hãy nghĩ mình vẫn như mây trắng, lúc hợp lúc tan trong khoảng không gian lồng lộng. Mặt trời đôi khi sẽ bị mây che khuất nhưng mây trắng vẫn có đó và sẽ còn bay mãi cho dù trời làm giông bão.

My có "bùa hộ mạng" là pháp Phật. Thương cho Vi khép kín, sống thầm nơi tỉnh nhỏ xa xôi của xứ tạm dung. Phải chi hai đứa về gần nhau, My sẽ nắm tay Vi cùng bước vào cửa đạo. Đừng để hai đứa con "giành" độc quyền hai máy. Đừng nghĩ Vi không có chút thời giờ cho riêng mình. Làm việc, làm vợ và làm mẹ... không chỉ riêng hai đứa mình bận rộn vậy đâu. Chưa kể trong thời khóa biểu hằng tuần, hai đứa không hề có khoảng giờ nào dành cho việc giải trí, cho bạn bè. Hãy nhớ giữ cho riêng Vi một khoảng không gian. Ở đó chắc chắn không có bóng dáng một khuôn mặt lạ. Như hai đứa mình đã đồng ý với nhau trong nửa đêm về sáng vừa rồi.

Con tim đã khép, không có nhịp đập nào đi lạc, dù hạnh phúc từ lâu vẫn là hư ảo, mong manh; không nhìn thấy, không nắm bắt. Vi làm My vui lẫn ngạc nhiên, khi nói ra ý nghĩ : Nếu như được làm thêm lần chọn lựa, Vi chọn có trong đời một tri kỷ, đủ rồi. Không xôn xao mê đắm yêu thương, để bám, để sợ mất và đòi hỏi được thương yêu đáp lại. Rồi thất vọng, buồn đau theo những tháng của năm... Mừng cho Vi đã thoát ra vòng tham đắm, yêu mê. My ước gì Vi mạnh dạn bước vào ngôi nhà Phật pháp, để thấy đoạn đường đời còn lại mình không bước đi như kẻ mộng du, chẳng biết về đâu. Sống cho qua hết đời chỉ vì con, nghe sao buồn quá. Con rồi lớn, rồi có đời riêng. Chưa kể kéo theo những khổ đau, hạnh phúc; nước mắt và tiếng cười khiến lòng người làm mẹ tơi bời, giống như mẹ của tụi mình. My muốn nhắc Vi chút này thôi. Mình tưới nước, bón phân, cần mẫn, siêng năng lên hạt giống là con. Nhắc nhở, dạy dỗ, dìu con đứng dậy khi vấp ngã, nhưng ráng đừng để bị ngã theo dù hạt giống có trổ hoa rồi đơm trái hay không? Tất cả đều là nghiệp, là duyên trùng trùng bất tận. Phải có duyên và nợ buộc ràng sẵn tự xưa rồi cho nên mới có nhau trong cõi tạm. Cuộc sống, cuộc đời còn lại, sẽ có ý nghĩa hơn, giúp mình khao khát sống, bớt buồn chán bi quan hơn khi biết đâu là mục đích, là điểm cuối cùng để dựa lấy tìm về.

Nghe Vi hẹn có thể sang năm mình gặp nhau, My mừng lắm. Đừng đợi cho đến lúc tạng mặt nhau bạn hiền xưa mới "thực tập" theo những chuyển đổi từ My . Dù hai đứa ở xa, My vẫn nghĩ có nhiều cách để chung đường. Chỉ cần Vi đừng để phai giòng mực địa chỉ email của My là được. Ngày đó thư viết bằng nét chữ lên trên mặt giấy, vậy mà hai đứa không để lạc nhau trong khoảng thời gian dài. Tại sao ngày nay chỉ vài phút là đọc được nhau, cũng như có cơ hội học và nghe nhiều điều rất đổi diệu kỳ, Vi còn e dè gì nữa mà lòng vòng, thơ thẩn? Đừng buông một tiếng than "tóc ngày xưa" chẳng còn xanh! Rồi lại hỏi My vì sao lại thong dong, cứ mãi cười tươi để chàng lo! My thật sự gần như xóa sạch trong cỏi riêng dấu vết ngày xưa. Cho đến khi cơn bão từ xa nhắn gởi lời đe dọa... Thành phố lớn xôn xao, cả nước Mỹ xôn xao và tình người năm xưa cũng lao đao. Những con sóng ào ạt ngày xưa ngoài biển rộng, tự lâu rồi đã trở thành con nước của mặt hồ phẳng lặng, im lìm. My nghĩ vậy, những người năm xưa chắc đều nghĩ vậy. Nhưng dường như bão dậy trong lòng những trái tim còn thổn thức dẫu già nua. Nhiều bóng dáng đã chôn vùi trong quá khứ, bỗng sừng sững hiện về đâu đó quanh My.

Những ngày Mẹ tránh bão nơi nhà em gái, là những ngày Mẹ thẩn thờ nghe lời băn khoăn lo lắng của nhiều người. Từ VN, từ xứ sở xa xôi Vi đang sống, không kể từ trên khắp nước Mỹ này. My thương Mẹ đã giật mình khi nghe lại những cái tên xưa. Không giấu nỗi xúc động. Mẹ mộc mạc, đơn sơ, trách nhẹ hỏi vì đâu suốt mấy mươi năm không lần lên tiếng hỏi han. My biết mẹ không nghĩ gì khi ấy, ngoài một trái tim đầy ắp thương yêu, vì mẹ vốn thương yêu luôn cả những đứa con rễ, làm người đi bên cạnh cuộc đời hoài điêu đứng, gian nan. Chỉ có vậy, không thêm lời nào riêng cho My hết, ngoài lời nhắn từ người mà thuở xưa từng mơ làm em rễ của My. "Con thương chị My, mãi mãi vẫn thương. Suốt đời con không bao giờ quên đuợc chị cho dù chỉ may mắn được có chị trong khoảng thời gian ngày đó ở bên nhà".

My không liên lạc, không lên tiếng một lần nào trong suốt mấy mươi năm đằng đẵng. Người trai trẻ giờ đã là cha, vẫn nói tự nhiên những lời thương nhớ chân thành. My an lòng với một nụ cười. Mừng cho đứa em xưa vẫn sống chân thật, nghĩ sao nói vậy, không e ngại, đắn đo. Còn nữa, những lo âu, khắc khoải, cầu mong từ những tình thân My có quanh đây. Tất cả đều lo My "thất lạc", không biết trôi nổi về đâu khi bão tố tàn phá nơi đây.

Ngừng nói chuyện với Vi là 3:45 sáng. My không nghe đồng hồ báo thức hôm nay. Dậy muộn hơn thường lệ, My bắt gặp lá thư gởi cho My để sẵn trên bàn đâu từ bữa tối hôm qua. Tên người gởi là tên một người đàn ông xa lạ. Seatle, Washington là địa chỉ ở bì thư. My ngạc nhiên đọc vội. Vừa xúc động, vừa mỉm cười một mình khi được gọi bằng "anh"- Anh Nguyên Thảo. Chợt biết, đây là một trong những Phật tử Thầy NT bên TVQĐ chuyển tên và đ/c cho My gởi tặng CD Phật pháp. My gởi tới nhiều người, không nhớ chuyện My làm như bệnh và thói quen sẵn có của My. Qua lời thư , người bạn đạo chưa biết mặt đã lo lắng, thành tâm nguyện cầu cho My và cả gia đình được may mắn bình an trong cơn bão dữ thổi qua đây. Cầu nguyện và thiết tha đưọc góp phần chia xẻ, nếu như gia đình My không may trở thành nạn nhân khi cơn bão đi qua. Tình đạo, tình người vẫn hiện diện khắp cùng. My nghĩ phải cầm viết, viết thư trên giấy trắng, để cảm ơn và báo tin My vẫn bình an, bởi My không còn giữ địa chỉ email cũng như không ghi địa chỉ email của My khi gởi tặng CD.

Vi ơi! Đã thấy chưa, một trong những điều nhỏ nhoi bên cuộc sống của My? Đôi khi My ngỡ bạn hiền đã thay cho người bên cạnh, hỏi han My kỹ hơn để có lòng tin My vẫn là My không có "phiêu lưu" trong thế giới ảo mà My góp mặt bấy lâu nay. Tất cả mọi người hiện diện trong cuộc đời mà tự nó đã là hư ảo, mục đích mỗi ngưòi góp mặt nơi đây không ai giống với ai. My tin rằng nếu như Vi vẫn còn muốn học hỏi tìm cầu , một ngày không xa nữa Vi sẽ nhìn thấy rõ chỉ là phương tiện. My đã học để biết rõ chính My trong từng khoảnh khắc, thì có gì đâu Vi phải lo lắng, bất an thay cho người chưa từng gặp hở Vi? Nếu thêm một lần lập lại, có phải rồi hai đứa cũng như nhau chọn làm trang sách mở ra. Dẫu trang sách mở làm người đeo cặp kiếng màu, nhìn thấp thoáng những bóng ma quá khứ, khiến hai đứa mình trở thành "nạn nhân" của dấu hỏi, in đậm nỗi hồ nghi không biết tới bao lâu hay cho đến hết cuộc đời luôn.

Quỳnh My