Thursday, November 15, 2007

đêm thu





Khi tiếng hát vút cao ấm áp, nồng nàn của Tuấn Ngọc cất lên, không gian lắng đọng và thời gian như ngừng lại. Tiếng lao xao, rì rào trong căn phòng với gần 600 người hiện diện chợt ngừng. Tất cả mọi người dường như muốn dành phút giây đang hiện hữu để thưởng thức trọn vẹn bài hát Tống Biệt Hành của Hoàng Quốc Bảo phổ từ thơ Tuệ Sỹ.

Một bước đường thôi nhưng núi cao
Trời ơi mây trắng đọng phương nào
Đò ngang neo bến đầy sương sớm
Cạn hết ân tình, nước lạnh sao?

Một bước đường xa, xa biển khơi
Mấy trùng sương mỏng nhuộm tơ trời
Thuyền chưa ra bến bình minh đỏ
Nhưng mấy nghìn năm tống biệt rồi

Cho hết đêm hè trông bóng ma
Tàn thu khói mộng trắng ngân hà
Trời không ngưng gió chờ sương đọng
Nhưng mấy nghìn sau ố nhạt nhòa

Cho hết mùa thu biệt lữ hành
Rừng thu mưa máu dạt lều tranh
Ta so phấn nhụy trên màu úa
Trên phím dương cầm, hay máu xanh

Bên ngoài, những vạt nắng mong manh của một chiều thu chưa thấy lá vàng rơi, đã tan loãng, nhạt nhòa trong bóng tối phũ đầy. Anh hỏi em làm gì? Những bước chân em có thảnh thơi. Có còn xa xót tội nghiệp cho đời lá sớm tàn phai trong những buổi chiều thu. Em quên nói cho anh nghe nơi em ở mùa thu đến chậm. Cho tới chiều nay trên những hàng cây vẫn còn thấy màu xanh. Em không để ý, nghe lời xôn xao của lá, chỉ vì những tiếng thì thầm lẫn lao xao của nhiều người nhắc em nhìn vào thực tại quanh mình.

Vẫn địa điểm quen thuộc là nhà hàng khang trang, ấm cúng thường chọn làm nơi tổ chức những buổi tiệc chay gây quỹ trong thành phố, bởi chủ nhân là người có đạo tâm. Vẫn nhiều khuôn mặt thân quen em thường gặp ở chùa. Khác chăng còn có thêm những người không lạ, không quen vãng lai nơi bãi đậu xe. Họ chợt đến, chợt đi sau khi để lại vài câu hỏi và lời xác quyết làm người được hỏi bàng hoàng, ngơ ngẩn. Em biết, rồi anh cũng sẽ ngẩn ngơ một thoáng như em, bởi có lời đối thoại mà như không đối thoại. Họ hỏi chỉ là mượn cớ, để tỏ lộ sự bất bình với người không cùng quan điểm với mình. Câu trả lời rất thật của em dường như không phải là câu mong muốn được nghe, để rồi những cụm từ ghán ghép, cáo buộc lần thứ nhất em nhận được trong đời từ những người hoàn toàn không biết, chẳng quen này. Sau một giây bối rối thoáng qua, em đáp lại bằng nụ cười cố hữu. Anh hỏi em có sợ mất đi duyên dáng, khi được đội lên đầu chiếc mũ kỳ khôi, ngộ nghĩnh hay không? Xin thưa rằng em vẫn an nhiên, bởi đã có điểm tựa an toàn là hải đảo của tự thân. Mình không tốt đẹp hơn do những lời khen. Cũng không xấu xa tệ hại vì những lời gán ghép, bâng quơ vô căn cứ. Em tiếp tục bước lên bậc thang bằng những bước nhẹ tênh. Có chút gì tội nghiệp khi nghĩ đến sợi dây nhiều gút mắt, trở thành con rắn dữ qua tin đồn, qua cái nhìn che phũ bởi hoài nghi.

Ngày cha mất em về thăm nhà cũ. Gia tài cha để lại cho em là những quyển kinh với màu giấy úa vàng, bởi nhang khói quyện vào qua những tháng năm dài. Em như chạm vào ngón tay gầy guộc của cha trên những trang kinh. Trong đó Quyển kinh Duy Ma Cật in hằn nhiều dấu vết. Từ đó em có cho mình thêm thói quen lần giở những trang kinh, để tìm xem chỗ vướng mắc là đâu mỗi khi nỗi muộn phiền xâm chiếm, bũa vây. Khi người anh xa gởi cho em đọc bài thơ. Em giật mình bởi chưa bao giờ kể mà sao trong bài thơ đó có mấy câu " Đứa em gái chưa gặp mặt. Thương anh trai như thương những trang kinh" (thơ LH). Anh đã biết những trang kinh em không dùng để đọc tụng, tôn thờ. Đó là ngọn hải đăng giúp cho em nhìn thấy đâu là phương hướng, bến bờ trong những khi mờ mịt, hoang mang giữa bóng đêm của hoài nghi, chán nản, lo âu. Để chiều nay, giữa những đợt sóng giận dữ, bất bình được hình thành từ lời đồn đại, vẽ vời. Từ sự suy đoán, luận bàn trong sân hận say sưa. Vậy mà gần 600 người con Phật vẫn tự tại, an nhiên từ khắp nơi hội tụ về đây, để tham dự buổi ra mắt sách Huyền Thoại Duy Ma Cật, tác giả là Thầy Tuệ Sỹ.

Đêm nay, qua lời diễn giả của triết gia Phạm Công Thiện, em xúc động bồi hồi tưởng chừng như thấy được hình ảnh của hai vị thầy kính yêu luôn hiện diện trong em. Hai chú tiểu tuổi đời còn rất trẻ đã đứng trên bục giảng trong trường đại học. Đó là thầy trụ trì ngôi chùa em vẫn thường đi và thầy Tuệ Sỹ của ngày xưa. Trong thành phố quanh năm nắng ấm, thầy là cây đại thụ xum xuê cành lá. Là bóng mát an lành để cho hàng hàng lớp lớp phật tử tìm về nương tựa. Hai vị thầy- hai chú tiểu đồng tuổi, đồng thời, đồng tâm nguyện vào đời. Một người ở Huế, một người ở Saigon thuở đó. Đâu ngờ đêm nay, hai chú tiểu ngày xưa được đẩy lại gần nhau theo những ngọn bát phong.

Thầy là diễn giả cho quyển sách vào một thời điểm có vẻ "lạ kỳ" hơn bất cứ bao giờ, cho người viết và cho luôn diễn giả. Có chút gì chua xót trong em, anh có biết tại sao không? Giữa không khí ấm áp chan hoà đạo vị, khi được nghe từng vị thầy, triết gia và nhà văn lão thành Doãn Quốc Sỹ nói về ý nghĩa uyên thâm của quyển kinh Duy Ma Cật- một vị Bồ Tát hiện thân vào đời, sống cùng với những buồn vui, khổ nạn của đời thường, đem trí tuệ của tâm đại bi, vô ngại, dẫn dắt chúng sanh áp dụng thực hành để đạt được sự bình đẳng, chân thật không hai, thoát ra ngoài bóng tối mê lầm bởi ích kỷ và chấp chặt. Không có câu hỏi nào đặt ra cho quyển sách phát hành, chỉ có những câu hỏi xuất phát từ nỗi hoang mang lẫn hoài nghi, về làn sóng ồ ạt của những người nhân danh này nọ, làm tổn thương xúc phạm đến các trưởng tử Như Lai, trong khi hoàn toàn không nắm rõ đâu là sự thật. Với hạnh vô uý của những người con Phật, thầy từ hoà làm sáng tỏ mọi điều, chỉ bao hàm trong những câu ngắn gọn nhưng đầy đủ. Kèm theo là lời nhắc nhỡ ân cần những điều Phật dạy dành cho hàng đệ tử xuất gia lẫn tại gia:

Đừng vội tin bất cứ điều gì,dù điều đó được hàng ngàn người tin tưởng, nghe theo
Đừng vội tin bất cứ điều gì , dù điều đó được xuất phát từ người có uy quyền
Đừng vội tin bất cứ điều gì, dù điều đó là chân lý từ ngàn xưa để lại.
Cũng đừng vội tin ta

Hãy thận trọng quán chiếu, gạn lọc tìm ra lẽ thật với tâm sáng suốt, tĩnh lặng để có câu giải đáp cho mình

Em ra về. Niềm an lạc lan đều trộn lẫn với dư âm của những bài hát, bài thơ trong thi tập Giấc mơ Trường Sơn, được quý thầy và các nghệ sĩ trình bày. Đêm thu ở đây không có hơi sương làm ướt lạnh đôi vai. Lòng em thật ấm khi nghĩ đến những người bạn đạo trong ban tổ chức. Với khuôn mặt dịu dàng, khả ái. Với nhân dáng mảnh mai, nhỏ bé mong manh. Các chị đã thể hiện trọn vẹn bi, trí, dũng của những người con Phật. Không chùn bước trước bao khó khăn, trở ngại vây quanh, kể cả những lời khuyên rất đổi chân thành: Đình lại buổi ra mắt sách để tránh những điều đáng tiếc xãy ra vì có nhiều lời đe dọa gởi đến phật tử trong chùa và cả bên ngoài.

Ra mắt quyển sách HTDMC, là một trong những chủ trương của nhóm Dharma Wheel Corporation: phát huy và yểm trợ việc hoằng pháp, lợi sanh, song song với lãnh vực văn hóa, giáo dục và từ thiện. Với 600 người hiện diện. Con số gần 40 ngàn đồng nhận được từ bữa tiệc chay, chưa kể số thu được từ CD Giấc mơ Trường Sơn và sách HTDMC, đã nói lên rằng: Khi ngọn đuốc chánh pháp được mồi lên, trí tuệ sẽ thắp sáng, xua tan bóng tối của sợ hãi, hoài nghi, tà kiến.

Em đang mỉm cười đây anh có biết không? Thêm một điện thư vừa nhận đêm nay. Tên em được tô vẽ, rao truyền bằng những lời gán ghép tội tình. Đồng chung số phận với một trăm mấy mươi người lên tiếng xin ngừng làm tổn thương, xúc phạm đến nhà sư gần một đời trãi dài trong bóng tối ngục tù., trong sự tỉnh mặc vô ngôn để chia sẻ nỗi khổ nhục đau thương cùng dân tộc, quê hương. Em chợt nghĩ đến câu chuyện về hai hạt lúa.

Đó là hai hạt lúa giống được chọn để gieo trồng cho vụ mùa sau. Hạt thứ nhất muốn giữ lại hết những dinh dưỡng mình đang có, bèn tìm nơi trú ngụ chứ không dại gì theo ra đồng để thân mình bị nát tan trong đất. Hạt thứ hai ngày đêm mong được gieo trồng. Thời gian trôi qua...Hạt lúa thứ nhất bị héo khô. Chất dinh dưỡng chẳng giúp ích được gì. Nó chết dần mòn trong khô héo. Hạt lúa thứ hai chịu nát tan trong đất, nhưng từ thân nó mọc lên cây lúa vàng óng, trĩu hạt. Nó mang lại cho đời những hạt lúa mới tinh khôi.

Em nghĩ đến những vị Bồ Tát đi vào đời, âm thầm chịu nát tan để góp cho cánh đồng cuộc đời những hoa trái của từ bi, nhẫn nhục, vị tha.
Hé mở khung cửa sổ, cho cơn gió đêm thu thổi bay đi những hạt bụi tỵ hiềm, phải quấy, hơn thua của thế nhân. Em đi vào giấc ngủ bằng bài thơ Tôi vẫn đợi, sau khi chắp tay nguyện cầu cho thế giới sống hoà bình. Cho Phật giáo Việt Nam hưng thịnh trường tồn. Cho mỗi người con Phật sẽ là một đóa hoa từ bi và trí tuệ ngát hương.

Tôi vẫn đợi những đêm dài khắc khoải
Màu xanh xao trong tiếng khóc ven rừng
Trong bóng tối, hận thù tha thiết mãi
Một vì sao bên khóe miệng rưng rưng

Tôi vẫn đợi những đêm đen lặng gió
Màu đen tuyền ánh mắt tự ngàn xưa
Nhìn hun hút cho dài thêm lịch sử
Dài con sông tràn máu lệ quê cha

Tôi vẫn đợi suốt đời quên sóng vỗ
Quên những người xuôi ngược Thái Bình Dương
Người ở lại giữa lòng tay bạo chúa
Cọng lau gầy trĩu nặng ánh tà dương

Rồi trước mắt ngục tù thân bé bỏng
Ngón tay nào gõ nhịp xuống tường rêu
Rồi nhắm mắt ta đi vào cõi mộng
Như sương mai, như ánh chớp mây chiều

(Tôi vẫn đợi - thơ Tuệ Sỹ)

quỳnh my



Saturday, August 25, 2007

nụ cười hoàng hôn

Nắng hoàng hôn nắng soi lời dặn khẽ
từ chốn về thêm đẹp bước chốn qua
bao la gởi tình yêu dâng lòng Mẹ
lá rụng vào nguồn cội vẫn không xa
(Lãng Du)

Cuối cùng tôi cũng về VN. Không phải về cùng mẹ và những đứa em như từng lần toan tính. Thôi thì một mình đi từ nam ra bắc, đi để nối vòng quê mẹ với quê cha, vào tương lai lần nữa.


Vé máy bay đã đặt, đã mua xong. Tưởng xong việc, nào ngờ khi đến lấy vé mới hay tên tôi bị sót. Cô bé xinh trẻ sau cú điện thoại tươi thêm một chút khi trút được gánh nặng, nhỏ nhẹ phân trần:

- Con gởi cho họ đầy đủ tên gia đình 4 người, tên cô ở cuối, lại mang họ khác. Vào lúc đang kẹt chỗ, lại thêm người làm mới, nghĩ cô là khách hàng riêng ... Họ đang sửa lại. Con sẽ tin cho cô hay khi có kết quả xong.


Tôi không biết gì hơn là chờ vì đã thanh toán xong bốn vé khứ hồi từ hai tuần trước. Chợt nghĩ tới chuyến bay sau trước, nghĩ tới chỗ ngồi còn lại riêng lẻ mà bâng khuâng. Cả tuần lễ Mẹ băn khoăn lo sợ tôi ở lại. Mãi tới khi lấy đủ vé, đủ 4 chỗ chung gần Mẹ mới thật sự an ổn.


Rồi an ổn chỉ ở lại được vài giây. Mẹ nhắc tôi hành lý mang theo, nhắc những gì sẽ tặng cho người thân lúc gặp. Nhắc hùn phước, nhắc cúng dường. Băn khoăn những phần cho chùa, những phần cho trẻ mồ côi. Những nơi tôi sẽ đến, những người tôi sẽ gặp. Tất cả đều được Mẹ trải lòng ra san sẻ. Đôi tay mẹ yếu mà vươn xa, nhưng vươn xa thế nào cũng là chưa đủ, mẹ kêu gọi đàn con tiếp sức. Người anh xa chợt hỏi: "Em thấy có xôn xao khi sửa soạn hành trang?". Tôi nói chẳng thấy gì, bởi từ lâu vẫn an nhiên giữa đến và đi. Có chăng là nỗi băn khoăn khi rời Mẹ thời gian dài. Anh thoáng ngạc nhiên khi câu hỏi được trả lại qua thái độ của người đi mang theo quê hương mà không xao động lúc tìm về.

Đi làm đến ngày sau cuối, chiều về qua thăm Mẹ được ăn bữa cơm Mẹ nấu dành cho trước khi đi. Quanh Mẹ, mấy chị em rì rào nhắc nhở, dặn dò. Mẹ giục tôi về lo thu dọn, nghỉ ngơi cho chuyến bay thật sớm của hôm sau. Không tiễn ra phi trường mẹ buồn. Tôi nghĩ vậy vẫn hơn nhìn thấy mẹ trên đường từ phi trường về lại nhà, sau lúc tôi đi.


Hôm sau, trời chưa sáng tôi ghé qua Mẹ. Ôm hôn Mẹ, cả hai mẹ con cùng bịn rịn, bịn rịn hơn cả lần đầu đi xa. Bước lên xe mẹ còn tựa cửa đứng nhìn theo. Trong màn sương đục dáng mẹ thật buồn. Có lẽ đã quen nhìn cảnh mẹ con tôi quyến luyến, người đồng hành bây giờ hết lắc đầu thêm câu than thở. "Em không bao giờ lớn nổi" Tôi đi xa mang theo nụ hôn còn ấm hương Mẹ kèm với dặn dò: "Con đi vui vẻ, bình an. Phải chi đôi chân này còn vững...Mẹ tiếc, trong đời chưa có một lần về thăm quê nội các con". Nghĩ đến đôi chân mẹ với những ống xương ngày càng rỗng và teo nhỏ lại, thêm lần giải phẫu vì té xuống trên sàn nhà trơn, lòng tôi se thắt.

- Mẹ đừng buồn. Những bước con đi luôn có mẹ.


Về lại nơi một lần bất ngờ ra đi để thật lâu mới tìm về, tôi thấy mình ngơ ngác. Saigon sau 24 năm xa đang chập chờn lạ quen dưới ánh đèn đêm. Ra khỏi phi trường lúc gần một giờ khuya, tôi bước lên chiếc taxi đợi sẵn cạnh người thân như kẻ mộng du. Những nụ cười tao ngộ. Những ánh mắt reo vui lúc nhận ra nhau. Tất cả tựa khúc phim thoáng qua nhanh. Cuộc hành trình dài làm mỏi mệt bơ phờ, nhưng tầm mắt như ráo hoảnh khi thu nhận những hình ảnh đầu tiên ngày trở lại. Tôi muốn nói với anh tôi: "Có trăm ngàn nỗi xôn xao ùa về, ngay khi em chạm bàn chân lên mảnh đất quê hương".


Saigon nửa đêm về sáng, với nhiều hàng quán mở cửa quanh ánh điện hắt hiu. Những dòng xe xuôi ngược trên đường, tưởng sẽ hút vào nhau bởi tất cả mọi người cùng thoải mái tự do theo hướng đi tự chọn. Trong khoảnh khắc, tôi nhận ra tâm trạng mình biến chuyển. Từ giật mình kinh hãi bất an đến cuối cùng là mặc kệ. Dù sao tôi cũng đã đến, cũng đã về. Hãy thử làm khán giả đang coi phim. Chấp nhận mình hoàn toàn mất dấu, ngẩn ngơ trên đường. Một phần đời đã sống như con nước lũ theo giòng trôi đi, đi biền biệt. Ngày đó ra đi tôi tránh không muốn nói với ai vì không muốn người ở lại buồn nhiều hơn nữa. Bây giờ về tôi vẫn chọn sự im lìm như lúc xưa. Những đứa em nhiều năm không gặp, nôn nao chờ tin để đón. Chờ hoài không thấy gì, lại phải nhắn tin qua Mẹ để có ngày giờ ra phi trường đón.


Căn nhà nhỏ đông người nằm cạnh bờ sông của dì tôi thêm hiu quạnh vì nửa đàn con của dì đã cùng bố mẹ ra đi đoàn tụ. Dì có đứa con gái ngày xưa vượt biển một mình khi chưa quá tuổi thơ ngây. Tôi ngơ ngác nhìn giòng sông trước mặt, vẫn còn đó những mái nhà chắp vá tiêu điều. Riêng nhà dì tôi giờ cất lại khang trang. Những đứa em còn ở lại cho tôi cảm giác ấm áp, thân gần như trở về ngôi nhà cũ của mình. Có điều, ngày xưa mỗi lúc sang nhà dì tôi phải qua sông. Giòng sông hẹp nằm cuối con đường cũng hẹp, làm ranh giới giữa Khánh Hội với Nhà Bè. Con đò nhỏ quanh năm chòng chành như muốn lật, dù không có ngọn sóng nào trên sông ngày nước cạn. Chỉ có rác ngập hai bên và những đứa trẻ con lom khom vớt bọc ny lông trôi dọc theo bờ. Bây giờ về qua con đường lạ. Không phải con đường vòng ngang qua cầu Tân Thuận và cư xá ngân hàng. Em tôi không quên nhắc:
- Đường về nhà giờ đi qua cây cầu mới là cầu Kinh Tẻ. Chị ráng nhớ để chỉ đường cho mọi người biết mà tìm- nếu như chị có "hẹn hò" ai khi về. Chỗ này bây giờ là quận 7. Không thuộc quận Nhà Bè như trước.

Không hẹn ai nhưng người tìm tôi mấy bận mà không được là người Mẹ yêu luôn dõi mắt theo tôi. Mẹ gọi từ khi máy bay chưa hạ cánh xuống phi trường, Mẹ gọi trên đường về, Mẹ gọi lúc vào nhà. Nghe giọng nói thân yêu, tôi không nghĩ hai mẹ con đang xa nhau nửa vòng trái đất của nửa ngày nửa đêm.
- Mọi chuyện đều bình yên chứ hả con? Con mệt nhiều không? Hai đứa Đông Duy có khoẻ không? Hành lý có nhận về đầy đủ? Hải quan có làm khó dễ gì không?
Tôi trả lời gọn nhanh mấy câu hỏi đầu tiên và thoáng ngập ngừng về câu hỏi cuối

- Sẽ bị đứng đợi hơi lâu nếu như giữa sổ thông hành không có bỏ gì thêm.
- Mẹ an tâm rồi. Trời sắp sáng để các em đi ngủ. Con cũng cần phải nghỉ ngơi để có sức mà đi.

Giấc ngủ ngắn bắt đầu khi trời gần sáng, được đánh thức bằng tiếng lao xao nhộn nhịp từ con đường dọc bờ sông. Saigon thức khuya, Saigon dậy sớm. Không dưng mà tôi cũng thức, cũng ngủ theo Saigon khi trở lại. Có một ngày nghỉ ngơi như đứa em sắp xếp, lúc mua vé chuyến bay đi Huế tiếp theo. Tôi được ân cần trao cho một số phone riêng, cài trong chiếc điện thoại mang về từ Mỹ. Mẹ có mấy người em gái, nhưng chỉ riêng những đứa con của người dì có khuôn mặt giống mẹ nhiều, đối với anh em tôi dù xa bao năm vẫn thấy thật gần, bởi hiểu và thương nhau như anh em cùng mẹ cha. Tôi được dặn dò thêm để biết chỉ đường, được nhắc khẽ những người nên gọi, trước khi tiếp tục lên đường ra Trung về thăm quê nội các con. Một ngày giữa Saigon ngơ ngác vây quanh, chưa đủ cho tôi hoán đổi đêm thành ngày để đi theo nhịp sống nơi này. Tôi thầm biết ơn những đứa em đã quan tâm từng chút nhỏ nhoi.


Mẹ vẫn tiếp tục theo tôi đi trên những dặm đường, để hỏi và nghe và kể chuyện phương xa. Tôi cầm phone thủ thỉ cùng mẹ trên đoạn đường từ phi trường Phú Bài- Huế đi về thị trấn Gio Linh, Quãng Trị. Chiếc taxi bốn chỗ ngồi lăn bánh, lướt mau trên con đường trải nhựa êm đềm, dưới ánh nắng chói chang ngày vào hạ. Hai bên đường không nhìn thấy nhà tranh với vách đất hay những mảnh ruộng héo úa khô cằn khi thừa nắng thiếu mưa. Thầm nghĩ, có lẽ mình chịu nhiều ảnh hưởng từ bài hát nghe hoài: "Quê hương tôi nghèo lắm ai ơi! Mùa đông thiếu áo, hè về thiếu ăn". Trước mắt tôi là những thửa ruộng xanh tươi, xen kẻ với nhiều căn nhà gạch khang trang trải dài theo những xóm làng. Thỉnh thoảng chợt nhìn thấy lại những hàng quán chơ vơ nằm hứng bụi bên đường. Quán cũng là nhà nên ngó quạnh hiu, trong cảnh vắng vẻ, im lìm thưa khách vãng lai. Hình ảnh gợi nhớ thuở ngồi trên những chuyến xe đò từ Saigon ra Long Khánh hoặc về Rừng Lá. Lúc nào tôi cũng ráng tìm cho mình chỗ ngồi bên khung cửa. Để ngắm, để nhìn và xa xót vì những nỗi khó của kiếp người. Ngày đó tôi là cô bé lớn trước tuổi, nên hay băn khoăn về thân phận con người. Sau này tôi hiểu ra. Chính nhờ được nếm trải sớm những tang thương, dâu bễ của mẹ cha trong đó thêm phần tôi quanh sự sinh diệt trong bom đạn vô tình, tôi sớm nhận ra bản chất của kiếp người trước khi tìm gặp Phật qua giáo pháp từ ngàn xưa để lại.

Xe qua khỏi Đông Hà tiến dần vào thị trấn Gio Linh, địa danh một thời gắn liền với miền tỉnh nhỏ tôi chào đời là An Lộc, Bình Long trong chiến trận mùa hè 1972. Người bạn đời ngồi bên quay lại, xiết nhẹ bàn tay chỉ cho tôi.
- Mình đang đi trên cầu Hiền Lương. Sông Bến Hải là đây.
Tôi bàng hoàng, bảo người tài xế chậm xe lại. Không ngờ có lần mình tìm đến nơi này. Lòng dặn thầm sẽ trở lại đây, để được đứng trên cây cầu lịch sử, để được nhìn xuống giòng sông. Không biết đã có bao nhiêu chia cắt đoạn lìa của thật nhiều năm khói lửa binh đao.


Mẹ lo âu khi nghe tin đợt nóng kinh người đang kéo tới Gio Linh. Ngày tiếp theo tôi nằm vùi ở nhà nghỉ của thị trấn, sau buổi hàn huyên kéo dài với những người thân mới gặp lần đầu ở nơi này.

- Ba người đàn ông lớn nhỏ bình yên. Tôi nói với mẹ. Chỉ mình con ngã gục sau nhiều lần gắng gượng.

- Có thể nhờ ai cạo gió cho con được hay không?
Vẫn biết cạo gió không làm thuyên giảm hoặc ngừng những cơn nóng, lạnh từng hồi. Nhưng tôi ghiền bàn tay mẹ như thuở nhỏ ghiền nâng niu, ghiền chăm sóc. Hồi đó tôi mong được bệnh, để khỏi bị bồng em vừa được mẹ ân cần lo lắng. Tôi còn mong được bệnh hoài, để an tâm rằng mẹ vẫn thuơng nhiều. Chỉ vì đàn em nhỏ mà đứa trẻ chưa hết thời thơ ấu đã mon men cùng mẹ sẻ chia trách nhiệm.


Chuỗi ngày nơi quê nội các con tôi nhẹ nhàng thanh thản. Thiếu hẳn những tiện nghi tối thiểu cộng thêm nóng bức, hai đứa trẻ không lên tiếng đòi về. Sân nhà rợp bóng mát với hàng cây im lìm không gió đi qua. Tôi nghe thoáng câu đùa. Gio Linh nghèo nhưng sang. Không xài gió nội, chỉ ưa gió ngoại từ bên Lào đưa tới. Gió Lào cũng như gió từ chiếc quạt máy tội tình lúc chạy lúc ngừng bởi mất điện hoài hoài. Điều giống nhau là cả hai cơn gió đều mang hơi nóng. Hai chú nhỏ đến từ nơi "chỉ thiếu thốn sự thiếu thốn" như người bạn hay nói đùa về lũ trẻ ở xứ người, đã biết ngồi xếp bằng trên chiếu trong bữa cơm gia đình. Đã quen nhìn những con ruồi bay quanh. Quen uống ly trà đá với mồ hôi nhỏ giọt.

Sẽ khó tìm lại những buổi chiều phai nắng, tôi ngồi xếp bằng bên hồ nhỏ trong làng, đợi lũ trâu về tắm. Lũ trẻ làng quê ngừng hẳn cuộc chơi, tò mò kéo tới vây quanh người lạ. Chỉ sau đôi phút e dè, ngần ngại chúng trở lại hồn nhiên như tôi đã hồn nhiên. Mấy cô cháu gái 16, 17 tuổi dành nhau chụp những tấm hình tôi và lũ trẻ con rão bước qua những đường quê. Chợt nhận ra chỉ riêng buổi chiều ở nơi này nhiều an ổn, nhẹ nhàng. Lòng tôi thắt lại mỗi lần ngồi trên chiếc xe nhỏ chạy chầm chậm qua con đường làng hẹp. Đồng ruộng mênh mông. Thân người bé nhỏ, đang co rút oằn mình nhẫn chịu ánh nắng thiêu đốt thịt da. Bao năm rồi vẫn còn người với trâu chung lưng cuốc bẩm. Làn da đen sạm đượm trên khuôn mặt hằn sâu nỗi nhọc nhằn. Mồ hôi đổ mỗi ngày ngấm xuống ruộng sâu. Có lẽ vì vậy mà những cô gái Gio Linh bề ngoài mảnh khảnh nhưng vô cùng cứng cỏi.

Tạm rời vùng nắng cháy Gio Linh, tôi vượt qua vĩ tuyến 17 lên đường xuôi đất bắc. Không dưng mà thêm buồn. Ngày đó đâu có gì ngăn trở nhưng chị em tôi thờ ơ trong lần duy nhất cha tôi lên tàu về Bắc. Xưa cha một mình lặng lẽ vô Nam, bốn mươi mấy năm sau trở lại vẫn một mình cha, đơn độc tìm về nơi chôn nhau cắt rún. Khi cha qua đời Mẹ tự trách hoài. Chỉ vì e ngại có quá nhiều khác biệt sau thời chinh chiến, mẹ chọn không làm kẻ đồng hành cùng cha thăm lại cố hương. Qua đường dây viễn liên của thế kỷ thứ 21, Mẹ vui nhiều khi nghe tôi nói sẽ tìm về thăm quê nội Thái Bình. Tôi muốn được nhìn thấy, được chạm gót chân lên miền đất đã cưu mang người cha lưu lạc thương yêu của tôi.

Chuyến xe khởi hành sau bữa cơm chiều. Tôi khép mắt khi màn đêm xuống nhưng không ngủ, chỉ lắng nghe hơi thở vào ra. Người tài xế trẻ mở nhạc. Những bài hát buồn như tâm trạng người về. Qua khoảnh đường dài, xe dừng nơi quán nhỏ. Tôi nghe loáng thoáng hai người tài xế cần ăn đêm trước khi tiếp tục hành trình. Tôi hỏi:
-Mình đang ở đâu?
-Thành phố Vinh, có lẽ!

Tôi bước xuống xe đi dạo quanh cho bớt mỏi. Đêm lắng sâu, đêm êm ả. Thoáng có gió thổi về làm lao xao những chiếc lá bàng bao năm mới nhìn thấy lại. Làm sao biết bàn chân mình có lúc dẫm lên mặt đường khuya tĩnh mịch ở địa danh xa thẳm, mơ hồ trong trí nhớ càng ngày càng thêm nhỏ nhoi. Quán ăn "dọc đường gió bụi" nằm lặng buồn, khuất sau hàng cây bàng già cỗi. Có nhiều người thức đợi những chuyến xe chở khách đường xa ghé lại ăn. Cô quán thất vọng nhiều, khi chiếc xe 16 chỗ ngồi dừng lại chỉ có hai người vào quán. Những chai nước mua thêm vẫn không làm khuôn mặt người đàn bà trẻ bớt u buồn trong khoảnh tối. Tôi biết đêm nay rồi chỉ còn trong ký ức mù khơi. Quê nội và những nẻo đường VN sẽ xếp lại ngủ yên trong chộn rộn nơi sinh hoạt riêng tôi.

Đến ngoại ô Hà Nội lúc rạng sáng. Mưa bay mờ trời trên những con đường gập ghềnh nước đọng bùn lầy. Đứa cháu trai dặn chờ nơi ga xe lửa Hà Đông. Bao lâu rồi, giờ mới biết Hà Đông cạnh ngay bên Hà Nội. Như Saigon qua Khánh Hội thật gần. Bữa ăn sáng trôi qua thật lẹ. Mọi người chắc không dễ gì quên món phở gà có kèm thêm muỗng bột ngọt thật đầy khuấy trong tô phở mới nhìn đã ngại. Tôi cười, an ủi con trai:
- Mình ở đâu, theo đó. Phải không con?

Mẹ cười nghe tiếp chuyện của chuyến đi xa. Đường về quê nội qua mấy cây cầu lớn và chuyến phà lúc sắp vào làng. Chiếc phà lớn trên giòng sông rộng. Nghe nói ở đây phà qua lại suốt ngày đêm, dù chỉ có một người đứng đợi sang sông giữa đêm khuya. Tự dưng tôi thầm hỏi. Bến sông này cha có lần bơi lội vẫy vùng, như trong truyện kể về thời thơ ấu của nhà văn Duyên Anh mà tôi từng đọc say mê thuở nhỏ.

Đường vào làng sạch sẽ. Không thấy cát bụi mù trời khi xe chạy ngang qua. Nghe nói dân làng tự đúc gạch, trải xi măng trên khắp nẻo đường quê. Tôi quá ngạc nhiên vì không thể hình dung. Miền quê nội giờ khác xa chuyện kể. Xe dừng lại trước sân nhà. Những người trong họ kéo ra mừng đón. Tôi vui thầm vì vẫn còn nhớ mặt mấy người em họ, từ chuyến vào Nam tìm gặp cha tôi mấy chục năm xưa. Hoa và trái cây cô em đem từ Hà Nội về được nhanh chóng bày lên khi tôi và gia đình nhỏ của tôi đốt nén nhang quỳ lạy. Nước mắt tôi nhòa nhạt trước di ảnh của Cha tôi bên cạnh ảnh thờ người Chú họ. Những đứa cháu tỏ lòng biết ơn và thương nhớ, đã thờ người bác họ như cha. Các em tôi muốn đem Cha về lại với quê nhà- nơi chôn nhau cắt rốn của ông.

Bữa cơm đãi người về tươm tất hơn so với lần đứa em gái kế tìm thăm quê nội. Mẹ rưng rưng nước mắt nghe tôi kể chuyện theo những đứa em ra viếng mộ ông bà. Tôi đi cạnh chồng con bằng những bước thênh thang. Xen kẻ giữa những thửa ruộng màu xanh chợt bắt gặp bờ ao nhỏ ngập màu hoa tím nhạt. Những cánh hoa lục bình như đang ngước nhìn lên nắng, hoặc cúi xuống vui đùa cùng làn nước nhẹ lăn tăn, làm dịu đi ánh nắng trưa hè miền nhiệt đới. Tôi không muốn khóc mà sao lệ cứ tràn ra, khi những người em dừng lại nơi gò đất rộng. Khuôn mặt thương yêu trên bia đá bên cạnh mộ ông bà là khuôn mặt của cha tôi. Cha từ giã cuộc đời nơi xứ lạ, vậy mà những đứa cháu vẫn xây mộ ở quê nhà cho cha ở cạnh đấng sinh thành. Họ Nguyễn mượn vay từ người đỡ đầu ngày trốn vào Nam, được thay bằng họ tên thực sự khắc trên bia mộ. Tôi xúc động vì tấm lòng người sống. Thân vay mượn đã trả lại xong. Nơi chốn, tuổi tên, chủng tộc, quê hương...cũng chỉ là cát bụi để trở về cùng cát bụi. Điều duy nhất tôi biết tôi đưọc hưởng, chính là phước duyên được vào làm con của Mẹ và Cha. Hai đấng sinh thành đức độ từ bi. Một đời đã sống kết thành hoa trái, tỏa hương theo gió thênh thang.

Căn nhà gạch hai tầng xinh xắn. Vuông sân trồng cây kiểng và nhiều loại bonsai được chăm sóc xanh tươi. Đứa em từ bao năm tôi chỉ gặp qua thư, trong chiếc sơ mi trắng hiền lành nhìn không giống nhà nông, đã dùng sức lực và tình thương trải rộng của mẹ cha tôi tạo nên được cơ ngơi. Những đứa cháu lớn lên từ giả làng quê, học hành thành đạt chọn Hà Nội làm nơi sinh sống, đã không phụ tấm lòng của nhiều người.


Tôi từ giã quê nội. Không dám nghĩ còn có lần trở lại. Những khuôn mặt dù mới gặp, đã thân thương khi bịn rịn chia tay. Xiết chặt tay người thiếm yếu đã già, ôm đứa cháu mấy mươi năm gặp lại, đâu ngờ lần về này có mấy ngưòi em tôi từng gặp ở Saigon đã nằm sâu trong lòng đất. Gió trên sông Thái Bình thổi lộng. Quê nội xa dần trong ánh mắt. Tôi thầm cảm ơn người đàn bà nơi quán nhỏ đầu làng, đã gởi theo nụ cười và câu từ biệt cho kẻ tha phương về tìm lại cội nguồn. Cảm ơn những đứa em xa, trong tình thương chân thật đã đem cha về lại cho tôi được gặp. Cảm ơn những đứa cháu đã không ngừng vươn tới tương lai, cho mẹ từ phương xa toại nguyện. Dẫu cách xa nửa vòng trái đất tôi vẫn thấy nụ cười trên khuôn mặt mẹ, khi hoàng hôn của nắng ngã dần về cuối chân trời. Mẹ ơi, dù ở đâu tình thương của mẹ vẫn bao la khắp cả đại dương.


(viết trong mùa VuLan, 2007)

Quỳnh My

Tuesday, May 08, 2007

nhà xưa




Qua khoảng thời gian dài suy nghĩ đắn đo, Mẹ quyết định rời chốn cũ theo về cùng em gái. Có lẽ tình thương dành cho người còn lại, vẫn nặng hơn người miên viễn cách xa. Mẹ vốn yếu mà không đuối, vì có niềm vui khi sống một mình, không bám víu, trông chờ từ con cháu. Nhưng ngoài những ngày an vui, bình lặng, còn có nhiều ngày thân chẳng chiều tâm. Những đứa con trai dù thương mẹ thật nhiều, vẫn bối rối, vụng về trong chăm sóc. Mẹ về với"Nga Mi", bỏ lại đám "Võ Đang". Bỏ căn nhà nhỏ nơi cất giữ nhiều kỹ niệm của hơn 20 năm chọn xứ người làm chốn gởi nhờ.

Nhà của mẹ là nơi trở lại của những con chim chắp cánh bay xa, trên hành trình đi tìm hạnh phúc. Còn có mẹ là còn vòng tay mở rộng, đón nhận cánh chim lẻ bạn quay về băng bó cho lành những vết thương lòng. Thương con, nuôi con đến lúc thành nhân vẫn chưa xong. Mẹ tiếp tục mớm mồi cho đàn chim nhỏ bơ vơ, trong cảnh chia đôi của mẹ cha. Những bữa ăn tươm tất lo cho cháu. Những sáng, những chiều nguyện cầu cho con được an lành trên nẻo đi về. Trời mưa giông, mẹ dõi mắt nhìn ra song cửa thường hơn. Mong đừng có thêm bất hạnh cho lũ trẻ thơ và đứa con gái của mẹ vốn đã nhiều bất hạnh. Mẹ tuy có buồn nhưng chẳng bi quan, bởi nhìn thấy được trong khổ lụy, từng đứa con tưởng chừng yếu đuối mong manh, đã trở nên vững vàng trước nghịch cảnh trong đời. Mẹ mừng con đã nên người. Nhờ cảnh khổ mà biết thực hành nhẫn nhục. Hiểu và tin vào chính bản thân mình, không tìm kiếm trông chờ nơi người khác. Mẹ nhắc con dù trong cảnh khổ, vẫn có thể sẻ chia với ngưòi đau khổ hơn mình. Hạnh phúc không vắng mặt, khi mang niềm vui đến cho người, qua những việc thiện lành dù rất nhỏ hằng ngày.

Nơi mẹ ở cũng là tổ ấm, cho những đứa con trai sau nhiều năm rời mái gia đình, chợt trở về như tên lãng tử, không có gì ngoài túi hành trang xách gọn trên tay. Mẹ tiếp tục giặt cho con từng chiếc áo. Đơm lại hạt nút sắp rời như lúc bé thơ. Nấu những món ăn ngày xưa con thích và đợi chờ, để những bữa cơm không còn một bóng hẩm hiu. Thỉnh thoảng những đứa cháu lạc đàn theo mẹ, xa cha, quay trở lại ríu rít cạnh bên bà nội. Đứa nhỏ với nụ cười chấp nhận. Đứa lớn đi theo hỏi tỉ mỉ, tận tường cách nấu những món ăn ngày xưa bà nội thường nấu cho ăn. Mẹ cười, lòng an ổn vui mừng. Tình thương chân thật bao giờ cũng vượt qua ranh giới của oán trách giận buồn, đỗ lỗi cho nhau giữa đúng và sai. Những đứa con của mẹ giờ học thêm bài học có tên là tha thứ, bao dung. Cùng lúc nhận ra nhiều thiếu sót, lỗi lầm của chính mình. Mẹ không thấy buồn khi con một lần nữa rời xa, bởi con biết đem kinh nghiệm có từ quá khứ áp dụng cho hiện tại. Vết thuơng lành theo với thời gian. Cuộc đời mới bắt đầu trước mặt. Con thêm lần rời căn nhà nhỏ êm đềm, bỏ lại những tháng ngày không dễ có trong đời với nguời mẹ già tóc trắng lưa thưa, đôi tay yếu nhưng niềm tin vững chãi. Tin vào từng hạt giống tốt gieo trồng, sẽ đơm hoa kết trái mai sau. Sẽ cho con bóng mát an lành, đẩy lui dần những chông gai, giông bão của đời con.

Cả một đời, mẹ chưa bao giờ thử đi tìm niềm vui ở bên ngoài. Mẹ dành hết trọn năm tháng, ngày giờ cho gia đình, cho cháu con và người khắp chốn gần xa. Người mẹ ấy chưa một ngày cắp sách đến trường. Không đọc được chữ nhưng chừng đọc thấu lòng người, bằng sự cảm thông sâu lắng bên trong. Không còn cha để cận kề như chiếc bóng theo sau , mẹ nhận ra suốt đoạn đời dài chưa từng sống cho riêng mình, chỉ sống bằng trách nhiệm với tình thương. Hai thứ trộn lẫn vào nhau không tìm ra ranh giới, bến bờ. Cảm giác hụt hẫng, chơi vơi nhiều quá đỗi, biết làm gì cho qua những tháng ngày còn lại bây giờ, khi cây đại thụ trong đời trốc gốc, trả thân vay mượn về cho cát bụi. Thoáng nhìn trên bàn thờ Phât, còn đó mõ chuông và xâu chuỗi bạc màu nhiều hột đã mòn. Mẹ không còn cảm thấy bơ vơ bởi đã tìm ra nơi nương tựa từ đây. Từ đó những đứa con quen nhìn hình ảnh mẹ, mỗi sáng, mỗi chiều ngồi lần chuỗi lâm râm câu niệm Phật.

Nhà xưa có những ngày con ghé vào thăm, cảm nghe trống vắng, u buồn vì không thấy mẹ ngồi tay lần xâu chuỗi hột màu nâu. Hình ảnh mẹ từ bi, thanh thoát, đẹp tựa đức bồ tát Quán Âm trong mắt của con. Bình nước nóng cắm dây để sẵn, cạnh những hũ cream, đường với mấy loại cà phê khác nhau theo sở thích các con. Mẹ đau nằm vùi ở trong phòng, nhưng trên chiếc bàn cạnh bếp, bữa ăn sáng dành cho con để sẵn. Những đứa con trai lòng ngập lo âu, bởi ngoài thăm hỏi, nắn xoa những đốt xương đau không làm được gì hơn cho mẹ. Chợt thấy hạnh phúc làm sao những ngày mẹ khoẻ và vui. Dù ngay lúc ấy có thể sẽ nghe câu quở trách, hay nhắc nhỡ rằng hãy tìm xem lỗi lầm của mình ở chỗ nào, thay vì giận trách người làm cho mình khổ.

"Con dâu là con nhà mình". Câu nói của người xưa có lẽ đúng với mẹ nhiều, bởi trong lòng mẹ đứa con nào cũng ước mong được sống an vui, không muốn khổ đau. Chỉ cần nhìn thoáng qua nét mặt, mẹ dường như thấu rõ nỗi khổ tâm của những đứa "con nhà mình" bên cạnh đám con trai. Một lời khuyên, một câu an ủi chân thành, đã góp phần không nhỏ giữ lại gia đình khi sóng gió. Mẹ không đắn đo khi biểu lộ tình thương, nói cho con biết nỗi buồn phiền của mẹ khi nhìn con không hạnh phúc. Tình của mẹ cho con là tình thương không phân biệt, cho đi nhiều vẫn mãi tràn đầy. Có những ngày mẹ bước thấp, bước cao sau khi nấu vội tô cháo cảm mang cho con dâu bệnh. Đôi tay dù đã yếu, vẫn ân cần hỏi con có muốn cạo gió hay nấu một nồi xông bằng nhiều thứ lá cây. Mẹ thương từ con đến cháu, thương luôn những đứa trẻ thơ theo chân mẹ bước đi thêm bưóc nữa, nhập vào gia đình lớn để đàn cháu của mẹ ngày càng đông. Mẹ thường lặng yên ít nói hơn nghe, dù vậy không thiếu những tấm lòng dành cho mẹ dù ở bên kia hay ở nơi đây. Có những cô bé hàng xóm nơi đất Mỹ, vào ngày cuối năm hay thỉnh thoảng ngày rằm, đã mua hoa đem đến tặng cho bà cúng Phật. Mẹ có lẽ quen dần những tiếng gọi thân thương bằng bà nội hay bà ngoại, của đám trẻ không phải ruột rà mà vẫn thật gần.

Không phải dễ cho lần từ giả. Mẹ bưóc lên xe lòng bùi ngùi nhìn lại ngôi nhà. Thương làm sao những đứa con trai, đã chọn chỗ ở xa phố chợ để gần bên nhà mẹ. Chưa kể thêm lũ cháu, quyến luyến không rời bà nội già nua. Những bài hát trẻ thơ học từ nơi mẹ, thường được hát lên trong nỗi hân hoan những lúc sang thăm. Mẹ còn luyến lưu cả những con dâu, đã thay con gái chăm sóc mẹ vô cùng chu đáo trong khoảng thời gian dài vừa bỏ lại phía sau.

Chiếc xe rời khoảnh sân buồn. Cây trái mẹ trồng trong sân nhà cũng vô thuờng cằn cỗi khác chi thân của mẹ bây giờ. Ở đâu cũng chỉ là cỏi tạm thôi. Cả mẹ và căn nhà nhỏ đều không qua vòng sinh diệt. Mẹ nở nụ cười, đưa tay vẫy lại khi nhìn những bàn tay bé xíu đưa lên, gởi những nụ hôn cho bà nội ngày về nơi ở mới.



quỳnh my

Thursday, April 26, 2007

Tháng Tư này

Mẹ yêu của con,

Con ước gì mẹ về vào cuối tháng Tư này. Ngày cuối tháng Tư con mở mắt chào đời, để rồi nghe kể lại trong tiếng khóc con có tiếng khóc đau thương của người mẹ trẻ hòa theo.

Vòng tay ấm, tình thương của người mẹ ấy ngỡ sẽ bù đắp cho con thật nhiều bởi lúc sinh ra không có mặt cha. Người cha một ngày rã ngũ, tan hàng vội vã bước lên chuyến tàu sau cuối trong đoàn người di tản. Con lớn từng ngày, ngơ ngác hỏi bà nội vì sao con không có mẹ cha? Có phải con là đứa nhỏ mồ côi được ông bà thương xót dưỡng nuôi? Bà nội ôm con vào lòng, trả lời trong màn nước mắt nhạt nhòa. không! Con không phải là trẻ mồ côi. Con có đủ mẹ cha, và một người anh nữa đang ở bên kia bờ đại dương xa thẳm. Nơi đó, không thấy bóng dáng của nỗi nhọc nhằn, đau thương, khốn khổ giống quê mình. Càng lớn, nỗi buồn âm thầm trong con càng ngấm sâu nhiều. Mẹ nơi đâu và cha ở nơi đâu? Con cảm nghe bơ vơ, sợ hãi mỗi khi điền vào tờ lý lịch: Cha là sĩ quan chế độ cũ, mẹ vượt biển ra đi. Mẹ ơi! "Bà mẹ Gio Linh" là nội, sau những năm chinh chiến buồn đau, vẫn tiếp tục sống đời hiu quạnh ở nơi có đất cày lên sỏi đá, nuôi đứa cháu lạc loài ở lại quê nhà.

Con lớn lên như loài cỏ dại, cúi rạp mình theo cơn gió lắt lay. Tuy không chịu cảnh đói ăn, thiếu mặc nhưng khoảng cách giữa ba thế hệ, là nỗi cô đơn kéo dài suốt những năm tháng tuổi thơ. Con hay khóc và rất dễ giận hờn. Thiếu tự tin, thừa tự ti, con biến thành con ốc cuộn mình trong chiếc vỏ. Để che giấu nỗi sợ hãi vì thành kiến, vì bị phân chia đối xử, đôi khi con cũng là con nhím, bung ra những chiếc lông cứng nhọn để tự bảo vệ mình, mẹ có biết không?

Bà nội dạy con đừng oán than nghịch cảnh. Khi không có cách gì thay đổi được, hãy chấp nhận nó và thay đổi chính mình là điều con có thể làm, tuy không dễ chút nào. Hãy nhìn chung quanh để thấy có bao người bất hạnh hơn con. Nếu như cha ở lại, biết có sống sót trở về sau những năm tháng tù đày. Nếu mẹ là vợ người tù cải tạo, biết có vượt qua nỗi những cơ cực, đau thương cùng hai đứa con thơ? Vừa làm mẹ, vừa làm cha thêm lặn lội nuôi người tù nơi núi thẳm, rừng sâu không biết đến ngày nào thoát cảnh đọa đày... Con chợt nhận ra lòng vị kỹ của mình. Chỉ vì nghĩ tới mình nhiều quá cho nên con khổ. Không bằng lòng hiện tại, thèm kéo lôi quá khứ trở về, con còn lo sẽ bị mẹ cha lãng quên ở mai sau. Con hoang mang, sợ hãi giống như người bước chân vào cuộc hành trình đơn độc, không định hướng, không có hành trang cần thiết mang theo, chỉ vì con giống như đứa trẻ mồ côi.

Phải qua mười mấy năm sau con mới gặp lại người mẹ sinh thành. Niềm vui òa vỡ nhưng nỗi buồn không tan biến. Mẹ con trở về, con nhận vào đời thêm một người cha, và những đứa em gái chưa từng gặp mặt, bởi người mẹ ấy đã làm lại cuộc đời sau lần đi ra biển. Con là đứa bé chưa đầy một tuổi, nằm ngủ say bên cạnh lá thư và chiếc áo còn đầy ắp mùi hương để lại, mong con đừng khóc trong đêm mẹ bồng anh bỏ ra đi với ước mơ tìm gặp lại cha. Sau này lớn lên con chợt hiểu, đất nước mình không có chỗ dung thân cho vợ và con của những người tham gia cuộc chiến ngày xưa. Mẹ con đã đến, đã tìm và gặp nhưng cùng đi chung với mẹ là nguời đồng hành đã cho mẹ ân huệ bước lên chuyến tàu vưọt biên không điều kiện. Thêm một đứa bé sắp chào đời ngày mẹ gặp cha ở bên kia. Như quyển sách lật sang chương mới. Chỉ mình con mòn mỏi ngóng chờ ngày xum họp, đã cắt chia thành từng mảnh rời nhau.

Được mẹ trở về chăm lo bảo bọc, con vẫn không thấy mình hạnh phúc hơn xưa. Giờ đây con mới hiểu, hạnh phúc không là thứ ở bên ngoài, thì làm sao có thể kiếm tìm, nắm bắt được trong tay? Từ chối làm thủ tục lên đường xum họp, bởi con không mấy thiết tha khi nghĩ cả cha và mẹ đều có cuộc đời riêng, không có chỗ cho con. Con là kẻ mê mãi đi tìm hạnh phúc, mong lấp cho đầy khoảng trống bơ vơ. Ngỡ gặp rồi nên con bỏ lớp, bỏ truờng. Đâu ngờ hạnh phúc mong manh tựa bóng mây. Đám mây làm khuất lấp mặt trời, chỉ cho con chút bóng mát thoáng qua. Càng mơ ước, trông mong nhiều bao nhiêu thì nỗi thất vọng, buồn phiền trong con càng lớn bấy nhiêu. Đã có lúc con giận con lầm lỡ. Con giận hờn nghịch cảnh trong đời. Con giận ngày xưa cha mẹ bỏ con đi.

Có nhiều khi con nghĩ, dường như những đổi thay to lớn của đời con thường xãy ra trong thời điểm tháng Tư. Mẹ còn nhớ không? Hai mươi năm sau ngày biến động, cha trở về quê nội lần đầu cũng dạo tháng Tư. Hôm đó con về thăm bà nội bệnh, chợt nghe tiếng xe dừng lại trước sân nhà, lòng xao động lạ kỳ. Con chạy nhanh ra, không hỏi, không chào người khách bất ngờ, mà nhào đến ôm chầm người con hằng thuơng tưởng ngày đêm, khi nhận ra khuôn mặt dù đậm vẽ phong trần, vẫn là khuôn mặt thứ hai của chính con. Từ nhỏ con đã thường nghe bà nội nói với con rằng. Con là con gái giống cha. "Con gái giống cha, giàu ba họ". Giàu đâu con không thấy, chỉ biết rằng con giàu nước mắt hơn bất cứ người nào hay khóc trên đời.

Chắc bây giờ thì mẹ hiểu, vì sao trong những năm tháng tuổi thơ con dù rất khát khao tình của mẹ cha, nhưng vẫn im lặng trước những câu hỏi ân cần từ mẹ. Con thèm tình mẫu tử hơn bao giờ, bởi cho đến lúc đó, mẹ con chưa về lại. Là đứa trẻ không có mẹ cha bên cạnh, cho nên con luôn cảm thấy hoang mang. Ở trường học, không ai dạy cho con bài học yêu thương, mà được dạy cho oán thù, kết tội những người ngã ngựa sau cuộc chiến, trong số đó có cha. Con sống triền miên trong sợ hãi, lo âu. Sợ nghe bất cứ câu hỏi nào về người cha bỏ nước ra đi lúc con chưa được sinh ra. Con sợ chế độ luôn tìm mọi cách, kết tội luôn cả suy nghĩ bên trong. Ngoài nỗi sợ uy quyền, đe doạ của người ngoài, con còn ráng tập giấu kín tình thương và cảm xúc riêng. Biết bao lần, con muốn vươn cánh tay bé nhỏ thật xa, để chạm vào tình phụ tử mà con hằng khao khát.

Con thật sự không thất vọng, khi được ôm gọn trong vòng tay ấm áp, thương yêu của người cha bỗng sừng sững hiện ra như một giấc mơ. Hai mươi năm. Thời gian như chớp mắt mẹ ơi! Con đã biết thế nào là hạnh phúc khi sống cho phút giây đang hiện hữu. Những cơ cực, tủi buồn, ước mơ và tuyệt vọng... phút chốc loãng tan như cơn gió nhẹ trước sân nhà ngày con gặp được cha. Tất cả trôi theo giòng nước mắt tuôn hoài như suối không ngừng. Con không kể ra, mẹ cũng đoán phần nào. Khi lau khô nước mắt, câu đầu tiên con hỏi chính là câu hỏi dành cho mẹ, bởi có muôn vàn nghi ngại và thắc mắc ngập đầy ở trong lòng.

Cánh cửa ngăn chia đã mở toang. Con biết rõ điều con cảm nhận ngay trong phút đầu tiên gọi mẹ. Đêm đó, con nói câu gì mẹ còn nhớ hay quên? Con cầm điện thoại. Tay con run và giọng nói cũng run run. Mẹ ơi! Con là con gái của mẹ ba. Đứa con gái sống với ông bà nội mà mẹ thường băn khoăn hỏi. Mẹ ơi! Mẹ có buồn không? Con nghe tiếng khóc nghẹn ngào của mẹ và chợt khóc theo qua câu nói đầu tiên. "Con chính là người nhận chịu thiệt thòi. Nghĩ cũng là nỗi bất hạnh chung của bao sinh linh trên đất nước mình thôi. Quá khứ đã qua. Con đừng buồn nữa. Không phải bắt đầu kể từ bây giờ. Thật ra con đã là con của mẹ từ lâu". Con dụi mắt như vừa đi ra từ giấc chiêm bao. Hạnh phúc ngay trong tầm tay với, vậy mà nỗi lo âu, sợ hãi, hoài nghi đã ngăn chia tình thương vốn sẵn tràn đầy trong những tháng năm buồn thảm của đời con. Lá thư sau đó mẹ gởi về cho nội. Ông cười mãn nguyện, nói con là người hạnh phúc vì có hai người mẹ trong đời. Cả hai ra đi, mang theo tấm lòng của bà mẹ VN.

Mẹ kính yêu,

Mẹ có buồn không, có trách con không? Nghĩ mình thiếu tình thương cho nên con hay đòi hỏi, tự cho mình là người bất hạnh nhất trên đời. Con đã sống mà như quên hơi thở. Đã nhìn nhưng không thấy được bao nhiêu. Đã nghe nhưng không cảm nhận, bởi dường như con chỉ biết thương con. Con ghi vào lòng lời mẹ nói đêm nào, khi con gọi tìm mẹ để khóc như con thường hay khóc. "Tất cả những gì xãy ra trong cuộc đời mình đều không phải ngẫu nhiên. Thay vì trách than, đối kháng, giận buồn, nếu con có thể nhìn sâu hơn để khám phá ra, luôn luôn có một bài học nào đó dành cho con học. Những khổ đau phải chịu, nào chỉ riêng một mình con. Có mất mát chia lìa người thân yêu nhất của mình, con mới thực sự biết chia sẻ, cảm thông với nỗi đau chung". Giờ đây con đã hiểu ra. Nghịch cảnh không hẳn là điều tệ, vì gíup cho con có thêm ý chí, lòng nhẫn nại, biết bao dung với chính mình và cả mọi người, mỗi khi cố gắng vượt qua. Như lời mẹ nhắc hôm nào, con nghĩ phải chăng quả khổ đau bất hạnh hôm nay, là nhân đã gieo trồng trong vô thức thuở nào. Con sẽ không còn hỏi vì sao mình khổ, mà sẽ gắng chọn hạt giống lành, và học thuộc lòng bài học cảm thông để dưỡng nuôi,làm lớn rộng tình thương mà đã từ lâu con thích nhận, quên cho.

Mẹ ơi! Con tự biết mình may mắn thật nhiều, vì con gái của mẹ không có mặt trong số hàng vạn người con gái đi lấy chồng như bán cuộc đời, để có vài trăm để lại cho gia đình, rồi theo người xa lạ lưu lạc tha phương không biết về đâu? Bên cạnh đó, mẹ có biết rằng khoảng cách giữa nỗi khó nghèo cơ cực và những người quyền thế sang giàu, đã thôi thúc từng bầy thiếu nữ nơi thành phố, lao vào vũng lầy để có được cuộc sống xa hoa, phù phiếm hay không?. Là người ở lại nên con thấu rõ, cả triệu tấm lòng của người ra đi vẫn không ngừng hướng về người ở quê nhà. Có cả triệu bàn tay cùng nhau băng bó lại vết thương xưa, dựng lại ngôi nhà mục nát tang thương qua năm tháng. Lo từ người đang sống, cho đến những mộ phần hoang lạnh tiêu điều. Lo từ cháu con cho đến trẻ mồ côi. Từ con đường nhỏ, cây cầu bắt qua con lạch cho đến mái nhà che mưa nắng người nghèo và những ngôi chùa mục nát, rêu phong. Trường học cho trẻ thơ, học bỗng dành cho người hiếu học và đem lại ánh sáng cho nhiều người sống cảnh mù lòa bởi quá nghèo nàn. Những cơn nước lũ đổ về không dứt, lụt lội lan tràn khi rừng bị tàn phá không ngừng do đói nghèo và do cả lòng tham. Những tấm lòng luôn hướng về đất mẹ, đã vượt đại dương để cưu mang, xoa dịu bao nỗi khổ niềm đau.

Những người ra đi thuở đó, dường như ai cũng mang theo một quê hương và ra sức bồi đắp, dựng xây không ngừng trong suốt mấy mươi năm, mong người ở lại sớm thoát ra cảnh khổ. Nhưng mẹ ơi! Mẹ phải về để thấy nhiều hơn những gì con kể mẹ nghe. Theo thời gian, vết thương ngày cũ đã lành, nhưng chiếc áo lành lặn, thơm tho người ta đã vứt bỏ đi, để khoát lên mình manh áo đủ màu được dệt bằng vị kỹ, tham lam mù quáng. Sự trong sạch, chân thành không dễ kiếm tìm. Vết thương ngoài da lành hẳn, nhưng sau chiếc áo phù phiếm, xa hoa là một thân thể dung chứa nhiều căn bệnh trầm kha. Con bỗng cảm thương nhiều những tấm lòng, dù xa vạn dặm vẫn ra sức vá lại quê hương rách nát, trong khi người khổ đau vẫn không ngừng đau khổ từng ngày.

Mẹ bảo con đừng bi quan nữa. Dù không thể vá lành manh áo tả tơi, thì những người luôn sống với tình thương vẫn không bao giờ bỏ cuộc, nản lòng. Mẹ ơi, có phải mẹ muốn nói với con rằng một ngày nào khi đã đủ nhân duyên, mọi người sẽ chung sức dệt ra áo mới. Chiếc áo được kết bằng những sợi yêu thương, để ai mặc vào cũng biết thương người như thể thương thân và trong nỗi khổ người có nỗi khổ mình, cho nên bớt tham lam, sân hận, si mê. Ba mươi hai năm, con trãi qua đoạn đời vui ít, buồn nhiều ở nơi này. Chợt nhận ra rằng, dù khổ, dù vui mọi thứ đều tuần tự đổi thay theo với thời gian. Cũng theo cách ấy, con tin rằng bóng tối sẽ qua đi. Con biết ơn những tấm lòng của biển- của những bà mẹ VN dù ở nơi nào vẫn mãi ấm nồng. Con cảm ơn tình mẹ cho con. Con cũng biết ơn hàng triệu người thuở ấy ra đi, dù trở lại hay không, mãi mãi vẫn còn nặng lòng với quê nhà.

Mẹ ơi! Tháng Tư này, mẹ về với con nghe!

quỳnh my

Saturday, March 17, 2007

Rừng xưa đã khép


Máy bay rời phi đạo mùng 5 tháng giêng lúc 11 giờ. Hãng hàng không Southwest Airline không yêu cầu hành khách ngồi theo số ghế in sẵn trong vé nên hai mẹ con được tùy nghi chọn chỗ sau người vào trước. Mẹ biết ý, nhường cho tôi vào trong, nơi có vuông cửa nhỏ để mặc tình tôi lang thang với gió cùng mây. Mẹ bây giờ cao tuổi. Phần tôi, được bác sĩ cẩn thận căn dặn không được mang xách gì quá 3 pounds. Cho nên, mấy bộ đồ ấm nặng dầy cùng quà tết muộn và những thứ lỉnh kỉnh khác được người nhà tay xách tay mang đem gởi bên hành lý. Không còn gì ngoài tay trong tay, hai mẹ con cảm thấy nhẹ thênh thang dù chưa bay bỗng lên cao. Đưa mắt nhìn quanh, mẹ buông tiếng thở dài.
-Hành khách lưa thưa, còn nhiều chỗ trống thấy sao mà tội!
Mẹ vẫn luôn thế. Thường lặng yên mà để ý sẻ chia mọi điều mọi thứ quanh mình. Vừa thắt dây nịt an toàn tôi vừa nói với mẹ:
-Đời sống càng ngày càng trở nên chật vật, khó khăn hơn vì ảnh hưởng chung.

Tôi nhìn qua ô cửa nhỏ. Bầu trời bên ngoài ấm và trong. Những chùm mây trắng cuộn lại nhiều vòng rãi đều ở khắp, quyện vào nền trời xanh thênh thang tựa tấm lụa khổng lồ phủ kín lên mặt đất. Thấy mình nhỏ nhoi như chưa từng có mặt. Như hạt sương, như hạt bụi bay lạc giữa cuộc đời không vết lưu. Vậy so đo, tính toán làm chi. Sống như người lữ khách dừng chân nơi quán trọ, để ngắm để nhìn khổ đau và hoan lạc của người hay của chính mình. Nên làm gì trong chuyến viễn du đời, để khi rời khỏi không còn chi luyến tiếc.

Chuyến đi không định trước làm người thân băn khoăn. Người anh xa dặn dò.
-Em còn yếu lắm. Hãy nhớ mà điện thoại hỏi bác sĩ trước khi lấy vé đi xa, xem ông ấy nói thế nào.

Thói quen lắng nghe, theo dõi từng đổi thay biến chuyển của thân tâm, đã phần nào giúp tôi biết rõ mình hơn. Những lọ thuốc giảm đau cực mạnh sau khi rời bệnh viện chỉ được dùng trong mấy đêm đầu. Cơn đau thường nhanh kéo đến lan rộng rồi ngấm sâu. Sau đó thật lâu dịu xuống từng phần rồi nhẹ nhàng đi khỏi, thưa dần. Hiểu rõ từng chu kỳ đến, đi như thế nên tôi không lo lắng và lệ thuộc nhiều vào thuốc giống ngày xưa. Mỗi ngày được chở sang nhà mẹ. Được ăn những bữa ăn mẹ nấu bằng tuổi già với tình thương bao la. Tôi làm sao không mau bình phục, để nhận ra đôi mắt đăm chiêu và nỗi khắc khoải trong lòng.

Chị tôi ở tiểu bang xa cũng mới vừa qua cuộc giải phẫu chỉ sau tôi hơn tuần lễ. Mẹ để chiếc điện thoại cạnh chỗ tôi nằm, nhắc tôi gọi mỗi giờ cho người anh rễ, từ lúc chị vào phòng giải phẫu cho đến khi tỉnh dậy.
-Tội nghiệp chị con. Số lạc loài xa cách gia đình. Bao nhiêu lần mỗ xẻ chỉ có chồng con, không khi nào có cha mẹ, anh em tới viếng thăm.
Tôi nhìn thấy vẽ hân hoan của mẹ, khi nghe tôi buột miệng:
-Con sẽ dẫn mẹ đi thăm chị. Con dắt đi nhưng mẹ phải cẩn thận hơn. Đôi chân yếu nếu mà bị vấp, sẽ làm hai người ngã xuống một lần!
Mẹ cười, hứa sẽ chậm chứ không nôn nóng đi mau như thói quen. Khi nghe báo tin, chị tôi không giấu nỗi băn khoăn.
-Chị không sao. Cũng đã quen dần với những sống chết cận kề. Mẹ yếu và em cần tịnh dưỡng. Mỗi năm chị mỗi về xum họp với gia đình mà. Chị về hôm lễ giáng sinh, nhớ không?
Tôi cười, nói cho chị hay:
-Vé đã mua xong. Em cũng cần trở lại để thăm cảnh cũ, người xưa sau mấy mươi năm bỏ tu "xuống núi"!

Chuyến bay dừng lại phi trường St Louis sau hơn 2 giờ bay cho hành khách xuống và đón hành khách lên, tiếp tục cuộc hành trình đến trạm cuối là thành phố Louisville, tiểu bang Kentucky. Tôi nao nao nhớ lại, kể cho mẹ nghe điều tôi chưa từng kể bao giờ.
-Mẹ có biết rằng hai mươi mấy năm xưa cũng ở chỗ này. Một đêm mùa đông con ngồi ôm mặt khóc. Chuyến bay dừng lại không phải 20 phút như thường lệ mà phải dừng qua hết một đêm vì kẹt bão tuyết. Nỗi lạc lõng bơ vơ nơi phi trường xa của một người vừa bỏ nước ra đi, không lớn bằng nỗi sợ khi con về mẹ đã đi rồi. Mẹ nhớ không, lần mẹ bệnh nhiều. Đêm 30 tết em con gọi khóc. Nó nói chị về mau. Em chắc sẽ đi tu nếu mẹ bỏ tụi mình đi
Mẹ bùi ngùi đưa tay chùi giọt nước mắt. Tôi liến thoắng.
-Không ngờ lần này ghé lại, người ngồi bên cạnh con là mẹ. Cũng là lần đầu tiên chỉ có hai mẹ con đi với nhau một chuyến đi xa.

Người anh rễ đứng đợi tự bao giờ trên đường ra nhận hành lý. Vẫn nụ cười hiền, anh khẽ gật đầu nói hai tiếng ngắn "chào mẹ" rồi giang rộng đôi tay ôm nhẹ nhàng như sợ tôi đau.
-Em khỏe chưa? Anh chị thật không ngờ em trở lại lúc này.
Tôi gật đầu.
-Em nghĩ rằng em khỏe hơn anh, vì anh vừa lo cho chị vừa lao đao với bệnh của anh.
Bản tính xưa giờ vốn không coi bất cứ điều gì xẩy đến cho mình là quan trọng, anh rễ tôi cười:
-Có gì đâu! Tại chị em nói quá thôi mà.
Phi trường nhỏ nên mẹ và tôi nối bước sau anh chừng khoảng ngắn đã ra tới bãi đậu xe. Mẹ mừng vì không bị lạnh nhiều. Anh cho biết
-Hai ngày trước bão tuyết, rồi yên. Chắc mẹ và em đem nắng ấm Houston đến đây.
Riêng tôi vừa ngại lạnh, vừa bâng khuâng muốn nhìn lại mùa đông trắng xóa thuở nào xa. Chợt nhớ lần này còn có mẹ. Tôi gật đầu cười.
-Coi như mẹ với em về làm ấm bầu trời. Bao lâu mình về tới nhà anh? Lâu quá em không nhớ. Chỉ nhớ ngày đó cả nhà thường đi về đoạn đường này.
Nghe tôi hỏi, anh cười dí dõm
-Chỉ cần em khép mắt nghỉ ngơi. Khi mở mắt sẽ nhìn thấy căn nhà cũ. Mới hơn 3 giờ, đường còn vắng. Khoảng một tiếng nữa thôi. Gần hơn một bận anh lái xe từ nhà đến sở làm.

Không hẹn mà mẹ và tôi cùng đưa mắt nhìn cảnh hai bên đường. Không thấy màu xanh của lá cây. Nhiều dãy đồi thấp ẩn hiện sau khu rừng mùa đông ảm đạm, trơ trọi những nhánh khô và muôn ngàn cánh lá mục phũ lên màu đất đỏ. Dọc theo bìa rừng, rãi rác những căn trailer mộc mạc, đơn sơ. Mẹ xa xót như chính mình đang ở trong căn nhà đó.
-Ở đây mùa đông lạnh nhiều. Những người sống trong đó sao đủ ấm?
Lòng tôi xôn xao, khi đôi mắt lướt nhìn tấm bảng nhỏ bên đường. Còn mười mấy dặm nữa sẽ về tới Elizabeth Town và Racliff- nơi một thời tôi đã tạm dung. Thấp thoáng trong trí nhớ, căn nhà có nhiều ô cửa kính viền chung quanh màu trắng. Cho tôi tựa cửa ngắm mùa thu lần đầu ở trong đời. Ngắm mùa đông qua tới mùa xuân, rồi bước sang hè đi chẳng quay về.

Xe bắt đầu rẻ vào con đường nhỏ. Người anh rễ hỏi tôi:
-Em có nhận ra sự đổi khác nào không?
Tôi trả lời bằng cái lắc đầu. Anh đưa tay chỉ:
-Đó là những căn nhà tuần tự mọc lên từ sau lúc em đi. Nhà cất thưa, lẫn với rừng cây cho nên em chưa nhận ra.
Qua nhiều khúc quanh, nhiều dốc đồi. Xe từ từ chậm lại đủ để cho tôi nhìn thấy những ô cửa trắng hiện ra trên đầu dốc. Cửa nhà xe bật mở trên cao, tôi chợt nhớ và buột miệng:
-Những ngày tuyết phủ, em sợ cái driveway này nhất. Vừa nhỏ, vừa cao mà dài khiến em rịn mồ hôi trong những buổi sáng chị lái xe xuống mặt đường xa thấp dưới kia.
Xe ngừng. Mẹ và tôi bước xuống. Chị đứng đó tự bao giờ, nơi cánh cửa trên những bậc tam cấp nối liền nhà bếp với nhà xe. Trên khuôn mặt nét bơ phờ còn đọng lại. Chị cất giọng reo vui gọi mẹ, cùng lúc hai chị em ôm mừng nhau bằng vòng tay buông lỏng nhẹ nhàng, bởi sợ chạm vào vết thương chưa lành hẳn của nhau. Bên ngoài chiều xuống thật nhanh. Mẹ nhắc hai đứa khép cửa đi vào trong cho ấm.

Bữa ăn tối là món cháo do chị nấu, bằng những miếng ức gà thịt trắng nõn. Mẹ cười, nói thiếu bắp cải và rau răm cho món gỏi phải không? Chị khẽ gật:
-Ở đây thiếu nhiều thứ, con đành quen ăn giản dị.
Riêng tôi cảm thấy ngon hơn bao giờ. Món cháo nóng rắc lên chút tiêu và hành ngò thơm ngát, được nấu từ bàn tay người chị yếu, làm ấm cả trời đông. Mẹ xót dạ, hỏi sao không chờ mẹ nấu cho, dù biết chị là người tươm tất. Hay lo gần, lo xa về tất cả mọi điều. Chị cười, nhẫn chịu hơn bao giờ
-Từ bệnh viện về, con có nghỉ ngơi đâu! Vết mỗ mới còn rỉ máu nhưng lưng đau quặn thắt. Suốt ngày chỉ đứng hoặc ngồi thôi. Đêm mệt lả, con chợp mắt may ra vài tiếng. Không nằm nghỉ được, với con nấu nướng, dọn dẹp cũng là một cách để quên đau.

Mẹ như quên đi thân bệnh yếu của mình, vẻ thương xót ngập tràn trên khuôn mặt. Quanh vòng cổ của chị là vết sẹo đã lành, mờ nhạt với thời gian. Cục bướu lấy ra mười năm trước, kết quả thử nghiệm là ung thư, đã không quay trở lại làm khổ chị như nỗi lo của những người thân. Nhưng giọng hát ngọt ngào làm rung động bao người đã mất đi vĩnh viễn. Lần cuối cùng còn được nghe chị hát là trong đêm tiệc cưới của tôi. Hai năm trước chị bắt đầu vật vã vì nỗi đau tê dại lúc về đêm, bởi đốt xương sau cùng ngay cột sống bị lệch ra khỏi khớp. Người thân ai cũng nghĩ đó là hậu quả của lần chị bị tai nạn kinh hồn trên chuyến xe tốc hành ngày còn ở bên nhà. Qua năm tháng chất chồng, xương ngày càng yếu nên lệch lạc. Cuộc giải phẫu sẽ kéo theo nhiều rủi ro có thể, chị ngại ngần chấp nhận nỗi đau, để mỗi hai tuần phải vào bệnh viện một lần, được gây mê rồi chích thẳng vào xương. Với cây kim thật lớn chích vào xương cứng, chị vật vã nằm dài khi thuốc mê tan. Để rồi sau ngày nghỉ cuối tuần, đầu tuần chị đến sở tiếp tục việc làm quen thuộc. Nỗi đau tạm ngủ yên chừng tuần lễ. Qua tuần thứ hai thức dậy làm tội tình thân chị không ngừng.

Mẹ nhiều lần khuyên chị nghỉ làm. Chị hẹn lần, cốt để mẹ an tâm. Tôi hiểu không phải vì nợ áo cơm ràng buộc. Chị sợ ngày sẽ dài hơn, sẽ trống rỗng và vô nghĩa để rồi bị lấp đầy bởi phải thường xuyên đối mặt với từng cơn đau đến rồi đi. Lần rồi, khi chuẩn bị về trong ngày mừng thọ mẹ, chị được bác sĩ hẹn vào bệnh viện để báo tin: Một trái thận bị hư cần giải phẫu ngay. Chị về thăm nhà, bình thản như không. Trong khi mẹ và tất cả anh em đều ân cần trong nỗi ngậm ngùi. Tưởng chừng chị mong manh như sương sớm, sẽ vội tan lúc mặt trời lên. Chị vui đùa cùng với mọi người, dù đêm đến có là cực hình đi chăng nữa.

Sau bữa ăn tối mẹ lên phòng đi ngủ sớm, không quên dặn dò tôi:
-Con ngủ chung với mẹ nghe!
Hai chị em như chẳng rời nhau. Chị và tôi cùng bật cười khi anh rễ đến bên chào, chúc ngủ ngon kèm nụ cười trêu chọc:
-Có phải hai chị em ghé lại thăm từng phòng không vậy?
Thì ra như chuyện ngẫu nhiên, tôi kéo chị đi từ phòng này qua phòng khác trong lúc hàn huyên mà không biết, không hay. Từ lò sưởi tôi đi qua phòng khách, chỉ vì muốn nâng niu những chùm hoa rực rỡ chị trồng trong nhiều chiếc chậu nhỏ thật xinh, xếp cạnh nhau trên bệ cửa. Bốn mùa hoa vẫn nở đều. Có lẽ vì vậy mà mùa đông thêm ấm, dù không có màn che ở những vuông cửa sổ. Lần này tôi được chị tặng cho mấy nhánh lá xanh, đã đâm rễ sẵn đang chờ trồng vô chậu. Chị là người có tay trồng. Nhánh cây nào chị cắt ra ngâm trong nước cũng hứa hẹn cho thêm một cây hoa mới.

Đêm vào khuya đã từ lâu. Tôi tắt đèn, theo chị lên những bậc thang. Không hẹn, cả hai chị em cùng dừng lại trước căn phòng bỏ trống nhiều năm. Đèn bật sáng. Lòng tôi không khỏi bâng khuâng khi nhìn lại căn phòng thời thiếu nữ ngày nào. Chiếc tủ đó. Chỗ nằm này. Chị vẫn trải giường tươm tất dù không còn ai ở đây. Bên khung cửa sổ không có màn che, là chỗ tôi thường dõi mắt xa vời, dẫu biết rằng chẳng nhìn thấy được gì ngoài màu tuyết trắng bám đầy trên mặt kính. Thỉnh thoảng đứa cháu trai 6 tuổi, bước vào phòng chợt thấy dì buồn thẩn thờ, đã thay câu chúc ngủ ngon bằng câu hỏi:
-Đêm nay con có thể qua đây ngủ chung với dì không?
Tôi gật đầu, quay về thực tại. Tiếng hát người ca sĩ đã ngừng. Để lại tôi sầu thảm, lang thang trong mộng du. Nhiều năm sau tôi bỗng giật mình. Phải chăng ngày đó mình chưa từng biết nghe là gì hết. Âm thanh đến từ tai, sao có thể đẩy hồn tôi xa vạn dặm khi không còn tiếng hát? Đứa con trai bé bỏng ngày xưa chừng xa xót lắm, nói với mẹ rằng thường thấy tôi nghe hoài những bản nhạc buồn. Sợ tôi một mình sẽ khóc trong đêm, cháu tôi đã có sẵn trong đầu nhiều câu hỏi để đem tâm về lại với thân tôi.

Chị đóng lại cánh cửa căn phòng ngày cũ. Thoáng chút bồi hồi trong đáy tim tôi. Đêm đã vào sâu hòa cùng tiếng máy sưởi chạy đều. Chị nói khẽ:
-Mẹ mệt, ngủ say sưa thấy mà thương. Khuya lắm rồi. Chị trở về phòng. Em ngủ ngon nha!
-Chị cũng ngủ ngon.
-Ừ. Chị ráng ngủ được bao nhiêu mừng bấy nhiêu thôi.

Hơn 20 năm. Sau chừng đó thời gian trở lại. Chị bây giờ thân yếu lao đao, nhưng vẫn là người chị luôn để ý, chăm sóc cho tôi từng chút nhỏ nhoi. Chợt nhận ra tôi xưa ích kỹ vô cùng, đón nhận tình thương của chị như điều tự nhiên phải có. Những buổi chiều tan sở, chị lửng thửng đi trong khi tôi chạy ra bãi đậu xe, để lơ ngơ đứng trước nhiều khối tuyết mang nhiều hình dáng. Không dễ gì nhận biết xe nào là xe của chị, bởi hồn tôi ở tận đâu đâu. Chị biết tôi sợ lạnh, nên đứng ngoài trời cào tuyết một mình, sau khi nổ máy xe và mở sưởi cho tôi được ấm. Màn đêm buông xuống nhanh. Tôi ngồi lặng lẽ, trong lúc chị gian nan với đường về như chợt dài thêm vì bão tuyết đang trên đường kéo tới.

Người chị ngày xưa yểu điệu, dáng tha thướt mượt mà một thời làm điêu đứng bao người. Đâu ngờ rồi một ngày chị bỏ hết phấn son, sống đơn giản khi chưa qua tới tuổi ba mươi. Ngày gặp lại nhau sau những năm xa, lũ em tôi và mẹ ngạc nhiên nhiều vô kể. Cho đến khi theo chị về sống giữa rừng hoa dogwood, được gặp gỡ bạn bè của chị nơi này, tôi hiểu vì sao chị đổi thay nhanh. Ở đây tôi học nấu ăn, học làm bánh, học đan và móc từ những người vợ, người mẹ trẻ, giản dị hiền hoà, ngoài đi làm chỉ biết có gia đình. Niềm vui không có ở bên ngoài, mà chính là niềm vui thật sự ở nội tâm. An phận, bằng lòng với những gì đang có bên mình.

Nghe tin tôi trở lại, lần này còn có mẹ theo về, căn nhà vắng im chợt rộn ràng hồi chuông cửa ngân vang. Những người bạn thâm tình của chị đến thăm, với đủ thứ bánh trái tự tay làm, còn thêm khay bún xào chay. Mẹ đãi các chị bằng bữa cơm mang hương vị tết vì vẫn đang tuần lễ đầu tiên của tháng giêng, và thưởng thức tài nấu nướng của những người ở xa phố chợ. Như bà mẹ hiền mái tóc bạc phơ, ngồi giữa bầy con gái đã qua thời xuân sắc. Tôi không chút ngạc nhiên khi thấy bạn của chị choàng tay ôm hoài bờ vai mẹ, có lúc tựa đầu lên trên như tìm chút hơi hương của người mẹ đã xa đời. Mẹ chu đáo mang theo bao lì xì đỏ, để nhận ra từng ánh mắt rưng rưng khi được mẹ ân cần nắm lấy bàn tay trao tặng những thương yêu.

Phần tôi, không biết trả lời sao khi nghe câu trách khẽ.
-Sao nhỏ đi mất hút, biệt tăm? Phải hơn 20 năm Ly Huế mới gặp Ly Saigon trở lại. Khi em quay về thì các chị đã già.
Tôi chợt nhớ ra khi mới đến đây, các chị gọi tôi là "Ly Saigon", để khỏi lẫn lộn với chị Ly dù xa Huế từ thuở nằm nôi vẫn mãi thiết tha. Có chút gì bâng khuâng trong dạ, bởi cho đến ngày này tôi chưa hề trở lại Saigon. Thoáng nhìn từng khuôn mặt thân quen của ngày xưa, ngoài mái tóc màu sương tuyết để tự nhiên không nhuộm, các chị dường như không đổi thay nhiều. Dấu thời gian không lưu lại, hằn sâu trên khuôn mặt trong sáng, đơn sơ chẳng chút phấn son. Tôi thật sự cảm thấy mừng cho những người đã trút được thật nhiều trói buộc thường tình. Có lẽ nhờ sống giản dị, hồn nhiên không màng hình thức bên ngoài, cho nên các chị vẫn còn mãi nụ cuời thanh xuân giòn giã của ngày xưa.

Qua chị tôi vẫn thường nghe và biết nhiều về những đứa trẻ năm nào nay đã trưởng thành. Những đứa bé mà thuở đó tôi cùng xếp hàng trong tiệm pizza, tự tay chọn nhân bánh và đặt vào lò nướng trong ngày sinh nhật chúng. Cùng chúng cắt chia miếng bánh ngọt ngào và hát mừng ngày sinh nhật tuổi thơ. Có đứa bây giờ là goá phụ. Đứa mấy lần dang dở, truân chuyên. Đứa hạnh phúc, nên người hữu dụng. Đứa làm mẹ rơi những giọt lệ âm thầm vì được sinh ra không hoàn hảo, nên suốt đời chẳng bao giờ có cuộc sống bình thường. Điều này phải đợi đến khi con khôn lớn, trưởng thành mẹ cha mới cùng đau khổ nhận ra. Dù sao tôi vẫn an tâm, khi nhìn thấy những nụ cười chấp nhận, cuộc đời là một chuỗi khóc cười, cho nên dù khổ hay vui các chị vẫn ung dung.

Bình cà phê đã cạn. Ngày qua mau và trời trở lạnh hơn trong lần từ giã tiếp theo. Những vòng tay quyến luyến buông lơi. Hai chị em tôi và mẹ đứng nhìn theo những bước chân xa dần phía dưới mặt đường. Tình người ở nơi này đằm thắm, từ hòa. Có lẽ vì vậy mà chị không nghĩ đến chuyện dọn về nơi ấm áp hơn, dù hai đứa con trai không còn ở cạnh bên.

Về lần này, cháu tôi đứa mới làm cha, đứa dẫn về giới thiệu với bà ngoại và dì người bạn gái sẽ cưới trong mùa hè sắp tới. Đó là chú bé con thuở trước, không muốn nhìn thấy tôi buồn nên hay luẩn quẩn tới bên hỏi chuyện Việt Nam. Khi nghe chị tôi nhắc về tuổi thơ của mấy chị em trong lúc chiến tranh, cháu tôi nói bằng ánh mắt trĩu buồn:
-Con hiểu đó là điều bất hạnh, cho nên con thương mẹ với dì nhiều lắm.
Xa nhau nhiều năm. Những lần theo cha mẹ về thăm bên ngoại cũng thưa dần theo thời gian hai đứa trẻ trưởng thành. Gặp tôi, bao giờ hai đứa cũng đến ôm vai, trìu mến không khác ngày xưa. Một đôi lần chị kể với tôi.
-Hai đứa nhỏ nói với chị tụi nó vui nhiều, vì lần này gặp lại dì con thấy an tâm. Không còn vẻ buồn bã, bi quan như ngày đó.
Chị cười.
-Con chỉ thấy vậy thôi mà đâu biết hết những gian nan, sóng gió chẳng bình yên.
Đứa con trai nói giọng thật hiền
-Dù sóng gió nhưng biết chọn cách đối mặt cùng với nó sao cho không ngã xuống, thì mới có được nụ cười tươi. Mẹ có nghĩ như con?

Tôi giật mình. Chú nhỏ 6 tuổi năm xưa đã tìm biết cách dẫn tôi thoát ra khỏi cơn mộng đêm ngày, bởi chạy theo ảo giác là bỏ quên hiện tại. Còn thằng anh 11 tuổi hay lặng nhìn tôi, giờ vẫn nhìn tôi để chỉ nói câu "con đã an tâm". Có phải những con nước từ muôn nguồn, đã xuôi giòng tìm ra biển gặp nhau. Tôi chia với chị hạnh phúc ít người may mắn được, là những đứa con thảo đã thành nhân bên người chồng tận tụy một đời. Mẹ nhìn chị được chồng con bảo bọc nâng niu, nhưng vẫn không ngưng được tiếng thở dài.
-Hạnh phúc tràn đầy nhưng trọn vẹn đâu! Có hình hài là có khổ sầu. Người khổ tâm, người đau đớn xác thân.
Tôi nghĩ sau khi thăm chị lần này, mẹ sẽ ít còn nhắc tới điều mong ước, là muốn chị thu xếp chuyển về gần với mẹ, với anh em. Chị đã không còn vướng bận gì, khi nói với mẹ:
-Dù xa hay gần người thân, thì sớm muộn gì cũng bỏ lại để ra đi. Con nghĩ càng nhiều quyến luyến càng không thể thanh thản được mai này.

Những ngày êm đềm qua mau. Buổi sáng cuối cùng tôi ngồi bên cửa sổ đợi sương tan. Chị pha tách cà phê thật nhạt chia chung với mẹ. Mặc thêm chiếc áo mở cửa bước ra ngoài, tôi đi chầm chậm về nơi cuối dốc. Mẹ an tâm, không dặn dò như buổi sáng đầu tiên. Sợ tôi không chịu nỗi lạnh, sợ tôi không đủ sức lang thang một mình trên dốc đồi nơi này.

Tôi kéo cao cổ áo, nhìn con dốc. Gió từ muôn phương thổi về. Từng cụm mây trời lãng đãng cuốn theo biết về đâu? Bên này là đồi cỏ úa với hàng thông xanh rì rào. Bên kia là rừng hoa dogwood trơ cành đang chờ nắng xuân về nẩy lộc. Những chiếc lá vàng trải đều như lớp thảm dày, chở che cho mặt đất. Tôi lặng yên nghe nhịp thở nhẹ đều. Thấy trong gió có mình cùng góp mặt. Đôi chân bước đi những bước nhẹ tênh, cảm nhận thật rõ từng bàn chân chạm xuống mặt đường im vắng. Đứng từ trên cao ngó xuống, thấy trời chở che cho đất. Thấy lá lót mình cho cây trổ muôn hoa. Thấy đồi uá vàng đang trở mình sau những ngày dài tuyết giá. Chỉ thêm vài tuần nữa, sau khi tôi rời khỏi nơi này, rừng sẽ vươn mình thức dậy sau giấc ngủ mùa đông. Cây lá, cỏ hoa, gió và nắng sẽ cùng nhau hợp tấu bản đồng ca bất tận.

Chụp thêm vài tấm ảnh đánh dấu lần trở lại. Người năm cũ giờ không tìm đâu ra nữa trên bước chân tìm lại. Cảnh nay vẫn đầy ắp thêm tôi như cảnh xưa nhưng đành quay trở về. Bước ra nhẹ nhỏm thênh thang trên bước vào vướng vấp. Tan loãng vào hư không, khu rừng ngày xưa đã khép.

Quỳnh My

Wednesday, February 14, 2007

Cho đêm trừ tịch

Khi những ngày nắng ấm bỏ đi, từng cơn mưa đâu đó đợi chờ tiếp nối tìm về. Mùa đông chừng như rét mướt lê thê hơn những năm qua. Ở một ngã tư đèn đỏ chợt dừng, thấy thương quá đàn chim ríu rít, gọi nhau trên những nhánh cây và hàng dây cáp ướt mưa. Lạ kỳ, chỉ riêng ở góc đường này, có đàn chim nhiều vô kể không biết từ đâu về tụ lại, suốt mùa đông chẳng kể chi mưa nắng, ngày đêm. Có lẽ nơi đây vào ngày lạnh nhất, vẫn ấm hơn nhiều so với nơi chốn của chim mỗi độ đông sang. Biết thế, nhưng trên quãng đường khuya lạnh lẽo trong mưa của đêm gần về sáng, lòng không dưng chùng xuống. Con đường dẫn vào bệnh viện không làm băn khoăn, e ngại khi lắng lòng nhìn thấu đất trời. Những ngày ấm, lạnh, nắng, mưa. Những nụ cười ấm áp, lung linh như nắng. Những giọt nước mắt âm thầm rớt xuống nhẹ nhàng như cơn mưa kéo qua trời làm trắng xóa một màu. Những may mắn cùng bất hạnh, hạnh phúc và khổ đau chợt trở nên bé nhỏ, mong manh. Bởi tất cả rồi cùng ở lại, trở thành quá khứ theo từng phút giây hiện hữu qua nhanh.

Trong căn phòng thường lạnh lẽo vào mùa hè và ấm áp những ngày đông, chợt nhìn thấy nhiều những nét mặt khắc khoải lo âu, trong khi bên ngoài mưa vẫn rơi đều, màn đêm đã dần tàn. Thảo nào chính mình cũng nghe nhiều những lời chúc lành may mắn, bình an. Những vòng tay ôm ấm áp khi nói câu chào giả từ vào ngày làm việc sau cùng. Chuỗi ngày nghỉ dài đã lâu không có, giờ có thật nhanh nhưng sao thoáng gặp những băn khoăn. Từng đôi ngồi lặng lẽ, bên nhau. Có thể là một nửa của nhau, là mẹ con, là chị em hay là người bạn rất gần, cùng chờ nghe tên gọi. Khi nối bước theo sau cô y tá, có vài đôi mắt ngoái nhìn trở lại người thân, như gởi câu chào bịn rịn lặng thầm. Có đôi vòng tay ôm vội vã, dường như có nụ hôn gởi trao nhanh. Ngoài kia, một ngày mới đã bắt đầu. Trong này, là những lao xao chuẩn bị, dặn dò. Bây giờ có lẽ là lúc cảm nghe mình thực sự thảnh thơi, bởi không còn bị lệ thuộc vào thời gian cùng nhiều hệ lụy quanh đời. Nằm yên nhìn mọi người tỉ mỉ, chu đáo và bận rộn vì mình, cho đến khi chiếc mền trắng được sửa cho ngay ngắn, những giọt nước từ túi nước biển treo cao nhỏ giọt chậm đều. Chiếc túi đựng những gì vừa trút bỏ, cô y tá cầm lên vội rời phòng trao gởi lại người thân. Chợt nhận ra ngoài chiếc áo rộng khoác hờ và họ tên được đeo vào cổ tay như chiếc vòng nhựa mỏng, mình chẳng còn gì trói buộc lúc này. Còn vài phút nữa sẽ vào phòng giải phẫu, cô có cảm thấy đang hồi hộp nhiều không? Nghe câu hỏi kèm nụ cười ấm áp từ người bác sĩ, khẽ lắc đầu để nghe thêm câu hỏi tiếp. Thật sao? Vâng, là điều có thật, vì tôi đang nằm nghe hơi thở của mình. Để mặc cho mọi chuyện đến, đi theo hơi thở vào ra, không chút bận tâm. Vậy là tốt quá rồi. Bây giờ mình bắt đầu đây! Chiếc giường di chuyển thật nhanh theo những bước chân. Chưa kịp đưa mắt nhìn chung quanh và than lạnh không thể nào chịu nỗi, đã cảm nghe ngột ngạt, ngập chìm trong khoảng tối đen, cùng ý nghĩ thoáng qua nhanh. Khi góp mặt với cuộc đời là tìm đến một mình. Giờ coi như đang dọ bước trước khi ra khỏi, bởi trước sau cũng chỉ một mình thôi.

C hợt tĩnh dậy sau vài giờ chìm sâu trong giấc ngủ. Dường như có bàn tay nào nhẹ nâng niu trên khuôn mặt thật gần. Có lời thì thầm như tạ lỗi cùng ai. Những cơn mơ rời tiếp nối chợt dừng, để ngơ ngác hỏi thầm. Bao lâu rồi, có lẽ nào lòng chưa thật yên bình? Sao trong vô thức vẫn còn lang thang tìm kiếm. Khi đi tìm Phật, khi dõi mắt kiếm tìm chiếc bóng xa mờ. Tìm nơi đâu? Sao không phải phải là đây, là nơi tâm ở trong thân. Tiếng gọi ngọt ngào từ lâu lắm không nghe. Lời êm dịu nồng nàn lẽ nào chỉ có trong mơ hồ thức, tĩnh bây giờ. Phải chăng hai đường sắt song song lạnh lẽo, chỉ chạm vào nhau lúc toa tàu gặp nạn nạn chợt dừng. Hay là chỉ khi nào tưởng như sắp vuột khỏi tầm tay, những gì được coi là sở hữu mới hốt hoảng đưa tay níu lại. Có giọt nước mắt nào vừa tràn khỏi bờ mi. Chợt thương người còn say đắm mê mờ trong giấc mơ đời, như thương chính mình chưa thoát khỏi nhiều chướng ngại, trên cuộc hành trình trước mặt. Lời yêu thương có thật, nhưng dường như chỉ thật ngay giây phút đó thôi. Khi nỗi sợ lo không còn hiện hữu, người sẽ quay về đoạn đường gai góc, mịt mờ. Trước mặt là hạnh phúc, sau lưng là đau khổ. Dù biết rõ ràng vẫn không thoát khỏi nỗi đam mê. "Thắng vạn quân, không bằng tự thắng chính mình" Chỉ một câu giản dị nhưng để thực hành không dễ chút nào.

Những giấc ngủ chập chờn, mộng mỵ đêm ngày vì liều thuốc giảm đau cực mạnh thưa dần. Thầm cảm ơn mỗi khi nghe tiếng gọi tên quen, để thoát nhanh ra khỏi vùng tâm thức như sương mờ giăng phũ. Khi nằm yên giống trẻ thơ, nhận sự chăm sóc ân cần từ những điều hết sức bình thường, cảm thấy mang ơn rất nhiều người ở quanh mình. Thấy quý làm sao đôi bàn tay cử động bình thường, đôi bàn chân thong dong những bước đến đi, đôi mắt nhìn lên trang sách thấy chữ không còn nhảy múa, nhìn cỏ hoa, cây lá xôn xao, nhìn mặt người thoáng hiện vui buồn, và hơn hết vẫn là được nhìn lại bầu trời ngập nắng cùng mây hay những cơn mưa...

Mưa đã ngừng theo ngày trở lạnh. Khi rời chỗ nằm, cho đôi chân và bàn tay chạm lại những thân quen, chợt nhận ra năm cũ đã dần qua. Những thăm hỏi ân cần qua những lá thư, những lời nhắc nhỡ, chúc lành qua điện thoại .Những bông hoa ngày tết và hoa mừng người vừa an lành trở về nhà...Tất cả như làm ấm lại mùa đông có nhiều quá những cơn mưa. Chợt mỉm cười nhớ câu quen thuộc, thuờng hay nghe từ đứa em xa. Dù nghỉ bệnh, nghỉ ngơi hay nghỉ vì mất việc, em vẫn cứ cho rằng mình "đang hưởng phước chư Thiên". Ngẫm sao thật đúng với bây giờ. Qua đoạn đời dài, đây là năm duy nhất được đón xuân bằng một tháng nghỉ ngơi. Lòng ấm áp dù giao thừa chưa đến, khi nhận được công thức nấu món ăn đặc biệt dành cho đêm trừ tịch, từ người bạn đạo phương xa.

Công thức nấu cho đêm 30 tết

1. Lấy 12 tháng trong năm đem rữa sạch mùi cay đắng, ghen tỵ, oán thù...rồi để ráo nước
2. Tuần tự cắt mỗi tháng ra 28, 30 hay 31 phần
3. Trộn đều với một chút Tin Yêu, một chút Can Đảm, một chút Hy Vọng, một chút Chung Thủy
4. Ướp thêm gia vị Lạc Quan, Tự Tin và Hài Hước
5. Đem ngâm một lát trong dung dch "những điều tâm niệm của mình".
6. Vớt ra, xay nhỏ, đỗ tất cả vào nồi Yêu Thương và nấu với lửa Vui Mừng.
7. Đem ra ăn với Nụ Cười trong chén Bao Dung

Để có một Năm Mới đầy Yêu Thương và Hạnh Phúc.

Quỳnh My