Sunday, December 11, 2016

Mừng sinh nhật năm thứ ba- Mạng Lưới Blogger Việt Nam



Tôi chưa bao giờ nghĩ có một ngày, bàn tay mình đưa ra nắm lấy những bàn tay từ bên kia bờ Thái Bình Dương. Tôi muốn nắm hết những bàn tay nhỏ nhoi mà mạnh mẽ. Sức yếu mà vững chãi, gan lì, dám ngẫng cao đầu đạp lên gai góc mà đi
 
Trong tâm tình của một người thất lạc quê nhà, dõi mắt nhìn về chốn cũ để thấy nỗi buồn xa xứ nhỏ dần. Nỗi đau xót thất vọng thì dường như lớn mãi. Giữa những hỗn độn, bất công, vô cảm và bạo lực, những tiếng kêu gào, than van đẫm trong máu và nước mắt....mà sao người chung quanh vẫn mãi làm ngơ? Rồi một ngày tôi tình cờ đọc một vài bài viết, của những người con gái bỏ quên tuổi thanh xuân, dẫu sức yếu thế cô vẫn hiên ngang đứng thẳng, thay cho đám đông sợ hãi, u mê. Họ dám nói lên tiếng nói của một con người, biết rõ mình đang sống trong một thể chế mà nhân quyền chưa bao giờ được thực thi. Những cái tên xa lạ như blogger Điếu Cày, Mẹ Nấm, Phạm Thanh Nghiên, Nguyễn Hoàng Vi... tình cờ nghe được trên radio bên này, rồi trở thành quen. Nhất là những người con gái. Họ là anh thư nước Việt trong trái tim tôi. Đứa em gái sinh hoạt trong hội Phụ Nữ Âu Cơ, cho biết mỗi năm hội đều trao tặng quà cho một người phụ nữ đấu tranh nỗi bật nhất trong năm. Hai trong số những anh thư nước Việt mà tôi hằng ngưỡng mộ, lại chính là người sáng lập ra Mạng Lưới Blogger Việt Nam là Phạm Thanh Nghiên và Mẹ Nấm Nguyễn Ngọc Như Quỳnh. Với tôi, các em là những người đàn bà không có mùa xuân, mà chỉ có mùa đông đói rét, nhục hình, nhìn tuổi trẻ đi qua trong bốn bức tường đen tối của nhà giam. Người từ đất Bắc, kẻ ở miền Trung. Họ gặp nhau, đến với nhau bằng trái tim có cùng nhịp đập yêu thương, dám hy sinh hạnh phúc riệng để mưu cầu cho hạnh phúc chung. Đó là cuộc sống mà con người được tôn trọng, được chọn lựa chính thể và nói lên nguyện vọng. Chấm dứt cảnh áp bức bất công của chế độ độc tài, độc đảng.
 
Những ai từng sống dưới chế độ cs sau năm 1975 đều hiểu rõ sự sắt máu, bạo tàn của họ đối với người bất đồng chính kiến. Viêc công khai thành lập Mạng Lưới Blogger VN là một nét son. Tôi biết ngoài hai sáng lập viên, còn rất nhiều anh chị em ở khắp mọi miền đất nước góp phần tạo dựng. Để duy trì sinh hoạt, từng cá nhân đã đánh đổi thật nhiều. Họ bị giam cầm, tra tấn dã man ngắn hạn hay trong nhà tù dài hạn, chỉ vì tội danh rất mơ hồ, và không bao giờ được xét xử công khai, minh bạch. Trước và sau khi thành lập MLB, các Blogger Phạm Thanh Nghiên, Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, Nguyễn Hoàng Vi đã được chọn trao tặng giải thưởng của Human Right trong các năm 2012, 2013, 2015. Tiếng nói của họ đã vang rộng, đi xa chỉ vì sự hy sinh đánh đổi quá lớn lao. Thế giới biết đến VN là một trong những nước chà đạp nhân quyền, cũng chính là nhờ sự hoạt động bền bỉ, không lùi bước của họ qua từng năm tháng. Từ hoạt động đường phố, đến kêu gọi công khai toàn dân đứng lên bảo vệ môi trường, buộc Formosa rời khỏi VN và truy tố những người có trách nhiệm gây ra biển bốn tỉnh miền Trung nhiễm độc ...Chính vì hoạt động bảo vệ mội trường, lên án hành vi tàn ác, tra tấn chết người của công an CS mà Blogger Mẹ Nấm Nguyễn Ngọc Như Quỳnh đã bị bắt giam. Mẹ Nấm bị cô lập, cắt đứt liên lạc với gia đình. Chính mẹ cô và hai đứa con thơ vẫn không biết về tình trạng sức khỏe và sự an nguy của cô trong nhà tù ra sao, qua hai tháng không cho luật sư và gia đình tiếp xúc.
Mạng Lưới Blogger VN và các nhà dân chủ đấu tranh cho nhân quyền chính là viên gạch lót đường. Những viên gạch đó đã làm ra từ máu và cả luôn sinh mạnh của người muốn đem lại tự do, công bằng, bác ái cho muôn nhà. Ba năm qua, các anh, các chị và em đã không lùi bước trên hành trình khổ nhục. Người thân, gia đình bị liên lụy. Những đứa trẻ thơ sống trong sợ hãi, hoang mang và thiếu hơi ấm vòng tay của mẹ thường xuyên. Bản thân bị giam lỏng trong nhà mỗi khi có sinh hoạt bất thường. Trên những con đường đi về tai ương rình rập. Nhà tù là nơi luôn mở cửa đón chờ, để khi rời khỏi mang theo tấm thân tàn tạ, hậu quả của đòn thù trút xuống không ngừng. Và tôi vẫn không thể nào quên nơi đó, đang giam giữ những người yêu nước, thương dân. Anh Trần Huỳnh Duy Thức và thêm nhiều người nữa... Những viên gạch của Mạng Lưới Blogger đã hun đúc, trải rộng thêm con đường tranh đấu cho người đi sau mạnh mẽ tiến lên.
 
"Một cánh tay đưa lên. Hàng ngàn cánh tay đưa lên..." Mừng Sinh Nhật tròn ba năm của Mạng Lưới Blogger Việt Nam. Thương chúc các anh, các chị và em- những người trẻ đang viết lên trang sử mới, luôn tiến bước không ngừng cùng kết nối phát triển thêm. Mong một ngày nào đó sẽ được ôm từng người trong vòng tay hội ngộ thương yêu. Trong hơi thở tự do, dân chủ nơi bầu trời quê mẹ Việt Nam.
 
quỳnh my

Saturday, December 10, 2016

Dấu xưa


Sau hơn ba mươi phút chao lượn trên bầu trời mưa gió không ngừng, cuối cùng máy bay hạ cánh bình yên. Mấy trăm hành khách bày tỏ niềm vui bằng một loạt tiếng vỗ tay chúc mừng nguy hiểm đã qua. Vừa bước ra tới nơi dành cho khách ngồi đợi chuyến bay, không khỏi giật mình khi đứa con trai lên tiếng gọi cùng lúc bước tới hug mừng. Hỏi sao con được vào đây? Thằng bé cười tủm tỉm. Con đưa ID của Delta, hỏi xin nhân viên Southwest Airline vào đây đón bố mẹ vì cả hai không biết...nói tiếng Anh! Thật đỡ khổ cho hai kẻ sắp già, bên thằng con lém lỉnh và nhanh trí. Lần này không phải thuê xe, hai đứa thong dong bước theo con ra bãi đậu xe sau khi chờ lấy xong hành lý.
 
Rời phi trường Raleigh trong cơn mưa chiều nặng hạt. Cũng may bão đã xoay hướng khác, xoá tan nỗi lo giờ cuối chương trình thay đổi. Thêm đoạn đường dài hai tiếng lái xe về thành phố nhỏ Winston Salem, nơi có bản doanh của hiệu thuốc lá mà tôi biết từ thời những người lính Mỹ đến VN. Đứa con trai mở nhạc. Thằng bé rời trại mồ côi VN đến Mỹ khi còn bú, mà mê nhạc quê hương và những bài ca thời chiến do Thanh Tuyền, Thanh Thúy hát từ khi còn bé xíu. Thói quen gọi cho tôi nói chuyện mỗi lúc lái xe một mình dẫu đường ngắn hay dài, chiều nay thay thế bằng một CD nhạc VN có sẵn trong xe. Tôi biết con dành cho chúng tôi khoảnh không gian trầm lắng, trên đường lên phố núi về thăm bà mẹ nuôi của chàng ở nhà xưa. Mùa thu vừa bước khẽ tới đây. Giữa màu xanh bao phũ của ngàn thông ướt đẫm trong mưa, loáng thoáng chút màu lá vàng chớm đỏ của vài cây phong lạc loài dọc bìa rừng lúc giao mùa. Tôi yêu dốc đồi có rừng cây xanh mướt hai bên. Thấy nhớ Đà Lạt, cùng lúc nhận ra Đà Lạt bây giờ nhỏ bé, tù túng quá từ khi thiên nhiên bị tô điểm, đổi thay không còn nên thơ giống khi xưa.
 
Nhà xưa vẫn vậy, chỉ có dáng mẹ ngày càng đượm nét hao gầy. Bà dang tay ôm hug từng đứa con, đứa cháu ngay nơi cửa như đã đợi từ lâu lắm. Trong tôi, ngỡ đâu người mẹ đã khuất trở về ở nơi này, qua hình ảnh người mẹ da trắng, tóc vàng buổi chiều nay. Sao hai người quá đổi giống nhau. Những lần về thăm, mẹ tôi dù yếu mệt vẫn nấu những bữa ăn ngon để sẵn. Hơn 7 giờ, đêm xuống tự bao giờ. Ba, bốn món ăn cùng bánh kem chocolate, trái cây tráng miệng bày sẵn trong căn bếp còn hơi ấm. Trên bàn ăn dành cho khách, bày bốn phần dao, muỗng, nĩa, khăn ăn. Tôi và con trai rót nước trà chanh có chút đường mẹ pha sẵn trong bình lớn vào bốn chiếc ly. Chỗ tôi ngồi được con trai nhắc thì thầm. Đây là chỗ của Debbie ngày trước. Debbie là người con gái của bà đã mất. Con trai ngồi kế bên tôi ở phía trong. Bên kia bàn, bà mẹ già ngồi cạnh chàng- đứa con trai lơ ngơ xứ người, bà đã nhận vào nhà từ 41 năm về trước. Trước bữa ăn, đứa cháu nhìn bà nội nhắc. Mình cầu nguyện nghen bà nội. Ba người chúng tôi lặng yên cúi xuống lắng nghe rồi cùng nói Amen. Như mẹ tôi thuở trước, bà đã hỏi con trai, tôi thích và không thích những món ăn nào để cho bà chuẩn bị. Nó cười, cho biết bố nó và tôi rất giống nhau, dễ tính và giản dị trong ăn uống. Rau, cà, đậu trồng ở vườn nhà. Những món pie mặn, ngọt đều do bà làm lấy. Bữa ăn tươm tất làm tôi ái ngại. Năm 86 tuổi, bằng tuổi của bà bây giờ, mẹ tôi không còn sức để mà nấu nướng. Mời bà đi ăn bên ngoài cho đỡ nhọc nhằn không được chấp nhận từ đầu. Tôi với con trai ngỏ ý vào bếp nấu món ăn VN một bữa cho bà được nghỉ ngơi cũng bị chối từ. Chỉ còn biết dặn lòng hãy đón nhận niềm hạnh phúc ngọt ngào, cất giữ vào ngăn kỷ niệm bởi mai này không còn nữa.

Đầu mùa hè năm nay con báo tin vui. Tháng Bảy này bà nội sẽ cùng con sang Houston, cho biết thành phố bố với cô đang sống. Sau khoảng thời gian chưa đầy một năm hai người thân yêu nhất ra đi, bà mẹ già không còn muốn đi xa bất cứ đâu. Tôi chạnh lòng nhớ lại, những năm cuối đời mẹ tôi cũng đi thăm chị, thăm anh ở phương xa. Đó là kỷ niệm sau cùng của mẹ, gởi lại cho những đứa con xa gia đình từ rấtt sớm. Buồn vui đan trộn trong tôi, nghĩ có thể đó là lần duy nhất chúng tôi may mắn có. Tôi bàn với con trai những nơi sẽ đưa bà nội đi thăm, những bữa ăn sẽ nấu ở nhà cùng một bữa tiệc họp mặt của đại gia đình để mọi người được gặp bà...Chương trình đã sắp đặt xong, giờ cuối con gọi báo tin bà nội mệt, không thể đi xa được. Bà buồn, lòng ray rứt không yên bởi không thực hiện được chuyến đi như ước muốn, thêm nỗi băn khoăn đã làm chúng tôi thất vọng. Để trấn an bà mẹ già tội nghiệp, tôi nhắn lời qua tháng mười hai đứa sẽ về thăm. Lần này sẽ ở với bà đôi ba ngày, không phải chỉ một buổi như vài lần trước. Không nói ra nhưng ai cũng hiểu, thời gian đang ngắn lại từng ngày.
 
Buổi tối đầu tiên, cả nhà râm ran nhắc chuyện xưa. Trí nhớ của con trai như một cuộn phim. Nó ngồi nhắc từng câu nói vui đùa của ông nội vốn tính khôi hài, trêu đùa bà nội một đời. Tôi giở từng trang album hình cũ, mới của gia đình. Có cả hình bà mẹ chụp chung với TT Bush trong nhà trắng. Cả đời tham gia sinh hoạt nhà thờ, làm việc xã hội và từ thiện không mệt mỏi, bà là bông hoa đồng nội, ngát hương thơm theo gió bay xa. Lần đó được làm khách mời ăn tối ở White House, bà gặp ca sĩ Michael Jackson. Thoáng ý nghĩ muốn xin chữ ký, bà đưa tờ menu có sẵn trên bàn cho chàng Michael ký tên vào. Đâu ngờ người ca sĩ tài danh yểu mạng xa đời. Có người biết và nài nỉ mua chữ ký trên tờ menu dạo đó. Bà cười. Nó chỉ là tờ giấy. Ta không cần thì giữ để làm gì. Giá trị vài ngàn được dùng đúng chỗ thì càng thêm ý nghĩa.
 
Mừng con trai về lại nhà xưa, bà mẹ già không quên mua sẵn rượu cho con trầm mặc, đắm chìm trong kỷ niệm. Cũng nơi này 41 năm xưa, chàng tuổi trẻ lạc loài được nhận vào với gia đình, để tiếp tục sự học còn dang dở sau ngày di tản. Ngay từ đầu bà đã chú ý đến người thanh niên tuổi 20, làm công việc quét dọn ở building bà đang làm việc. Nhờ chú ý nên bà khám phá, người thanh niên á đông này có thể giúp bà nhiều việc trong nhiều lãnh vực. Quyển sách bà sắp in cần kỹ thuật trình bày, kèm hình ảnh bằng tranh vẽ đã có “người phu quét dọn” ra tay giúp. Hiểu hoàn cảnh phải tạm dừng việc học vì sinh kế, ông bà mở lòng đón nhận đứa con nuôi. Không phụ lòng từ bi của bố mẹ nuôi, xong mấy năm đại học chàng rời nhà tiếp tục học lên cao. Những năm đó có hai bà mẹ, nối hai bờ đại dương qua những lá thư. Mẹ từ VN viết thư bằng tiếng Mỹ, sau khi nhờ con cháu chuyển dịch từ lá thư tiếng Việt. Chưa về thăm một lần, người mẹ sinh thành đã không còn. Bây giờ, chỉ còn lại bà mẹ nuôi sức mỏi, một mình trong căn nhà quạnh vắng. Tôi biết, cả tôi và chàng may mắn còn một người mẹ già hiện hữu nơi này.
Bảy giờ sáng chủ nhật đồng hồ báo thức, cùng lúc nghe tiếng gỏ nhẹ cửa phòng, hỏi chúng tôi đã thức dậy chưa. Nhớ sao là nhớ, những lần về thăm mẹ ngủ qua đêm của chị em tôi. Mẹ tôi cũng thường dậy sớm, loay hoay trong bếp xong rồi không biết làm gì nên vào phòng đánh thức hai đứa con gái ưa ngủ muộn trong ngày chủ nhật. Hôm nay cả nhà cùng nhau đi lễ nhà thờ sớm. Khi ba người chúng tôi sửa soạn xong, bàn ăn trong nhà bếp đã bày sẵn bữa điểm tâm thịnh soạn. Một ly cà phê nóng, thêm ly nước cam bên cạnh đủ làm tôi no trước khi ăn. Nhường ly nước cam cho con, tôi uống cà phê cho tĩnh người vì đêm qua thức thật khuya. Đêm nào cũng thế, đứa con trai cứ ngồi rỉ rả nói chuyện cho đến gần hai giờ sáng. Tôi không hề biết, đã 20 tuổi rồi mà nó vẫn sợ ma, không dám vào ngủ trong phòng của cô Debbie ngày trước. Cho đến một buổi sáng, thấy con nằm trên sofa. Tôi hỏi con ngủ đâu mấy bữa nay? Nó trả lời. Con ngủ trên chiếc ghế này! Trời ạ! Ngủ trong phòng nó sợ, mà ngủ ở ngoài nó cũng sợ luôn, nên cứ nài nỉ tôi thức khuya, nghe kể chuyện ông nội và cô Debbie khi còn sống.
 
Ngôi nhà thờ mẹ đi lễ gần nhà. Tới hơi sớm, bà giới thiệu chúng tôi với từng người vừa gặp. Người con trai của bà cũng đi lễ ở đây. Hai anh em cùng sống một nhà thuở trước, thật vui khi gặp lại nhau. Con trai nói với tôi chú Danny hiền lắm. Chú có job tốt hơn nhưng không nhận vì biết đi xa, bà nội sẽ buồn nhiều. Bốn người chúng tôi ngồi chung băng ghế. Có một tờ giấy ghi tên từng người trên hàng ghế. Con nói. Không có mình, bà ngồi đây chỉ một mình thôi. Đi lễ bây giờ bà lạc lỏng, buồn nhiều. Những người bạn đạo cùng sinh hoạt từ khi còn trẻ đã lần lượt ra đi hết. Buổi lễ kéo dài chừng một tiếng. Tan lễ con trai khen bố với cô hay thật. Ngồi nghe giảng và hát theo từ đầu đến cuối mà không lim dim buồn ngủ như bà nội và con. Tôi cười. Ừ, người Phật tử đi nhà thờ xem ra cũng “ngoan đạo” như ai, có phải không? Nó cười. Con biết. Bà nội cảm động nhiều vì con của Phật vô nhà thờ thăm Chúa. Nán lại thêm chốc lát chờ bà mẹ ghi tên tham dự nhóm làm thiện nguyện trong mùa lễ Tạ Ơn, chúng tôi trở về nhà thay quần áo để đi lên núi.
 
Đứa con trai lái xe vững vàng trên đường dốc quanh co, để bố ngồi nghe bà nội kể từng kỷ niệm, nơi bà đã được sinh ra rồi trở thành đứa bé mồ côi mẹ khi vừa bốn tuổi. Bố tục huyền. Bà mẹ kế hẹp hòi, ghét bỏ đứa con chồng xinh đẹp, dễ thương. Năm sáu tuổi, khi bố đi làm đứa con gái nhỏ bị mẹ kế uy hiếp, đưa chai rượu bắt uống. Tuổi thơ của bà chỉ có đòn roi, nhục hình mà không dám kể với người cha. Đứa bé nhiều ngày chạy trốn trong rừng, đợi bố tan sở mới dám về nhà. Con trai nhìn tôi cười. Lần đầu con sang Houston bà nội lo nhiều lắm. Bà nói sẽ cầu nguyện cho con vì lo con bị bạc đãi! Lớn hơn một chút, đứa con gái bỏ nhà ra đi, về sống với bà ngoại cho đến khi ra trường đại học.
 
Lái quanh đường núi chừng hai tiếng, xe dừng lại bên lưng chừng dốc trước ngôi nhà thờ nhỏ. Bên trong cánh cửa khép hờ chẳng có ai. Trên cao, tượng Chúa không biết có buồn? Chỉ biết bên cạnh tôi là bà mẹ già đang đắm chìm trong hoài niệm xa mờ. Đi bộ lên con dốc cách nhà thờ một đỗi không xa là tiệm bán đồ lưu niệm. Bà nói với tôi thuở đó bà hay đến đây, ngắm nhìn không biết chán từng món đồ mỹ thuật làm bằng tay, rất đẹp và tinh xão. Thảo nào, sau đó bà trở thành người nghệ sĩ đa tài. Vẽ tranh, đàn, đan thêu, chạm trỗ đồ gốm, đồ gỗ, làm đồ trang sức, cắm hoa, làm bánh cưới, cả nấu ăn cho tiệc cưới của những người sinh hoạt ở nhà thờ....Tôi ước gì được ở gần, sẽ tha hồ học những gì tôi yêu thích. Chúng tôi ăn trưa ở tiệm ăn nhỏ kế bên shop bán đồ lưu niệm. Bà nói thức ăn ở đây vừa rẻ, vừa ngon nên ngày đó bà thường hay tới đây ăn. Có lẽ lâu lắm rồi mới quay trở lại con đường cũ mà không phải một mình. Tôi thấy bà vui, cười nói nhiều hơn. Bà dẫn chúng đi qua nhiều con đường, rồi dừng lại cũng ở một shop bán đồ mỹ thuật. Đây là tiệm do bà gầy dựng những năm xưa. Đi quanh ngắm nhìn những món đồ bày bán ở đây, có chút gì thất vọng trong câu nói bây giờ họ không còn bán đồ thủ công mỹ thuật giống khi xưa.
 
Trên núi cao gió nhiều hơn, cảm nghe cơn lạnh thấm vào trong. Tôi với bà đứng chụp một tấm hình kỷ niệm rồi đi tiếp. Nơi dừng chân là nghĩa trang lộng gió trên cao. Ở đó có núi, có mặt hồ tĩnh lặng, là nơi yên nghỉ của người bố nuôi và đứa em gái handicape ra đi sớm. Còn nhớ mùa thu năm đó, chàng lên đường sang thăm xứ mặt trời bên kia mùa hạ của tôi. Chuyến đi vừa khởi hành đã phải quay về, khi nghe tin dữ đứa em vừa ngã bệnh đã vội lìa đời. Không dưng mà hôm ấy tôi mặc mầu áo tím. Chiếc khăn choàng cũng tím trên vai. Chợt bắt gặp ở mộ em cũng có bó hoa mầu tím. Con trai nói bà nội nhìn xem, cô L mặc mầu tím hôm nay- mầu Debbie yêu. Chỗ em nằm yên tĩnh quá! Có lá reo trong gió vi vu. Có dãy núi bao phũ bởi rừng cây xanh ngắt. Rồi lá đổi mầu khi gió thu sang. Mùa đông sẽ rất lạnh nơi đây, dẫu mộ em bên cạnh mộ cha. Người cha già cũng vội lìa đời, sau khi con gái ra đi vài tháng. “Chốn em nằm xa quá những lần thăm”. Một câu trong bài thơ người anh làm sau lúc em đi.
 
Những con đường nằm trong trí nhớ, ngỡ đã mờ phai nhưng vẫn còn đây. Theo hướng bà nội chỉ, xe đi qua từng con đường quanh núi rồi dừng lại trước nhà xưa- căn nhà thứ nhất người mẹ đã một thời ở đó. Cảnh cũ còn đây, và hôm nay người xưa đã về đây. Có chút gì vương vấn khi đôi mắt già nua dõi nhìn quanh từng căn nhà, từng con dốc bao quanh. Có lẽ nơi cất giữ nhiều kỷ niệm là ngôi nhà bà ngoaị của bà. Căn nhà đó giờ không còn nữa. Chỉ còn hồ nước nhỏ êm đềm, in bóng những cây xanh và bầu trời cũng mầu xanh trong đáy nước trong veo. Mẹ kể ngày đó bà ngoại khuyên đừng lập gia đình với người yêu đầu đời. Bà lo sợ sẽ sinh con không khỏe mạnh vì gia đình đó có những người con handicape. Mẹ vâng lời bà ngoại, sau này lập gia đình với người khỏe mạnh, bình thường nhưng đã sinh ra đứa con gái không trọn vẹn mà bà đem cả cuộc đời ra để bù đắp, yêu thương. Debbie có thể chất yếu đuối, mong manh từ lúc sinh ra. Bù lại em thừa hưởng sự khéo léo, tài hoa từ mẹ về âm nhạc, hội hoạ và ca múa...
 
Gần một ngày về thăm chốn cũ dẫu thấm mệt vì sức yếu, đường xa, vẫn còn một chỗ dừng lại trong thành phố. Bà muốn chúng tôi đi thăm trung tâm dành cho cho người handicape mà bà đã mất nhiều năm đi gỏ cửa, quyên góp khắp mọi nơi để dựng xây. Chàng có nhiều kỷ niệm với bà. Hai mẹ con, một Mỹ, một Việt Nam đã đi khắp thành phố kêu gọi lòng từ tâm của từng hãng xưỡng, công ty. Rất nhiều lần cười ra nước mắt vì đi không lại về không, nhưng hai mẹ con vẫn tiếp tục cho đến khi có đủ tiền để trung tâm được hình thành, đi vào sinh hoạt. Ở đây sạch sẻ, khang trang. Tôi nhìn thấy những người đàn bà tàn tật nhiều hoặc ít đang quây quần nơi phòng khách rộng. Họ chơi đùa, đan móc hay chìm đắm trong không gian chỉ riêng mình họ hiểu. Có nhiều nhân viên chăm sóc, nấu ăn, dọn dẹp vệ sinh. Con trai nói bố cần qua đây gặp một người. Alice nhắc bố, nhớ bố vì nhiều năm chưa gặp. Chúng tôi đi bộ sang building ở kế bên. Giữa nhiều khuôn mặt ngơ ngác nhìn khách lạ, có một người đàn bà chạy nhanh tới ôm chàng mừng rỡ. Bên khóe mắt có giọt nước đọng lại, lăn xuống má. Sau phút xúc động Alice mời chúng tôi vào căn phòng tiếp khách kế bên. Người đàn bà nói tuổi của mình năm nay đã 62 rồi. Ít hoạt động nên người Alice nặng nề, nhưng miệng nói líu lo. Rồi Alice dẫn chúng tôi vào phòng. Căn phòng rộng rãi, sạch sẽ và ngăn nắp. Con trai nói với tôi, ngày trước bố hay tới đây đưa đón Debbie. Alice quen bố và rất mến vì bố luôn nhẹ nhàng, kiên nhẫn lắng nghe và hiểu được tính khí của những người handicape.
 
Sau một ngày đi núi mệt nhoài, trong nhà bếp bữa ăn chiều dắp dọn. Mẹ đã sẵn sàng món ăn từ đêm trước. Bà nói bếp hơi chật, chỉ cần tôi giúp bà làm món ăn nhanh trong lúc chờ bữa tối dọn lên. Tôi áp chảo cho vàng những lát bánh mì pháp mỏng bằng bơ. Phết một lớp cream cheese, một lát cá salmon un khói rồi để lên trên những lá rau spinach nhỏ. Con trai đang đói, ăn tận tình món khai vị khoái khẩu này cho đến khi bữa tối vừa xong.
 
Chiều xuống theo ngày trở lạnh. Tôi mặc thêm áo ấm, ra thăm khu vườn rộng sau nhà. Giàn nho lâu năm rũ nhánh đong đưa. Chàng hái trao tay những trái nho bảo tôi ăn thử rồi cho biết. Lớp vỏ bên ngoài hơi dày so với trái nho thường nhưng mang vị ngọt và hương thơm thật lạ. Chàng cho biết nho này dùng làm rượu. Con trai nhìn tôi cười. Bố học làm rượu nho từ bà nội đó! 86 tuổi mẹ đâu còn sức lực. So với vườn xưa giờ khoai, củ không còn. Chỉ còn đám rau xanh ngát khi mùa trở lạnh. Đậu green beans, cà chua đã hái xong, nấu chín bỏ vào jar ăn suốt quanh năm. Trên đám đất sau mùa gặt hái còn sót lại hai trái butter squash mà mỗi lần về thăm, hai đứa được chia phần để mang về. Tôi thường cắt hai theo chiều dọc đút lò. Bí vừa chín tới cắt một lát bơ trộn đều rồi múc từng muỗng nhỏ, ngọt bùi vô tả. Bí mẹ trồng bao giờ cũng cho hương vị đậm đà. Ngọt ngào hơn bí mua ở bất cứ đâu. Đất trời, nắng gió và hơi ấm đôi bàn tay chăm bón của bà mẹ già hiu quạnh nơi xa, cho cảm giác bờ môi thơm đậm tình thương. Nhìn đám cây trái cuối mùa đang tàn tạ, chạnh lòng nhìn mẹ bây giờ, dáng mệt mỏi hơn năm trước. Con trai lướt nhanh rồi bảo tôi cnùg nhặt những cành khô rớt chung quanh. Nó lo bà nội sẽ khom lưng nhặt, trước khi đứa cháu trai tới giúp. Sân trước chúng tôi cùng dọn sạch, gom lại chờ xe rác mang đi. Tôi hỏi con trai trong nỗi ngậm ngùi. Không có mình thì ai nhặt cho bà nội. Dạ có. Brian cũng rất giỏi và siêng thỉnh thoảng đến đây check xem bà nội có cần gì không.

Đêm đó con trai nói với tôi bà nội có mua sẵn rượu. Tối nay trừ cô ra cả nhà sẽ uống với nhau. Không đợi tôi thắc mắc lâu, nó cười cười. Tối nay có ông Trump và bà Hillary tranh luận. Con theo Dân chủ, bà nội theo Cộng hoà. Hai bà cháu hứa với nhau không cải khi có cô ở đây nên mọi người đều uống cho say rồi... ngủ. Tôi trêu. Con mới 20 tuổi ai cho uống rượu. Rượu rót đều nhưng chẳng ai say. Mọi người đều chăm chú nghe hai bên giao đấu. Thằng con đêm nay có vẽ buồn vì nó thường tranh luận không thua bà nội. Tôi góp lời ủng hộ “phe ta”, cùng lúc trêu đùa. Con thua rồi. Hôm nay phe bà nội có thêm hai người. Một chọi ba làm sao thắng phải không? Nó ấm ức. Nói gì thì nói, bà Hillary sẽ dọn vô nhà trắng. Ông Trump chắc chắn thua!
 
Bữa điểm tâm cuối trôi qua lặng lẽ. Chàng sẽ chở mẹ tới chỗ hội chợ vừa bế mạc để dọn mang đồ của bà về. Chàng rủ tôi theo nhưng con trai nói, nó cần tôi giúp một tay. Hai mẹ con tôi bắt đầu dọn dẹp. Con hút bụi, tôi lau chùi căn phòng của người cha nuôi chưa lần gặp trong đời. Bà giữ yên mọi thứ từ sau ngày ông mất, như sợ chạm vào nỗi đau riêng. Tôi nói muốn ngăn nắp mình cần bỏ bớt đi nhiều thứ, vì quá nhiều đồ không cần thiết quanh đây. Con thử rồi, bà nội không cho vì đã quen vị trí từng thứ một. Giữa lúc đó hai mẹ con về đến. Chàng cười, khoe gian hàng của bà lại trúng giải giống mọi năm ở Hội chợ mùa Thu. Không giấu nỗi ngạc nhiên và cảm động khi nhìn mẹ con tôi dọn dẹp cùng nhau. Bà ngồi soạn và bỏ bớt mớ sách báo, bản đồ của thời đi du lịch ngày xưa.
 
Chia tay lần này sao thấy ngậm ngùi. Vết cắt gần nơi cổ được che lại mỗi ngày bằng khăn và áo cổ cao, khiến mẹ con tôi băn khoăn lo lắng nhiều hơn. Đứa cháu theo hỏi mãi, bà vẫn nói không có gì đáng lo, đừng có bận tâm. Đứng ngoài sân chụp hình trước lúc ra xe, cảm nghe hơi ấm từ vòng tay bịn rịn. Tôi nói với bà tôi hạnh phúc nhiều. Tưởng chừng như được sống lại những ngày tôi còn mẹ. Dáng bà lầm lủi, đơn độc hơn bao giờ khi đi trở vào căn nhà vắng im tiếng người, sau mấy ngày lao xao đầy ắp niềm vui. Cả ba người cùng lặng lẽ khi chiếc xe xa dần con dốc nhỏ. Dấu xưa vẫn còn đây nhưng kẻ mất người còn, xa quá bây giờ. Giọng đứa con trai như chùng xuống. Bà nội nói với con đi lên núi trở về chốn cũ, có thể là lần cuối của bà. Sức của bà sẽ không còn đủ để lái đi xa. Không còn đủ để buồn suốt đường về khi viếng mộ hai người thân yêu nhất. Không còn đủ sức để thăm và chứng kiến người bạn thời niên thiếu ở gần nơi đó, bây giờ chẳng nhận ra bà nội. Bệnh Alzheimer đã lấy đi trí nhớ còn đâu!...
 
Dấu xưa còn đó mà người xưa mỗi người đi mỗi ngã. Còn lại người mẹ già, như sân ga chờ đợi những con tàu đỗ bến rồi đi tiếp theo hành trình vô định.
 
Quỳnh My

Monday, November 21, 2016

Khu vườn mùa Thu








 


Không nhìn thấy màu vàng của lá. Trời trở lạnh vào những buổi chiều cho đến sớm mai. Nàng Thu ở đây bước khẽ, nhẹ êm làm đôi lúc tưởng như quên mùa thu đang đến.

Trên giàn bầu có vài chiếc lá úa vàng. Từ hạ qua thu, được các chị cung cấp thật nhiều bầu bí, mướp hương nên đã không buồn khi giàn bầu hiếm muộn chỉ cho hai trái. Có kỷ niệm thật đẹp, thật trân quý với trái bầu khô trong thời binh lửa, nên chủ nhân để dành một trái trên giàn. Trời trở lạnh, nắng yếu dần. Chẳng biết bầu có khô nỗi hay không. Hay tất cả chỉ là hoài niệm, chất trong nỗi nhớ về một thời đã thật xa rồi.

"Bầu ơi thương lấy mướp cùng
Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn"

Khu vườn hẹp. "Ông làm vườn" dẫu siêng năng cũng chỉ cưa gỗ, đóng đinh làm ra ba giàn cho những dây leo. Cũng vì thế mà có ba anh mướp cuối mùa chung sống với cô bầu. Ba trái mướp cũng được để dành không hái. Chủ nhân của nó muốn quay trở lại, một thời rửa chén bằng xơ mướp ngày nào.

Cây chanh dây lúc trèo lên tá túc ở ngọn cam thì cho nhiều hoa trái. Khi ra riêng chắc nhớ thuở đông vui nên ủ rũ chẳng sinh sôi, rồi buồn, chết khi lá vẫn còn xanh mướt. Giàn khổ qua mượt mà hoa trái, từ dạo chớm hè đến bây giờ. Mỗi buổi sáng ra hỏi thăm rất kỹ, mà đôi lúc vẫn nhìn thấy trái đỏ, nằm khuất giữa nhiều lớp lá. Chàng cười. Nó như du kíck thuở xưa! Chợt cười một mình khi nhớ chuyện cô em kể. Bà khách Mỹ khoe chỉ trồng một cây mà có tới hai loại trái khác nhau. Rồi bà dẫn chứng tức thì bằng hai trái khổ qua, một đỏ một xanh! Có trồng mới biết lá khổ qua thơm ngát. Chỉ cần chạm tay vào hương lá toả bay. Chị em trong nhà cũng bắt đầu chê, khổ qua mua ngoài chợ vừa đắng vừa dai, lại cũ. Chưa kể còn bón phân hoá học. Có lẽ nhờ vậy mà niềm vui có mãi, thay cho nỗi khổ trồng ra rồi còn phải kiếm người tiêu thụ giúp, giống như trồng mía. 

Người làm vườn bây giờ để sẵn cái thang cạnh bên cây quýt và cây đu đủ. Lúc đầu, chàng ân cần. Em leo hái trái đi. Đừng sợ vì thang ở Mỹ không dễ gì gẫy để cho người ta thưa kiện! Vừa khuyến khích chàng vừa đứng giữ chân thang. Vậy là không thể khước từ, đành phải "trèo lên, lên, trèo lên..." vừa hái vừa run. Sáu, bảy chục trái chen chúc ôm quanh thân cây tròn nhỏ. Cảnh nhà nghèo con đông nên đứa nào cũng nhỏ bé xinh xinh. Đu đủ chín đồi màu cam đỏ rực. Có điều lạ, là được ươm trồng từ hột đu đủ Mễ, trái to nhưng lại cho ra giống khác, trái nhỏ hơn, vị ngọt đậm đà hơn và không có hột. Người mê làm vườn, ăn một lần là ao ước muốn trồng. Có thực hành mới biết. Ươm cùng hạt giống nhưng cây mọc lên chẳng giống nhau. Đứa trái nhỏ tròn, đứa trái to dài. Có cây cái, cây đực và cả cây "gay" nữa! Đó là ông làm vườn nhận định lũ cây. Cây nhiều trái, cây không trái và cây ra hoa rồi rụng mãi cho đến khi có được một hay hai trái. 

 
Mùa này quýt chín vàng cây. Cây quýt nhỏ cao chừng 6 tấc cho được 7 trái thật to, nặng oằn nhánh nhỏ. Cây quýt già cở tuổi 25, cứ đều đặn năm ít trái năm cho nhiều trái. Thêm chút bận rộn cho mùa hái trái, kịp trao tay những lần gặp người thân. Thêm những lần ra bưu điện, bên trong gói quà chỉ là trái ngọt vườn nhà. Khoảng cách hơn ngàn dặm, chợt thành gang tấc khi chạm vào những ngọt ngào của hoa trái thương yêu.

Ông làm vườn giăng chiếc võng dưới tàn cây quýt, nằm đu đưa ngắm khói lam chiều. Khói bay quyện mùi củi khô làm nhớ những chiều xưa. Nơi đây, dường như chẳng ai tha thiết cùng hoa trái. Chỉ là mượn vay hình ảnh của ngày xưa, để sống cho qua hết chuỗi ngày trộn quá khứ vào trong hiện tại. Để tiếc, để đau cho quê mẹ Việt Nam.

 

quỳnh my

Monday, November 07, 2016

Biển





Hôm nay, sáng sớm mà không phải sớm vì đồng hồ lui lại một giờ. Hai đứa uống cà phê xong, mang túi xách ra xe.

Hơn nửa năm rồi buồn với biển, đau với cá, với người. Buồn đau chưa nguôi bớt lại thêm nước lũ. Thấy mình bất lực và vô vọng. Tình thương vẫn đong đầy trong trái tim không ngừng buốt nhói từng ngày khi hướng về chốn quê nhà. Nhưng đôi bàn tay này nhỏ quá. Dẫu xẻ áo, chia cơm nỗi khốn khó lầm than vẫn còn nguyên. Ngôi nhà cha ông để lại giờ hư mục. Có đắp vá cách nào cũng chỉ hoài công. Những người bất hạnh đang nương náu trong ngôi nhà mục ruỗng, sẽ chết dần mòn vì dòi bọ tràn lan ở bên trong. Chúng đục khoét bất cứ chỗ nào có thể, miễn gia đình, giòng họ no đầy, trứoc lúc dẫn nhau đi qua miền đất hứa. Còn bên ngoài nước uống, cá tôm, thực phẩm... là những tên sát thủ lặng thầm đang hoạt động đêm ngày. Người sáng mắt biết phải làm gì để chấm dứt cảnh sống trong địa ngục trần gian. Kẻ mù lòa vẫn lăn lộn trong bóng tối chờ mong phép lạ. Những người chị, người anh, những đứa em chưa gặp mặt, lâm cảnh tù đày chỉ vì tình yêu quê hương, dân tộc quá bao la. Họ can đảm, hào hùng cất cao tiếng nói tự do, giữa đồng loại da vàng, máu đỏ hung hăng như bầy thú.

Hơn một giờ lái xe, biển Galveston đã hiện ra. Bãi cát dài hun hút, rong rêu bao phũ làm nền cho màu nước đục. Cần gì biển đẹp nước trong xanh, mà tôm cá, hải sản không còn nơi sinh sống, kéo theo cảnh đói nghèo của cả triệu con người. Biển nhiễm độc là biển chết. Người mất đi nguồn sống, ngừơi cũng chết dần mòn vì bị bỏ rơi.

Mặt trời chìm dưới những cụm mây. Ngừơi sợ nắng hôm nay đi không biết mỏi. Lòng thanh thản, bình an chi lạ, quanh đất trời mây nước bao la. Đó đây rãi rác người đi câu. Họ đi từng nhóm hai, ba người hoặc cả gia đình có cả lều. Đám trẻ con nô đùa bên chỗ khuất, an toàn. Cũng bắt gặp nhiều ngừơi đi chỉ một mình. Họ khoan thai móc mồi vô lưỡi câu rồi quăng xuống nước. Con cá cắn câu được gở ra cũng rất khoan thai. Dường như với họ câu chỉ để mà chơi, để tiêu khiển thời gian. Những người đàn ông mạnh khoẻ cầm tấm lưới tung xa, thật mạnh xuống nước rồi kéo lên nhanh. Họ có vẻ không màng đến "chiến lợi phẩm" của mình nhưng dường như ai câu cũng có cá mang về, hay thả chúng trở về cùng với biển. Người không cần nhưng chỉ với tay ra là có. Kẻ xem cá là lẽ sống, mà nay đành trói tay chịu đói vì biển chết.


Những tưởng trốn nỗi buồn đâu đó một ngày. Nhưng làm sao được khi thấy biển, thấy ngừơi ở nơi này sao hạnh phúc, bình yên quá! Tiếp tục lái xe lên chuyến phà lớn đi qua đảo. Thắc mắc sao họ không thu tiền phà thì được trả lời. Từ tiền thuế đó, cho nên bổn phận của mình là nên hăng say đóng thuế đó em! Trên cầu đá thật dài giữa hai bờ nước, một nhóm người đang say mê móc mồi, giật cá liền tay. Họ là mấy bố con người VN. Cậu nhỏ vui tính cho biết hầu như mỗi tuần cả nhà đều đi câu cá hoặc câu cua. Đứng nói chuyện vài phút chợt thấy cứ vừa quăng mồi là cá đớp tức thì. Những con cá không lớn lắm nhưng là niềm vui của kẻ đi câu.



Chiều xuống, cơn mưa nhẹ kéo về không làm biển vắng người. Gió mạnh hơn làm sóng vỗ tràn bờ. Trời ảm đạm buồn. Gió từ biển thổi lên mang hơi lạnh, muốn co ro. Một ngày vui trộn trong buồn. Thôi cũng đủ. Hai đứa nắm tay chào biển, không ở lại một đêm như dự định.
Ai có thể trả lời dùm. Cho đến bao giờ, nhìn biển hết buồn?

quỳnh my


Friday, August 05, 2016

Ngài Neten Rinpoche


Tại Ấn Độ có đến 16 bậc giác ngộ và giòng Neten Rinpoche bắt đầu từ ngài Lam Tren Ten, (tiếng Phạn là ChudaPantaka, tiếng Việt là Chu Lợi bàn Đà Dà), là bậc giác ngộ thứ 11. Ngài đã tái sanh nhiều lần ở Ấn Độ và Tây Tạng dưới dạng Bồ Tát Mahasiddha. Sau đó ngài được gọi là Neten Ronpoche Tulku Tenzin Gelek và lãnh chức vụ viện trưởng tu viện Jungpa ở Tây Tạng. Tu viện này được ngài Neten Rinpoche đời thứ nhất xây cất. Ngài Neten Rinpoche hiện thời, ra đời một năm sau khi vị Lạt Ma Neten Rinpoche Ngawang Lobsang Kunga đời thứ 8 viên tịch. Năm 1986, đức Dalai Lama đã tìm ra được Neten Rinpoche, chính thức công nhận ngài là vị Lạt Ma tái sinh đời thứ 9 và giao trọng trách quan trọng của một viện trưởng để tiếp tục bảo tồn tu viện Jungpa. Trước khi được công nhận là vị Lạt Ma đời thứ 9, ngài đã là một học giả nổi tiếng của đại học Phật học Seramey. Sau khi hoàn tất học vị Geshe Lharampa (Tiến sĩ Phật học), Neten Rinpoche tiếp tục nghiên cứu và học thêm Phật pháp tại tu viện Mật tông Gyudmed. Sau bốn năm, ngài nhận bằngNgarapa- bằng cấp cao nhất của Mật Tông do đức Dalai Lama cùng hội đồng giáo sư tu sĩ tổ chức kỳ thi.Ngài trở lại giảng dạy chư tăng ở đại học Phật học Seramey, thuộc miền nam Ấn Độ. Neten Rinpoche hoằng pháp khắp nơi trên thế giới. Tại Canada, ngài thành lập Viện Phật học Jam Tse Cho Ling Dharma Center, vùng Mississauga, Toronto. Ontario.

Trên đường hoằng pháp mỗi năm, ngài Neten Rinpoche dừng lại Houston, Dallas, Austin để thuyết giảng ở những ngôi chùa trong thành phố. Ngài có dáng người cao lớn, đôi mắt sáng kèm nụ cười luôn nở trên môi cho cảm giác an lạc khi tiếp xúc. Có nhiều người quy y, trở thành đệ tử của ngài trên đường hoằng pháp. Một số phật tử có duyên gặp ngài qua những chuyến hành hương viếng thăm tu viện do ngài phụ trách điều hành ở Ấn Độ hoặc Canada. Theo dõi sinh hoạt tu tập, hành trì của hàng ngàn vị sư Tây Tạng qua video được thâu từ các phật tử hành hương, mọi người càng thấu rõ trách nhiệm nặng nề của ngài đối với nền Phật giáo lưu vong Tây Tạng. Hàng ngàn tăng sĩ cư trú trong một tu viện cũ kỷ lâu đời chưa được trùng tu, nếu có chỉ là tu bổ từng phần để có nơi cư ngụ. Bữa ăn đạm bạc của học tăng không phải ở phòng ăn mà ở ngoài trời, trong sân tu viện. Tu học trong hoàn cảnh thiếu thốn mọi bề về vật chất, sự khổ hạnh đúng nghĩa phải chăng được dành cho chủng tộc bất khuất, kiên cường dẫu bất hạnh sống đời vong quốc. Quê hương có tên là Tibet bị xóa mất dù đất mẹ vẫn còn.

Trong sự đồng cảm, sẻ chia với vị Bồ Tát giữa đời, đem tình thương xoa dịu nỗi đau qua giáo lý của đức Phật. Ngoài việc tham dự những buổi thuyết giảng của ngài Neten Rinpoche, Phật tử tại Austin, Dallas, Houston mỗi năm đều tổ chức những buổi tiệc chay, gây quỹ giúp ngài thêm phương tiện duy trì các tu viện đang phụ trách. Ban nhạc tên tuổi CBC có mặt mỗi năm. Thừa hưởng từ người mẹ từ bi, các anh chị em trong gia đình CBC ngoài tài chơi nhạc, hát hay còn là những người con Phật thuần thành luôn chung tay góp sức trong nhiều Phật sự. Bốn năm qua, kể từ khi ngài Neten Rinpoche đến với Houston, ban nhạc CBC luôn có mặt cúng dường bằng tiếng hát, bằng tiền thu được ở những CD. Người tham dự được nghe lại những bản nhạc ngoại quốc gợi bao kỷ niệm một thời ở Saigon, cùng những bản nhạc thính phòng sâu lắng trong đêm. Đẹp nhất vẫn là màu áo trắng cả gia đình CBC chọn mặc trong những lần trình diễn. Địa điểm mỗi năm cùng nơi chốn thật yên tĩnh và trang nhã: Villagio ballroom. Chủ nhân cũng là đệ tử của ngài, đã cúng dường nơi chốn thêm hoa trang trí và chung tay tổ chức buổi tiệc tay. Những bình hoa do chủ nhân cắm, làm ấm căn phòng có sức chứa 500 người.


Ngoài chương trình văn nghệ, còn có Show trình diễn Áo dài thời trang được thực hiện bởi chị Khánh Trang. Để bên ngoài chuyện nhận định thời trang, công sức của chị nhiều vô kể. Là cư dân ở Virginia, chị Khánh Trang đến Houston tuyển chọn những người mẫu thiện nguyện rồi design kiểu áo, cắt may cho từng người, thực tập diễn trong thời gian ngắn nhất....Bên cạnh đó còn có sự đóng góp những món quà ý nghĩa tạo thêm tịnh tài góp phần bảo trợ cho tu sĩ lưu vong Tây Tạng. Những bức tranh cắt ghép bằng giấy, bức tranh thêu tay ròng rã trong 6 tháng mới hoàn thành...Tấm lòng trọng đạo, kính Thầy được bày tỏ qua từng bàn tay đóng góp mà đáng kể nhất là các Phật tử và con em của Viên Thông Tự.

Cùng đi với ngài Neten Rinpoche trong từng lần hoằng pháp có chị Nguyễn Mai Phương. Chị là đệ tử của ngài, cũng là một Phật tử uyên bác về Phật học. Chị Mai Phương ngoài việc chuyển dịch qua song ngữ lời giảng của ngài Neten Rinpoche từ tiếng Tây Tạng sang Anh ngữ rồi tiếng Việt cho Phật tử tham dự, chị còn chuyển dịch nhiều kinh sách và những bài thuyết giảng của ngài. Không biết từ bao giờ, chị Mai Phương- một người đến từ Canada trở thành khuôn mặt quen thuộc đối với Phật tử Houston. Sự giản dị, từ hoà của chị cho cảm giác thân gần ngay từ lần gặp đầu tiên.
Những người con Phật đã đến với nhau, cùng chia sẻ nỗi bất hạnh, đau thương từng ngày của một dân tộc hiền hoà chọn đạo cứu khổ ban vui làm quốc giáo. Những kẻ cuồng ngông mang tham vọng bá quyền, vì tham ác sân si đã không ngừng ra tay tiêu diệt giống dân Tậy Tạng. Quê hương Tây Tạng khó nghèo trên những dãy núi trùng điệp đã bị xóa tên. Nước mắt, máu và xương thịt của tu sĩ và thường dân đã đổ, đã hoà trong đất đá tang thương suốt bao năm. Tu viện bị tàn phá. Tu sĩ bị giết hại chẳng nương tay. Họ không có tội tình gì ngoài nỗi cam phận sống cùng đất đá trên quê hương đã mất. Ngài Nenten Rinpoche may mắn đào thoát nên được sống còn để hổ trợ, dìu dắt các tu sĩ lưu vong Tây Tạng, đem giáo lý giải thoát đến với kẻ mê lầm cho nhân loại bớt khổ đau vì tham ái si mê. Đã không còn đường về cho người Tây Tạng lưu vong. Chỉ còn lại nỗi đau buốt nhói khi nhìn đồng bào, chủng tộc của mình sống khổ nhục, chết âm thầm không ai biết dưới bàn tay sắt máu của nhà cầm quyền trung cộng.

Nhìn quốc gia Tây Tạng vĩnh viễn bị xóa dần dấu vết của một dân tộc bị diệt vong. Hướng về quê hương hình chữ S bên bờ Thái Bình Dương xa thẳm nghìn trùng, những người con xa xứ lòng đau. Tim không ai cắt mà như rướm máu. Chỉ còn hơn ba năm nữa mà thôi, khi hiệp định Thành Đô được thực thi. Việt Nam sẽ là một Tây Tạng thứ hai trên thế giới. Hơn ba triệu người ngủ say trên quyền lực, trong tham ác si mê. Vẫn còn gần 90 triệu đồng bào tôi, lẽ nào chưa thức tĩnh hay sao? Họ đã ngủ quên trên phận đời nhược tiểu khiếp hèn. Trên thành công tạm bợ che mờ lý trí. Hay là sống mà không thở nhịp yêu thương, quay lưng lại trước nỗi đau đồng loại. Những đàn heo, những bầy cừu vẫn nhỡn nhơ ăn ngủ vui chơi. Đợi đến ngày đến tháng rồi xếp hàng đi vào lò sát sinh để xong một kiếp cừu, heo.

Mẹ Việt Nam ơi! Giòng máu quật cường, bất khuất mẹ trao truyền đã loãng nhạt hơn bao giờ. Thương quá những người đang tranh đấu thật nhỏ nhoi, bất lực. Trong lời nguyện cầu cho dân Tây Tạng không còn cảnh máu đổ, thịt rơi trên chính quê hương. Con chấp tay khấn nguyện cho dân Việt Nam thức tĩnh, cùng chung tay gìn giữ quê hương. Thời gian đang âm thầm thu ngắn lại từng ngày. Con ngàn lần không muốn thấy quốc gia Việt Nam không còn nữa. Người dân Việt nam sống kiếp đọa đày trong khổ nhục đời đời

Quỳnh My











Sunday, July 24, 2016

Hoa trái nơi này


Sáng nay, hai chị em tôi nói chuyện qua phone. Đang mùa hè mà em bị cúm hành. Hỏi thăm bệnh dẫu biết rõ chu kỳ của cúm, một khi đã ghé thăm rồi là phải ở lại đủ ngày dù không ai muốn tiếp. Chuyện bệnh của em tạo ảnh hưởng dây chuyền. “Hai đứa giận nhau” rồi chị!

Khu vườn nhỏ vừa đủ để hờn anh, giận em năm này qua tháng khác mà kẻ “chủ mưu” là... hoa trái trong vườn.

-Em bệnh không thăm vườn hai ngày. Sáng nay ra nhìn mà muốn xĩu luôn!
-Sao? Có phải cây mãng cầu dai có hơn 20 trái của em bị nạn?
-Nó rụng nhiều, chỉ còn 10 trái đang độ lớn. Nhưng không phải nó làm em mệt!

Thì ra em tôi muốn xĩu vì tên “hàng xóm chung giường” bày biện kiểu thiên la địa võng. Học được kinh nghiệm thu gọn lại, thứ nào không cần thì dẹp bớt, cũng là nhìn lại tính tham của mình có ít hay nhiều. Phải hao tốn thời gian, tiền bạc và công sức hơi nhiều em mới ngộ ra. Đứa em than, mới hai ngày vắng mặt mà phe kia thừa thắng xông lên. Chỉ mình em ăn nên mấy thứ rau thơm đã thu gọn lại bấy lâu, giờ bành trướng như quân xâm lược bắc kinh làm sao em chịu nỗi. 

-Mua mấy đồng rau răm về cắt phần trên trồng riêng một chậu. 
-Thêm mấy đồng hành lá, cắt lấy củ, một chậu riêng. 
-Rau dấp cá một nhúm nhỏ giờ cho ra một chậu... 

Mà chơi xấu thiệt tình nha! Rau răm, hành chỉ lấy phần dưới đem trồng, phần trên đem dục chứ không để lại. Em cần cọng hành bỏ vô chén cháo cảm không có. Rau răm cũng hỏng chừa lại cho em, vậy mà còn đem hai cái bắp chuối về.... 

Trời, nghe kể tội “láng giềng gần” cũng có lý vô cùng. Em rể nói ai trồng, ai tưới, ai hưởng mà than phiền hỏng biết! Em gái phản công. Rau thơm anh có ăn hông? Bày thêm ra để mà chi? Rồi nó than. Thêm chậu, thêm đất, thêm phân, thêm nước...lại cong lưng trả thêm bill. Thú vui làm vườn của những người không còn trẻ, nhiều khi cũng chông gai bởi chuyện nước non. Tôi may mắn trả bill nước nhẹ, trong khi em trả bốn lần hơn dẫu so ra số cây trồng ở vườn bên tôi có hơn phân nửa bên em. Nghĩ lại nhiều khi chỉ vì muốn thỏa mãn thú vui không kém phần cực nhọc này, mà nhiều người quên mất là mình phải trả thêm tiền kèm công sức đã bỏ ra dài ngày vì nó. Có khi chợt nhận ra mình tiến nhanh tiến mạnh không ngờ, bèn dừng lại lấy sức rồi.... chạy tiếp mà không biết.

Chuyện kể, có một bà mẹ dẫn con trai đến gặp vị thiền sư. Người mẹ xin sư giúp bà khuyên đứa con trai mê cây kiểng khiến cho gia đình lâm cảnh túng nghèo hơn. Sư trầm ngâm một lúc rồi bảo hai mẹ con hãy trở lại gặp sư sau hai tuần nữa. Lần gặp thứ hai, sư từ tốn nói với người con trai rằng: Ta vốn có thú đam mê chơi cây kiểng xưa giờ. Trong hai tuần lễ vừa qua ta đã dứt trừ được nỗi đam mê này. Hôm nay thì ta có thể khuyên con. Cố gắng từ bỏ thú vui không cần thiết để có tiền nuôi sống gia đình. Đừng để người mẹ già và vợ con lâm cảnh túng cùng chỉ vì niềm vui của riêng một mình con. Không gì quý bằng sự chân thành trong một lời khuyên. Phải tự thắng chính mình được mới có thể khuyên người khác. Trong đạo Phật gọi là “thân giáo”.

Tôi cũng một thời say mê trồng loại hoa hồng. Năm đó lái xe ngang qua đại lộ Bellaire, thấy những hàng knockout rose trồng khoảng giữa dòng xe cộ ngược xuôi vô cùng rực rỡ. Knockout rose chịu đựng được cả hai mùa nóng, lạnh thêm không cần chăm sóc gì nhiều. Thế là chị em tôi hớn hở mua về trồng sân trước, vườn sau. Tôi còn cắt nhánh dâm xuống đất để có thêm nhiều cây mới. Khi đã thỏa lòng mong ước bấy lâu, không còn “yêu say mê mù quáng” nữa, chợt nhận ra...chân lý. Cây dễ trồng lại cho hoa nhiều nhưng chỉ đẹp khi thời tiết đẹp. Mùa hè hoa ít hẳn đi, thêm co lại, thoi thóp trong nắng nóng. Khi cây lớn, những bụi hoa chiếm chỗ nhiều, trở ngại không ít cho những lần nhổ cỏ dại. Còn thêm phần cắt tỉa dài dài. Hôm nào làm biếng không đeo bao tay dễ bị gai đâm đổ máu hay cào cho trầy xước. Tự hỏi không biết động cơ nào làm mình khổ thế này ha!

Khi khuyên em tôi chậm lại, bớt lại chuyện trồng trọt quanh nhà cho đỡ cực, đỡ tốn tiền và cũng là để tự nhắc riêng tôi. Cũng may, “ông làm vườn” của tôi rất trung thành, cũng thích rỉ rả, nhỏ to khi cần thiết. Biết thế nào là đủ cho nên không trồng quá nhiều cây, để phải xâm lấn tràn qua biên ải. Ông chỉ chăm lo ngăn che bờ cỏi của mình thôi. Em là chủ vườn. Em control cây, không để cây tự do lấn chiếm sinh sôi. Nhờ vậy mà từ cây con đến cây cao, tôi có người phụ tá đắc lực, tỉa cành, cắt nhánh. Nếu không chàng phải bắc thang, vịn thang cho tôi leo hái trái trên cây. Đôi khi cao hứng, anh chàng còn muốn truyền nghề. Lại đây anh chỉ cho coi nhánh nào cần cắt để cho ra dáng đẹp. Cây ngọc lan, cây bồ đề không quá đổi cao, tôi ra tay vài bận. Chàng gật gù khen nội công em cũng khá, chỉ dạy sơ là lãnh hội được liền. Biết thì biết vậy, tôi chỉ ưa hái trái trên cây cùng nhổ cỏ dại, cắt tỉa bông hoa. Bao nhiêu đó đủ cũng đủ hư hao “đôi tay ngà” của mấy mươi năm về trước!

Nghĩ cho cùng, ông làm vườn của tôi chí lý. Đất mình, quyền lợi của mình là tận hưởng những gì mình có. Phải ra tay trừ khử, dọn dẹp gai góc, cỏ dại, những nhánh cây thừa, kể cả cây cam, cây quýt, bụi bạc hà, bụi xả, bụi hẹ cho đến những cây nhỏ như húng lủi, ngò gai...Nếu không nhọc nhằn đổ mồ hôi, chịu nắng chịu cực mà chỉ nằm đu đưa võng thì mong chi được ngắm nhìn hoa trái mỗi ngày, thêm rau quả tươi ngon cho những bữa ăn...

Em thấy chưa! Phải bắt tay vào em mới biết cái gì xấu không cần, phải bỏ. Cách nào để mỗi ngày nhìn thấy đẹp hơn. Thấy mình là chủ mảnh đất mình đang ở, đúng không? Nghe xong chợt thấy ngậm ngùi. Phải chi “ngày đó chúng mình”- hết thảy anh em, cha chú của mình biết cách giữ gìn cho khu vườn Việt Nam đẹp mãi, còn hoài theo với thời gian. Bây giờ, chỉ còn biết ước mơ thôi. Ưóc gì dân mình đừng vô tri như cành cây bị uốn cong queo. Bị hết dần sinh lực chờ ngày héo khô rồi chết. Đã là con người thì phải có ước mơ. Khi mơ ước một cuộc sống tốt đẹp thì phải ra tay dọn dẹp từ trong ra ngoài thay vì tuyệt vọng, ngồi nhìn chờ ngày nước mất, nhà tan. Nguyền rũa, oán than chỉ làm mệt mỏi, tiêu hao sinh lực. Đất nước người ta giàu đẹp do họ tận tâm, tận lực hướng về điều tốt đẹp và thực hiện cho bằng được.
Hôm nay có hai trẻ bạc đầu quên làm vườn lo nghĩ chuyện bên nhà. Chúng mình đã nhìn ra những gì cần nhổ sạch, vứt đi. Bên Việt Nam cũng ngày càng có nhiều người, nhận biết đâu là ngưồn gốc tạo nên thảm cảnh khiến dân Việt ngập chìm trong đau khổ. Từ nhận biết cho đến khi tình yêu quê hương lớn mạnh hơn nỗi sợ, biết có còn đủ thời gian.

Những người đồng hành của anh, của tôi, của em đang ở nơi đâu? Chúng mình có còn đủ thời gian, trước khi nước Việt Nam trở thành Tây Tạng thứ hai như đã thấy?

Thảo Ly



Friday, July 15, 2016

Một ngày với Trang Lê




Thứ Ba,
-Chị ơi! Ba má nuôi em vừa tới nhà thăm nên em không xuống Houston.
-Không sao! Em vui với gia đình, hẹn dịp khác mình sẽ gặp.

Thứ Tư,
-Chị ơi, Bây giờ em trên đường xuống Houston. Sẽ gọi cho chị biết chỗ để chị em mình gặp.

Nơi Trang ở là thủ phủ của tiểu bang Texas. Austin, thành phố thơ mộng, êm đềm với những dốc đồi. Dường như hơi thiếu vắng những tiệm Việt Nam bán thức ăn ngon. Tuần rồi, khi post lên FB câu hỏi ở Houston nơi nào có thức ăn ngon, Trang Lê nhận không biết bao nhiêu câu trả lời quá đổi nhiệt tình, kể cả lời mời “Bà ngoại xì tin” đi ăn tối, ăn trưa. Tôi có lẽ “chậm tay” hơn anh Hoàng, nên được hẹn gặp Trang ở nhà hàng Tân Tân lúc hơn hai giờ. Tuy chưa gặp bao giờ, vừa bước vào bên trong tôi đã nhận ra em đang ngồi chung với ba mẹ nuôi, con gái nhỏ Pha Lê cùng bạn cháu và hai người đàn ông nữa. Khi Trang giới thiệu, nhìn Khoa, tôi thấy quen quen. Khuôn mặt hiền, cách nói chuyện cũng hiền. Thì ra Khoa là “người tình hụt” của Trang 17 năm về trước. “Chàng” bây giờ làm tài xế chở ba má nuôi của Trang lên Austin và tiếp tục đón đưa mẹ con Trang đi Houston rồi về lại trong ngày. Trang kể, khi nói chuyện phone Trang gọi người năm cũ bằng em, xưng chị ngon ơ! Chàng tá hỏa kêu trời khi họ nhận ra nhau. Thì ra chàng ái mộ “Bà ngoại xì tin”, thường gởi video share với mọi người. Đâu ngờ “bà ngoại” chính là ngưòi năm ấy. Chắc để gở lại chuyện ái mộ thầm bà ngoại, tôi nghe Khoa gọi “bé Trang” khi hai người nói chuyện với nhau.

Trang Lê ở ngoài vừa đẹp xinh vừa nhỏ bé, trẻ trung. Em thân thiện, dễ mến chứ không “ngầu” như khi dạy dỗ, la mắng đám bạo quyền ở bên nhà. Vừa nói chuyện Trang vừa gắp thức ăn vô chén cho tôi. Cháu Pha Lê, con gái của em phụng phịu với món bột chiên và lẫu vì chỉ muốn ăn...hột vịt lộn mà thôi. Cha nuôi của Trang đã được giới thiệu trên FB, là thi sĩ Thiên Hà, tác giả bài thơ Nhớ nhau hoài, được phổ nhạc thành bài hát một thời ưa chuộng. Chú Thiên Hà dễ mến cùng vui tính. Nhờ em Trang mà chúng tôi có duyên gặp và được chú ký tặng tập thơ “101 bài thơ tình trên tờ lịch cũ”. Như một cái duyên thật ngẫu nhiên, chú Thiên Hà chọn đọc cho mọi ngưòi nghe bài thơ Đêm trên tuyến lửa xưa, khi cả nhóm ghé thăm, hàn huyên cùng dân biểu Hubert Võ. Chú hỏi ở đây có ai biết về chiến trận năm xưa ở An Lộc, Bình Long. Tôi cười. dạ cháu là người ra đời ở An Lộc và có mặt trong mùa hè đỏ lửa. Anh Hubert Võ thêm câu hỏi năm đó tôi được bao nhiêu tuổi. Tôi thật sự ngấm lời thơ của Thiên Hà, như thuở 13,14 đã từng hát say mê bài Nhớ nhau hoài trong lớp học ngày xưa ở Bình Long.



Ngồi bên Trang nói chuyện tâm tình, tôi thêm thán phục người con gái thông minh, nhiều nghị lực cùng trái tim chung nhịp đập với đồng bào đang trầm luân, thống khổ ở quê nhà. Em đi làm một tuần lễ sáu ngày và không nghỉ cuối tuần. Những video em post thường là thứ Ba, ngày nghỉ duy nhất của em. Mười năm theo chồng đến xứ người, em không có người thân ruột thịt ở đây. Làm việc nhiều giờ thêm làm vợ và làm mẹ, em và gia đình đã hy sinh hạnh phúc riêng để dành thời giờ cho những video clip được cả trăm ngàn người say mê theo dõi, không phân biệt tuổi tác, thành phần ở hải ngoại lẫn bên nhà. Em xóa tan thắc mắc của tôi khi cho biết em tự biên soạn nội dung vì thích độc lập, không lệ thuộc vào bất kỳ ai. Tôi băn khoăn. Muốn thực hiện với nội dung mang tính thời sự nóng bỏng ở VN, em phải cập nhật, phân tích và trình bày quan điểm....Làm sao với thời giờ eo hẹp của em? Trang cười. Em sống với họ lâu nên đủ hiểu, biết mình phải làm gì thay cho tiếng nói của những người ở bên nhà. 

-Em bắt đầu làm video từ bao giờ? 
-Từ lúc nhạc sĩ Việt Khang bị bắt bỏ tù chỉ vì hai nhạc phẩm Anh là ai và Việt nam tôi đâu. 

Em chửi đảng và nhà cầm quyền CSVN “bạo” như vậy, bên cạnh hàng ngàn người ái mộ, em có bị quấy nhiễu gì không từ phía bên kia? Trang lại cười. Em chửi mạnh mà không tục. Đám CS gởi lại cho em toàn lời tục tỉu kèm hình ảnh vô cùng dơ bẩn. Họ chỉ có khả năng làm được chuyện bẩn vậy thôi. Tôi hiểu, không phải chỉ có thế. Những người tranh đấu cho một VN tự do, cho nhân quyền hoặc ngay cả chỉ đơn thuần ủng hộ tinh thần dù bên này hay bên nhà, thường nhận biết rõ ràng ai là kẻ đồng hành. Những ai không cùng nhìn về một hướng sẽ tránh xa mình. Ngay cả một cái nhấn chữ “like” họ cũng sợ hãi như là tang chứng. Tôi đã nghe từ vài người trẻ ở bên đó, bên này cho biết. Em unfriend cũng nhiều vì có giữ lại cũng chỉ thêm chật chỗ mà thôi.

Rời Tân Tân, mọi người giữ chúng tôi lại chưa cho từ giả. Anh Hoàng là thổ địa Houston đề nghị đưa mẹ con Trang và cô chú Thiên Hà qua chụp hình ở Tượng Đài chiến sĩ VNCH, sau đó ghé qua văn phòng của dân biểu Hubert Võ. Thương hai đứa bé Pha Lê và bạn chịu chung nắng nóng Houston, còn thêm tức tửi vì mẹ cho mua chuột bạch, ôm trên tay rồi mà phải bỏ lại Lý do là họ không có bán chiếc lồng nhỏ nào để vừa trong xe mang về Austin. Hy vọng lần sau đến Houston con gái sẽ được toại nguyện ha!

Cảm ơn Trang Lê với chuyến đi về trong ngày đã cho chị cơ hội gặp, được chia với em những khoảnh khắc khó quên. Tình yêu quê hương vẫn đầy ắp trong con tim người xa xứ bên này. Càng ngày càng có nhiều người con gái Việt Nam không thể ngồi yên trước hoạ diệt vong. Mỗi người một cách để nói lên tiếng nói của tự do. Với tôi, em là anh thư nước Việt. Em đã chọn cách đối thoại vô cùng đặc biệt, gần gủi với đời thường, với những con người chịu nhiều ẩn ức, oan khiên. Mang đến cho họ niềm an ủi đuợc sẻ chia, đồng thời lại là bản án dành cho kẻ thống trị ác hèn, gây bao tang tóc, đau thương cho đồng loại.


 Thảo Ly

Sunday, June 19, 2016

Tình Cha



Sau ngày cha mất, lũ con chợt khám phá ra tình mẹ dành cho cha quá đậm. Như cây cổ thụ xum xuê một ngày bật gốc, để lại người nép bóng phận đời chới với. Mẹ từng ngày đưa tay quơ tìm giữa khoảng không còn lại.

"Má bầy trẻ" và "ba thằng Đường" là cách xưng hô hằng ngày của hai người mà đàn con mười đứa vẫn  nghe. Có lần giữa bữa ăn, em gái út tinh nghịch hỏi. Hồi mới gặp, ba má gọi nhau bằng gì? Có bao giờ anh em với nhau không? Rồi khi mới cưới, chưa có con để trở thành má bầy trẻ hay ba thằng Đường, thì gọi bằng gì? Anh em tôi bật cười, và câu hỏi vẫn còn là nỗi thắc mắc - ít ra với em tôi. Mẹ tôi giải thích, mà như không giải thích được gì. Chưa cưới về đã bao giờ gặp nhau đâu mà nói chuyện, xưng hô. Bé út la lên. Trời ơi! Không ai bạo gan như Má, dám lấy người chỉ nhìn loáng thoáng đôi lần. Không nói chuyện, không biết người ta ra sao mà gởi phận trao duyên. Mẹ cười, thì phước ai nấy hưởng, vậy thôi. Có gặp, có hiểu, có tìm thì cũng lầm cũng lẫn như thường. Các con bây giờ tự do chọn lựa, mà nhiều cuộc hôn nhân có đi đến nơi về đến chốn đâu!

Gia đình bên nội tôi khá giả để cha tôi có cơ hội được học chữ quốc ngữ cùng chữ nho, có thầy đến dạy tại nhà. Nhưng dường như ông không được hưởng sự hồn nhiên của tuổi thơ. Nhìn cảnh nhà trên đà phá sản vì sự vung tay quá trớn của ông tôi, đứa con trai còn lại duy nhất là cha sớm nhận biết những ngày sắp tới là tương lai mù tối. Có lẽ nghĩ mình không thể chôn cuộc đời nơi ruộng đồng trơ trọi ở quê nghèo, cha tôi lặng lẽ theo đoàn người trong nhóm mộ phu trốn vào Nam. Vùng trời thăm thẳm, xa xôi chưa biết là đâu. Chỉ nghe người ta nói nơi đó đất trời êm dịu, hiền hòa. Khí hậu không khắc nghiệt, đất đai trừu phú và lòng người thì rộng mở.

Giã từ quê nội Thái Bình, chưa đầy 15 tuổi cha tôi trở thành ngưòi phu đồn điền nhỏ tuổi xuôi Nam, mang ý chí đổi thay cuộc sống dù chưa bao giờ nếm mùi của nhọc nhằn. Khi những rừng cao su bạt ngàn lớn vội, cũng là khi cha đủ ngấm sâu nỗi tủi cực từng ngày cùng những phận đời lưu lạc quanh mình. Cha không còn e ngại, len lỏi tách mình ra khỏi những giòng nhựa trắng, chảy từ thân cây có hòa chung nước mắt, mồ hôi của đám người tha phương. Ông xin vào học nghề thợ máy ở một ga ra sửa xe nơi tỉnh nhỏ. Học nghề không phải tới trường, không đóng học phí nên phải đổi lại bằng muôn ngàn cay đắng. Được chủ nuôi cơm và sai vặt ngày đêm, từ chuyện có liên quan tới nghề cho tới chuyện của tên đầy tớ, kèm theo những mắng chưởi không ngừng. Đôi khi được kèm theo bằng những cái tát tai, những cú đấm vô lý trong cơn giận dữ. Cho tới khi cha tôi làm có chút tiền lương và có dịp xuôi ngược tới vùng quê nghèo bên ngoại. Tính thâm trầm, điềm đạm thêm ảnh huởng của nho gia nên cho dù nét mặt hơi khắc khổ, cha vẫn mang dáng vẽ đặc biệt trong đám người chân lấm, tay bùn. Khi nghe chị em tôi ca cẩm, cha độc tài, vô lý gì đâu khi nghiêm cấm lũ con hát xướng đàn ca. Anh chị tôi thường phải trốn sang nhà hàng xóm khi thèm ca hát. Mẹ tôi cười cười, tiết lộ điều này. Hồi đó ông cũng đờn ca tài tử như ai. Dân Bắc kỳ mà đờn vọng cổ thiệt mùi, đến nỗi chinh phục được luôn người đẹp. Tưởng là có kết cuộc vui. Ai dè nhà gái hồi hôn vì chê ông phiêu bạt nghèo nàn, không xứng với người ta. Từ đó ông quăng đàn không ca hát nữa.

Tôi không ngạc nhiên khi nghe chuyện kể không thứ tự, về cuộc đời của cha tôi những lúc mẹ vui. Thừa hưởng từ cha tính nhẫn nhịn, siêng năng, chừng mực, có pha chút dí dõm, nên dù có hay không dáng dấp, phong lưu các anh em trai của tôi dường như thường thu phục cảm tình của người khác phái dễ dàng. Phải nói cha tôi là một người đàn ông chẳng đẹp trai. Lại là người đàn ông "Bắc kỳ" duy nhất trôi giạt về vùng quê ngoại. Trong khi mẹ tôi là con nhà nghèo nhưng được bao người, theo đuổi ước mơ vì đức hạnh và dịu dàng, xinh xắn. Khi cha hỏi cưới mẹ, đã nhờ người mà mẹ tôi từ chối làm dâu đứng ra đại diện nhà trai. Bà nhận lời nhưng xa xót thở than. Tưởng con dâu của mình, ai ngờ giờ lại đứng ra hỏi cưới về làm dâu người khác. Nghe chuyện hấp dẫn, ly kỳ chị em tôi hỏi tới thêm. Bà mẹ có vẻ là người nhân hậu. Còn ông đó là ai? Lý do nào người ta đi dạm má lại chối từ? Mẹ tôi bùi ngùi. Ngày xưa hai gia đình có hứa hôn. Ông là công tử con nhà giàu, đi học ở Saigon. Cứ 3 tháng hè về quê, mặc bộ pyjama, xách cây đờn lủi thủi đi theo sau những buổi má gánh hàng đi bán. Bán ế trở về ông chận đường nài nỉ đòi mua cho bằng hết. Má thấy người ta giàu lại học hành cao. Mình nghèo quá không chữ nghĩa làm sao xứng, nên từ chối. Má lấy chồng, làng quê có tiếng xì xào. Đúng là già kén, chẹn hom. Chê làm dâu nhà giàu, tưởng lấy ai, hoá ra là tên Bắc kỳ nghèo xơ xác.

Người mẹ nhân từ, đức độ thuở xưa, đã trở thành “bà nội” của anh em tôi khi nối lại liên lạc sau này. Cậu công tử nhà giàu thương mẹ ngày xưa đã lập gia đình và đem người mẹ về phụng dưỡng ở Saigon. Bà mẹ ấy đã thuyết phục ba mẹ tôi đưa anh trai lớn của tôi về Saigon học trường lớn cùng kết làm anh em với cháu nội của bà. Anh trai tôi được thương yêu, nuông chiều như cậu ấm con nhà giàu, nên lơ là chuyện học hành. Vài năm sau anh bị cha tôi triệu hồi về mái nhà xưa. Ngày "bà nội" qua đời, cũng như ngày người cha không duyên nợ với mẹ tôi vĩnh viễn ra đi, ba mẹ tôi từ tỉnh nhỏ về Saigon đưa tiển như tiển đưa một người thân. Khi đủ tuổi để hiểu rõ về sự liên hệ giữa ba mẹ tôi với người bà nội nhân từ, thương từ mẹ tôi cho tới ba tôi và luôn cả đàn con. Mối tình si ngày cũ biến thành tình thương bất diệt, chỉ biết cho đi cho đến cuối cuộc đời thôi. Anh em tôi vừa cảm phục, vừa biết mình có phước nhiều. Chợt nhận ra tình của người xưa cao cả quá.

Bình Dương, Bình Long, Dầu Tiếng, Saigon, Rừng Lá, Gia Rây, Định Quán…là những nơi chốn dừng chân của gia đình. Khác với nhiều người hay bám đất, bám quê khi nhận thấy cần thay đổi cha tôi không ngần ngại. Nơi dừng chân lâu nhất của cha, có lẽ là miền  cao su đât đỏ Bình Long. Nửa đàn con còn lại của ba mẹ tôi đã chào đời ở nơi này. Cũng ở đây cha tôi tạo nên sự nghiệp và phủi tay gởi lại như chưa từng đến và đi. Tuy nhiên những tháng năm êm đềm nơi tỉnh lỵ hiền hoà, đã để lại dấu ấn sâu đậm chuyển đổi đời sống tâm linh của cha tôi.

Khi cha tôi có khả năng bảo bọc người thân, thì đường về đã bị ngăn chia hai miền Nam Bắc. Đau xót ngập lòng ngày cha nhận tấm bưu thiếp từ quê nhà. Bà tôi mất trong nạn đói năm Ất dậu. Ông tôi kéo lê chuỗi ngày tàn trong khó nghèo không nguời thân ruột thịt ở cạnh bên, may nhờ có họ hàng chăm sóc lúc cuối đời. Dù có thể ngồi nhà điều hành công việc kinh doanh với mẹ tôi, đồng thời coi sóc được những chiếc xe hàng và xe chở khách có thuê tài xế, nhưng cha tôi vẫn miệt mài làm việc không ngừng. Ông như sợ phải đối diện với những giờ phút thảnh thơi, nhàn rỗi. Dù cực nhọc, dù hằng ngày phải giao tiếp với đủ hạng người dung tục, nhưng trước sau cha tôi vẫn là người lặng lẽ, thâm trầm trong thế giới của riêng mình. Ông kể thuở còn ở Saigon, những buổi trưa mướn ghế bố nằm nghỉ chờ đến chuyến của mình, từ phòng bên cạnh là tiếng kêu dọc tẩu của những bàn đèn thuốc phiện mà dân ghiền lui tới mỗi ngày. Trên vách, những con thằn lằn kéo ra hít khói vì hình như chúng cũng nghiện theo, trong khi cha tôi thản nhiên nằm đếm thời gian. Sòng bạc là nơi ông xa lánh, bởi nỗi đau thầm lặng ngày xua, chưa kịp lớn đã chứng kiến điều bi thảm mà lẽ ra không xãy tới, nếu như ông tôi không có máu đỏ đen, bán hết gia sản ông cha để lại. Cha tôi dạy con rất đỗi nghiêm. Không chấp nhận bất cứ lời nói khiếm nhã nào, sẽ phạt rất nặng chẳng chừa ai, nếu như một trong mười anh em tôi phạm lỗi. Không muốn bất cứ đứa con trai nào bén mãng đến gần những lá bài, dù chỉ là trò chơi trẻ nhỏ, đặt bằng những cọng dây thun hay bao thuốc lá không.

Căn nhà mới cất nằm trên con dốc, có ngôi tịnh xá thật gần. Hình ảnh những vị sư đầu đội trần, chân đạp đất xếp hàng dài đi khất thực trong ánh nắng như thiêu đốt trên con đường nhựa, đã làm cha tôi xúc động, bồi hồi. Từ đó luật lệ dành cho anh em tôi bỗng như thắt chặt thêm, sau khi cha tôi tìm đến ngôi tịnh xá tìm hiểu và học Phật từ nơi những vị sư thường lặng lẽ khép mắt bước đi trên những con dốc có nắng vàng, bụi đỏ ngập đầy. Cho mãi đến mấy mươi năm sau tôi mới nhận ra, từ thuở nhỏ anh em tôi đã được cha dạy hạnh nhẫn nhục từ nơi cách sống của ông và áp dụng luôn cho cả đàn con. Không nhìn lỗi người, chỉ ráng thấy lỗi mình. Nhịn mà không thấy nhục vì đó là cách mình chọn để sống với mọi nguời, những người cũng có niềm vui, nỗi khổ như mình, chỉ vì nghiệp quả khác nên hình tướng khác. Còn lại ai ai cũng ước mong được hạnh phúc, bình an. Đã mong hạnh phúc thì đừng bao giờ gieo đau khổ cho ai, dù họ đối với mình có ra sao đi nữa. Anh em tôi đã một thời uất ức tủi buồn. Nghĩ cha bất công, chỉ biết lo cho con đầy đủ ấm no mà thiếu tình thương, bởi quá nghiêm khắc, đòi hỏi con phải làm người lớn khi tuổi còn thơ dại. Chỉ cần người anh nghịch ngợm nhất nhà phạm lỗi, là cả đám anh em bị nằm xếp hàng nhận lãnh những ngọn roi từ một cọng mây. Cha bảo nếu như anh tôi không chơi chung với đám nghịch phá thì hàng xóm không tới phiền hà, dù sự thật lần đó anh không góp mặt. Người ta tức bực những người bao che, bênh vực con hư nên tìm tới cha tôi cho hả dạ, vì biết cha sẽ xử tội anh tôi không cần biết những lời cáo buộc kia có đúng như sự thật hay không. Lần đó, tôi chưa đủ tuổi để lãnh quả chung với anh tôi nên ngơ ngác kêu lên khiến chị tôi điếng hồn luôn. Chị vốn sợ đòn roi nên ráng thật ngoan. Vậy mà vẫn bị cha tôi ra lệnh tất cả chịu đòn chung như luật lệ đã ra. Chị cuống quýt tuột ngồi thụp xuống cạnh bên chiếc đi văng. Chụp cái giỏ đi chợ của mẹ treo gần đó lên đầu mong cho cha tôi không để ý. Sau lần đó, cha tôi tội nghiệp, đã tha không bắt lũ con gái chịu đòn chung .

Còn rất nhỏ đã được huấn luyện thật nghiêm như trong quân đội, cho nên tính ra anh em tôi ít bị đòn roi. Người nào cũng lo giữ thân mình, cũng chính là giữ gìn cho người vô tội khác trong nhà. Phải có đàn con đông, phải gánh oằn vai trách nhiệm vật chất lẫn tinh thần và luyện rèn đạo đức cho con, mới thấu hiểu tấm lòng của người cha. Bên cạnh việc để mắt uốn nắn và dạy dỗ khắt khe, cha tôi không nói gì về tâm từ, nhưng chúng tôi học hai chữ từ bi, bằng chính cách sống của cha và mẹ mỗi ngày ở trong đời. Cha cho thiếu hoặc không lấy tiền vé xe đò với đám học trò con nhà nghèo đi trọ học xa nhà. Cha đem về cho ngủ qua đêm những người thiếu nữ hoặc đàn bà lỡ đuờng không có người thân. Một trong những người thiếu nữ hoạn nạn đã trở thành con dâu của cha mấy năm sau.  Anh trai tôi vào quân ngủ lâu rồi, không có mặt trong đêm định mệnh. vậy mà duyên nợ buộc vào nhau. Qua đêm tá túc ở nhà tôi, người thiếu nữ trở về miền Tây và tìm gặp anh tôi để trao tay lá thư mẹ kêu tôi viết gởi cho anh.

Mẹ tôi một đôi lần xót dạ, bởi thỉnh thoảng sau đêm tá túc, khách lạ ra đi mang theo quần áo hay một vài món đồ ở trong nhà. Cha tôi nghe phàn nàn chỉ cười trừ. Thì họ lâm cảnh khốn cùng coi như mình bố thí. Cha tôi bắt đầu ăn chay niệm Phật và thỉnh về những bộ kinh để tụng hằng đêm. Căn gác nhỏ trở thành giang san riêng biệt. Mỗi tối và khuya, giờ chuông mõ tụng kinh, trong nhà tôi là một khoảnh vắng im. Tiếng nói chuyện thì thào. Radio, tivi tắt hẳn tưởng như không có âm thanh nào trong căn nhà rất nhiều người. Có lẽ không chịu nỗi không khí u trầm tĩnh lặng, nên những chị hai giúp việc sau một thời gian lặng lẽ rút lui với cùng một lý do. Ở đây buồn quá, dù con được đối xử như các em trong nhà, hơn bất cứ nơi nào con đã vào làm. Mẹ tôi cực nhọc nhiều hơn mỗi lúc "mất" chị hai. Tôi với chị lớn thay thế giặt thau quần áo của cả nhà, giặt luôn quần áo  người giúp việc của cha tôi. Anh em tôi được dạy tính không phân biệt, mà không hề biết đó là hành trang quý giá của cha trao. Hai đấng sinh thành vẫn đều đặn đón tiếp và lưu lại vô thời hạn những người bà con xa gần nơi quê ngoại, tới ở chơi hay chữa bệnh dài ngày. Khi về ai cũng có quà là bánh trái, thuốc men kèm với ít tiền làm lộ phí.

Phần thưởng của cha tôi chính là niềm vui nhận từ nhiều người xa lạ bên ngoài. Họ cảm ơn cha tôi đã sinh một người con tử tế, hiền lương. Người anh phụ trách về an ninh trong quận lỵ, thường xuyên tiếp xúc với những người có liên lạc với phía bên kia, bởi người thân của họ theo việt cộng. Cảm thông với kẻ ở giữa hai lằn đạn, anh sẵn lòng giúp đỡ mọi điều. Mua giúp dụng cụ cá nhân trong lúc tạm giam. Nhắn tin cho gia đình biết để không lo lắng, kể luôn tiền để đi xe về nhà lúc được thả ra…Một trong những “chị hai” của nhà tôi là người thường bị mời lên để điều tra. Chị sống ở vùng xôi đậu, có chồng theo vc từ lâu. Cảm thông nỗi sợ hãi thường xuyên của chị, anh tôi bảo lãnh cho chị về giúp việc ăn lương của mẹ tôi. Một ngày chị hốt hoảng gần ngất xiũ, khi nhìn thấy đôi dép râu ở cửa sau. Rồi nhanh tay chị lấy đôi dép đem chôn xuống đất. Cho đến khi anh tôi tìm không thấy nên hỏi chị. Thì ra chị hai hoảng sợ, ngỡ người chồng vc mò về để đôi dép sau nhà. Đâu biết rằng anh tôi đang ‘có khách” là vc, đêm rồi đã cắt kẻm gai đột nhập vào quận ly. Anh bỏ giày lại ở văn phòng, xỏ đôi dép râu chiến lợi phẩm đi về nhà cho mát bàn chân!

Không tranh cãi hơn thua, cho rằng mình đúng người sai. Không để mắt vào chuyện người khác và lặng lẽ rút lui khi người gây hấn. Đám anh em tôi đã đi vào đời bằng những bước nhẹ nhàng. Một đôi khi người anh hiền nhất thở than. Sống chân thật, nhường nhịn không hơn thua với bất cứ ai, đôi khi mình giống như ngu khờ dưới mắt mọi người. Tôi an ủi anh tôi. Khờ mà ăn ngon, ngủ yên. Thêm bạn, bớt thù cũng hạnh phúc rồi. Hãy nói cho em nghe, xưa nay anh có kẻ thù không? Anh tôi cười hiền, bởi thừa hiểu những gì nhận được qua cách sống của cha tôi. Không cần nói bằng lời, vẫn làm cho người giao tiếp thân cận cảm nhận sự tin tưởng, bình an. Anh có thêm nhiều những người anh, người chị trong đời bên cạnh gia đình vốn lớn sẵn rồi. Đó là những người khách hàng, cảm mến và mở rộng vòng tay đón nhận anh như một người thân.

Tôi nhớ thời trung học ở Saigon, có nhiều buổi sáng trước sân trường tôi bỗng dưng ao ước tình cha. Hình ảnh cô bạn học ngồi vòng tay ôm người cha trên chiếc vespa, ngó sao ngọt ngào, đầm ấm, dễ thương. Xe dừng lại trước cổng trường. Cô nhỏ bước xuống ôm vai cha và nhận lại gói quà sáng người cha đặt vào tay con gái, xiết nhẹ và ân cần dặn nhỏ điều gì. Tôi thường được Tuyết Dung bạn tôi chia chung quà sáng của cha. Là chiếc bánh bao còn nóng, hoặc gói xôi, khúc bánh mì.... mua đâu đó trên đường chở con đi học. Một lần, tôi đến nhà Dung. Hết sức ngạc nhiên khi nhìn thấy bạn tôi- cô tiểu thư xinh đẹp, hiền ngoan và học giỏi đang trãi tình thương cho lũ heo con. Căn nhà ở ngoại ô thành phố với khu vườn cây ăn trái, đất rộng mênh mông, phía sau còn có một chuồng heo. Nhìn bạn tôi vừa tắm cho lũ heo con, vừa nâng niu đùa giỡn như đang chơi đùa với lũ em thơ. Tôi nhận ra những gì Dung đón nhận từ cha, cô đem chia lại cho đàn heo mọi đen thui, bé bỏng. Chợt biết, mình hay khao khát được thương yêu nhưng dường như quá ích kỷ. Chỉ mong đón nhận hơn là cho ra những gì mình có thể, dù đó là thứ càng cho đi, càng thấy giàu thêm. Những bài học từ bi cha tôi một đời không ngừng dạy bằng ngay cách sống của người. Vậy mà tôi cứ thấy cha là cha và tôi là tôi, cho nên vẫn luôn thầm khao khát tình cha.
Cha tôi ra đi đã 4 năm. Mẹ tôi vẫn hụt hẫng sau khi đã nép bóng bên người 61 năm dài. Riêng tôi luôn cảm nhận cha hiện diện mọi lúc mọi nơi, quanh tôi. Cha ở trên khuôn mặt chị tôi với những vết đồi mồi. Cha ở trên vầng trán cao cương nghị, trong giọng nói hiền ấm của những người anh. Cha ở trong tình thương mà mẹ tôi tiếp tục trải dài từ quê hương mới bên này tới quê hương bên kia. Từ ngôi chùa lớn cho tới mái lá nghèo nuôi trẻ mồ côi ở Việt Nam. Cha còn mãi qua lời an ủi, trong những giờ phút sau cùng tôi quanh quẩn cạnh cha ở nhà thương. Con ơi, không phải chỉ người dư giả, giàu sang mới có cơ hội bố thí, cúng dường. Nếu biết cho ra không suy tính đắn đo những gì đang có sẵn nơi con, là tình thương và sự hiểu biết, thì hạnh phúc của người cũng là hạnh phúc của con.

Gia tài cha để lại, không thấy gì nhưng trùm khắp quanh đây, chở che từng bước. Vậy mà ngày xưa tôi đã ngây ngô ao ước tình cha.

Qùynh My

Sunday, May 29, 2016

Từng ngày qua đi...

 
Không biết bao lâu rồi, thú vui ra vườn ngắm nhìn từng chiếc lá, nụ hoa đã bị bỏ quên. Chỗ ngồi trước hiên bên cụm hoa vàng; trên chiếc ghế sau vườn cạnh bụi hoa màu tím và cả chỗ nằm nghe chim hót, ngắm chiều tà không còn nữa.

Dường như tất cả bắt đầu thay đổi, từ khi cá chết, dân miền Trung thêm khốn khó, lầm than. Từ khi lo lắng bồn chồn theo những bước chân rầm rập xuống đường. Từ khi nhìn cảnh máu đổ, người đánh đập người tàn bạo hơn bao giờ, chỉ vì câu hỏi hết sức bình thường: Vì sao cá chế?. Từ khi nghe tin những người con gái Việt Nam ở bên này đã lên đường, trở về đất mẹ mồi đốm lửa cho ánh sáng tự do bùng cháy. Rồi các em mất tích...Nancy Nguyễn bị bắt từ Saigon đã trở về. Còn Mã Tiểu Linh vẫn chưa có tin em.

Niềm vui vừa nhen nhúm đã lụi tàn. Hàng vạn bước chân xuống đường ở Saigon, Hà nội, miền trung, có lẽ nào như đứa bé mới tập đi. Loạng choạng ngã xuống rồi không đứng dậy. Chút ánh sáng dân chủ vừa le lói, chợt tắt theo những bàn chân lui vào bóng tối ẩn mình. Những người cất cao tiếng nói tự do không sợ bắt bớ tù đày, chỉ sợ cô đơn vì thiếu đồng hành bên cạnh. Trãi lòng theo những đứa con yêu của mẹ Việt Nam, đã từ bỏ hạnh phúc đời thường để đổi lấy sự tra tấn, nhục hình từ thể xác đến tinh thần, chỉ vì quá yêu thương dân tộc, quê hương. Có những giọt nước mắt âm thầm chảy xuống trong khi làm việc. Cảm nghe ướt gối, mặn môi những đêm khuya, khi nghĩ tới Trần Huỳnh Duy Thức. Có cách gì để giữ lại anh- vị bồ tát giữa đời vì tình yêu thương nhân loại sẵn sàng cho đi cuộc sống.

Ngày tháng êm đềm ở nơi này đã hết êm đềm, dẫu lòng thêm ấm khi âm thầm nhận vào đời sống nhiều khuôn mặt mới. Những người anh, người chị, người em ở bên này mà lòng gởi tận bên nhà. Những đứa em có trái tim nồng ấm, thiết tha quên tuổi thanh xuân dẫm lên gai góc mà đi. Những người mẹ trẻ, cách này hay cách khác không ngừng làm đẹp cuộc đời. Bằng tiếng nói cất cao không sợ hãi đòn thù. Bằng đôi vai ghé xuống, sớt chia cơm áo cho những cảnh đời bất hạnh dẫy đầy quanh cuộc sống....

Nguyễn Ngọc Như Huỳnh, Phạm Thanh Nghiên, Lâm Ngân Mai, Hoàng Mỹ Uyên, Hồng Thái Hoàng....Những cái tên đã trở nên gần gủi mỗi ngày quanh cuộc sống bây giờ. Các em là ngọn đuốc, những ngọn đuốc riêng lẻ, lạc loài giữa biển người cùng cảnh ngộ nhưng không cùng tri thức.

Nguyện cầu cho Mẹ Việt Nam có đàn con biết thương yêu dân tộc, quê hương. Cùng chung vai góp sức xây dựng ngôi nhà của tiền nhân để lại trước khi quá muộn. 
 
 
 Quỳnh My

Monday, May 23, 2016

Sinh nhật Dì

Hôm nay là ngày sinh nhật lần thứ 81 của dì- người em gái duy nhất của mẹ còn sót lại và là người có khuôn mặt giống mẹ nhiều.

Ông bà ngoại có sáu người con, bốn gái hai trai. Nghe mẹ kể bà ngoại là người xinh đẹp, đảm đang, đã tận tụy với nhà chồng cho đến lúc lìa đời. Bà ngoại làm nhiều thứ bánh cho mẹ đem đi bán. Ngoại nhọc nhằn, mẹ cũng nhọc nhằn. Đôi quang gánh trĩu nặng trên vai, mẹ rời nhà khi trời chưa rạng sáng bên nhiều nỗi sợ vây quanh. Người thiếu nữ đẹp mặn mà thuở ấy, sợ bóng tối, sợ ma, sợ cả người khi một mình rão bước trên đường làng lúc trở về, vì có nhiều trai làng đi theo trêu ghẹo, cho dẫu họ không ngần ngại mua hết bánh trong những ngày mẹ bán ế trở về. Khi bán hết hàng, niềm vui của mẹ không bao giờ trọn vẹn, bởi số tiền lời chỉ đủ cho bữa ăn vô cùng đạm bạc. Mẹ lết thết rời phiên chợ làng với những giọt nước mắt nuốt vào trong khi nghĩ đến bà ngoại bệnh quanh năm bởi lao lực, lao tâm, chưa bao giờ được nếm những món ăn đủ đầy dinh dưỡng.

Mẹ đi lấy chồng năm mười chín tuổi. Hai mươi tuổi mẹ sinh đứa con đầu lòng cũng là lúc ngoại lìa đời. Trong đàn em nhỏ mồ côi của mẹ, có cậu dì còn hớn hở, mừng vui khi được thay áo mới thọ tang cho ngoại. Hơn bốn mươi tuổi bà ngoại mất chỉ vì bệnh không có tiền chạy chữa thuốc thang. Mẹ mang nỗi đau bởi bất lực, chưa làm gì để đáp đền. Nghe người lớn nói bà ngoại chưa siêu thoát, hay trở về bên đàn con dại mồ côi. Mẹ nhiều đêm ngồi trong bóng tối, trong căn buồng chỗ của ngoại nằm, quơ tay tìm giữa khoảng không, ao ước một lần được chạm vào bà ngoại.

Rồi một ngày tin dữ đưa về. Ông ngoại và người em trai kế của mẹ bị chặt đầu quăng xác xuống sông, vì tham gia phong trào chống pháp. Nhờ người lặn xuống sông tìm xác, mẹ đợi đêm về cùng người bà con bó xác ông ngoại và xác cậu, hai người gánh hai đầu, lén lút mang về chôn cất lặng thầm. Cũng vì lòng căm phẫn giặc Tây mà người em trai ông ngoại bỏ nhà theo kháng chiến. Lòng yêu nước bị phản bội, đã cầm chân ông ở lại đất bắc cho đến năm 1975. Đàn em của mẹ chia hai. Hai người em gái về ở với ông bà cố, cậu út và dì theo về cùng mẹ. Mười mấy tuổi dì theo cha ra ngoài kiếm sống. Có lần sau cuộc giao tranh giữa rừng cao su của hai bên, cha hốt hoảng đi tìm. Dì nằm bất động bên nhiều xác chết, chiếc nón lá phũ lên khuôn mặt. Cha đau đớn không cầm nước mắt, nghĩ cách làm sao mang xác đứa em về. Cùng lúc dì bật dậy mừng rỡ kể. Em đã giả bộ chết để qua mắt họ.




Rồi dì đi lấy chồng. Ba mẹ gả dì cho người đàn ông từ bắc trốn vào nam giống như cha. Sau những tháng năm lận đận trong nghèo khó, cha mẹ rời Sài gòn về sống nơi tỉnh nhỏ như chạy trốn nỗi buồn khi người anh trai mười tuổi chết vì bệnh thương hàn. Những ngày cơ cực qua đi. Cha tạo nên cơ nghiệp nơi đất lành chim đậu. Thừa hưởng tính đảm đang từ ngoại, dì lấy chồng về sống ở Saigon, vừa tròn bổn phận làm dâu vừa buôn bán tại nhà phụ nuôi một đàn con. Thỉnh thoảng dì bỏ hết để đi thăm ba mẹ. Căn nhà mỗi lúc có dì tràn ngập niềm vui. Ngoài quà bánh mua từ thành phố, là tình thương dành cho lũ cháu đong đầy. 

Mẹ với các dì xuất thân là thôn nữ nhà nghèo, nhưng có gương mặt tỏa sáng và thanh thoát. Cách đi đứng, nói cười rất đổi khoan thai. Đám cháu đôi khi đã ngẩn ngơ, khi lặng ngắm dì mồi lửa châm thuốc hút. Dì cười hiền rồi phân trần. Tại hồi nhỏ đi chăn trâu cả ngày đâu biết làm gì. Nhà ngoại trồng thuốc rê, bắt chước mọi người hút thử dì ghiền lúc nào không biết. Mẹ cũng chăn trâu khi còn bé và may thay không hút thuốc như hai người em gái. Kỷ niệm chăn trâu của mẹ là không nhận ra con trâu nào của nhà mình. Người bà con của mẹ ham chơi, đã biết cách làm cho mẹ trông nom trâu người mà tưởng trâu mình cho đến lúc chiều về.

Nhờ dì bươn chải nên tuy làm công chức, dì chú đã xây thêm một căn nhà thuộc quận Nhà Bè. Sau mùa hè đỏ lửa 72, ba mẹ bắt đầu lại bằng hai bàn tay trắng. Đàn con 10 đứa giờ chia tứ tán. Người ở lại chiến trường An Lộc, người đóng bên giòng sông Thạch Hãn năm xưa. Một người anh lên đại học về Sàigon ở với dì. Thương đám cháu nhỏ, dì chú mời ba mẹ về Saigon ở căn nhà còn bỏ trống. Thêm lần nữa cha cố sức, lo cho đàn con còn lại ấm no. Cuộc sống vừa đi vào an ổn, ngày tang của đất nước ập về năm 1975. Đàn con của ba mẹ giờ thu nhỏ lại. Đứa theo chồng rời nước đã lâu. Đứa xuống tàu làm người di tản. Đứa vượt biên tìm đất sống bình yên. Dì nghèo nhanh vì đồng lương chết đói của chồng, vì mọi người cùng đói rách khó mà buôn bán. Mỗi buổi sáng dì đi đò qua sông sang nhà cũ. Mẹ đợi dì cùng đi chợ với nhau, để mua thêm cho dì đủ nấu một ngày. Thỉnh thoảng mẹ ngồi bên đợi, trả tiền khi dì ăn xong món ăn ưa thích mà lâu rồi không có dịp nấu ở nhà. Mẹ vốn ngại ngần chuyện ăn uống bên ngoài. Thương em nên ngồi đợi em ăn.

Rồi các anh chị bảo lãnh gia đình đi Mỹ. Mẹ ra đi mà lòng gởi lại bên nhà. Người em gái út của mẹ đã mất vì bệnh ung thư, khi khám phá ra thì đã muộn. Dì vẫn tiếp tục cuộc sống khốn khó cho đến khi đứa con gái vượt biển thành công, sang sống cùng ba mẹ bên đây. Sau vài năm, hai chi em may mắn ở cạnh nhau. Dì bây giờ đã ngừng hút thuốc rồi, mỗi ngày các anh thay nhau chở dì sang chăm sóc cho ba mẹ. Với dì, cha là người anh lớn đã bảo bọc từ khi dì là đứa trẻ mồ côi. Dường như nhân duyên đã có tự bao giờ. Đến cuối đời, dì vẫn là người cận kề bên ba mẹ. Dì nấu cháo, rót nước, cạo gió cho anh chị trong những ngày bệnh mà cả đàn con mỗi đứa mỗi sống cuộc đời riêng. Sau khi cha từ giã cuộc đời, đứa em mua miếng đất cạnh chỗ nằm ba mẹ. Rồi mẹ ra đi, chú ra đi. Mai này dì rồi cũng yên nghỉ cạnh bên ba mẹ.

Dì là mẹ còn sót lại trên đường đời đang ngắn lại từng ngày. Sinh nhật dì đám con cháu vây quanh, trong nỗi hạnh phúc còn dì là còn mẹ

 


 Quỳnh My