Tuesday, December 05, 2006

Về đâu, cuối hoàng hôn?

Ngày gió...

Trời bỗng dưng nổi gió. Gió từ đâu cuồn cuộn thổi về nghe mơ hồ có tiếng hú gào cuồng nộ không ngừng. Chiếc xe chao nghiêng trên mặt đường khô khốc. Không nhìn thấy tia nắng nào dọi xuống những hàng cây đang oằn mình trong từng cơn gió lốc cuốn xoay. Đường ra nghĩa trang sáng nay có nhiều chiếc lá chưa vàng lả tả lìa cành.

Xe vừa ngừng, mẹ quấn nhanh chiếc khăn choàng qua vòng cổ gầy gò, xách túi giấy đựng nhang đèn và trái cây bước vội ra ngoài, rồi như cố sức đi nhanh hơn khả năng có thể, kèm lời dặn con đem hoa mới vào cắm lại hai bình hoa ở mộ ba. Một năm đôi ba lần, hai mẹ con làm mới lại mấy bình hoa, bởi mưa nắng làm phai nhanh màu hoa giả. Có khi em gái vào thấy hoa đã bạc màu, chạy vội về mua hoa mới vào thay. Mẹ ra nghĩa trang nhận ra điểm lạ, khi giây phút ấm lòng cảm động qua rồi cũng là khi mẹ muốn nhiều hơn. Thêm vào hoặc bớt ra một vài màu theo ý mẹ. Cho nên cách hay nhất vẫn là chở mẹ cùng đi, và cũng duy nhất một người cắm hoa ở mộ mà thôi. Mẹ sắp trái cây ra đĩa, xong lấy ra chiếc bật lửa mang theo. Khi đốm lửa nhỏ lung linh ẩn hiện, bàn tay mẹ run run mồi bó nhang đen. Làn khói mỏng toả bay trong gió, quyện hương thơm dìu dịu thoảng qua. Mẹ rời chỗ đứng bước ra cắm ba cây nhang đầu tiên vào lư hương trước tượng ngài Địa Tạng. Tiếp theo là những ngôi mộ chung quanh của người quen lẫn không quen. Nàng cắm cúi nâng niu sửa lại từng cành dài, ngắn cho đến khi hai bình hoa tươm tất, ngước nhìn lên hỏi mẹ có đẹp không? Mẹ gật đầu rồi lâm râm khấn nguyện trước mộ cha, trong khi nàng quỳ trên vùng cỏ úa chắp tay lạy xuống. Bằng một cử chỉ đầy nâng niu trìu mến, mẹ chậm rãi cắm xuống ba cây nhang còn lại, xong rời chổ đứng với tay xách chiếc xô nhựa thường mang theo hứng nước tưới cỏ hoa. Những chùm hoa vạn thọ đã tàn, đứa em gái trồng xuống nhiều bụi hoa mười giờ màu tím. Qua hết tháng 11, có nhiều ngày nắng không đủ ấm, những bông hoa nhỏ mới hôm nào nở rộ, xếp chồng lên nhau trên vuông đất hẹp, giờ ũ rũ thu mình lại như chìm vào màu cỏ úa chung quanh. Mẹ dõi mắt nhìn quanh từng ngôi mộ, nói như lời an ủi vỗ về. Mùa này ở đây chỉ còn lại những bông hoa giả đang xô dạt, lắt lay cùng với gió mà thôi. Những sợi tóc bạc của mẹ ánh lên trong nắng sớm, trong nỗi hiu quạnh mênh mông của ngày thứ hai đầu tuần ở nghĩa trang. Không biết tự bao giờ, nàng không còn ý niệm lạ quen, xa cách hay gần gủi, vui hay buồn giữa nỗi mất, còn. Đoạn đường ai rồi cũng sẽ đi qua, và sẽ qua đi. Phía sau tấm bia đá màu xám nhạt, có tên nàng ở khoảng giữa 10 hàng tên khắc cạnh nhau. Nắng cùng mưa, ngày ấm ngày giá lạnh, người mất kẻ còn cùng nhau dầu dãi phong sương.

Ngày cha lìa đời chưa được bao lâu, trong khi chờ kết quả thử nghiệm từ bệnh viện, mẹ và các em nàng buồn bã lo âu, bởi sợ nàng là người nối bước theo cha. Nàng cười với mẹ, thấy bình thản lạ kỳ. Có lẽ nào con sắp được rong chơi miền lạ. Chỉ tiếc là con không nắm trong tay chiếc vé cho chuyến tàu cuối cùng này. Nếu biết trước, con đã xin ba nhích sang chút xíu, cho con nằm cạnh ba mẹ ở chỗ này. Như vậy sẽ tiện lợi cho những lần ra viếng mộ, trong khi chỉ khắc thêm vài hàng chữ nữa mà thôi. Nàng nói thế vì phải mua ba lô đất, mới được phép dựng tấm bia nơi phần mộ của mình. Có chút thênh thang ở nơi yên nghỉ của mẹ cha. Rộng, hẹp rồi cũng hòa cùng cát bụi nhạt nhòa. Không còn gì nữa ngoài những chữ khắc trên mộ chí. Đứa em kế nói em không cần ra nghỉ ở đây, để con gái thêm băn khoăn, ray rứt khi không vào thăm viếng. Nắm tro tàn đem gởi trong chùa, hay rãi ngoài biển rộng cho tan mất dấu, phần em. Không biết tự bao giờ, chuyện sinh tử, mất còn bỗng thật bình thường với chị em nàng. Giống như chuyến đi gần không vướng bận hành trang. Như thở, như ăn, như ngủ. Có chăng là người ở lại buồn. Nghĩ lại, không biết buồn vì thương người xa khuất, hay thương mình mất mát thật nhiều. Nàng hiểu nhờ đâu đứa em nhìn thấy rõ, những vướng mắc tội tình còn lại phía sau. Hơn bốn năm qua mẹ nhiều lần áo não thở dài, kèm theo lời trách nhẹ những đứa con ơ hờ lúc nhớ, khi quên đường trở lại nghĩa trang. Với mẹ cỏ úa, hoa tàn nơi chốn đó cũng làm lòng xa xót hoài hoài. Bàn thờ lạnh khói nhang những lần bệnh nằm vùi là nỗi buồn phiền. Thư cho sư huynh nàng kèm thêm lời nhắn gởi. Hôm nào gọi về thăm, sư huynh khéo léo nhắc mẹ dùm. Đã biết ơ hờ là bệnh chung của lũ con trai, mẹ như còn vướng mắc rồi mai này làm sao thanh thản được.

Ngày cha an nghỉ chốn này, vợ chồng đứa em gái trồng xuống hai cây palm nhỏ hai bên mộ. Nắng nhiều, mưa ít, những lần vào thăm tưới tẫm cho cây cũng vắng thưa. Cây lớn chậm trong khi mẹ dường như không nghĩ mình còn đủ thời gian để kịp nhìn cây lớn. Rồi có lẽ những chiếc lá cứng quanh năm chỉ một màu xanh, không làm lòng mẹ ấm bằng khi ngắm những chùm hoa màu tím hồng rực rỡ, kéo dài từ đầu mùa hạ đến cuối mùa thu ở phần mộ cạnh bên. Chỗ của hai cây palm tội nghiệp, được thay bằng hai cây trúc đào vừa độ trỗ hoa. Đứa em trai vào viếng mộ, nói trúc đào không thích hợp để trồng ở đó. Mẹ cũng nhận ra vuông đất hẹp, và hoa mẹ muốn trồng không phải trúc đào mà là loài hoa có gốc là những nhánh đan vào nhau khẳng khiu, mạnh mẽ nhưng không choán chỗ. Hai cây trúc đào đời ngắn ngủi. Mẹ hài lòng nói đây là lần thay đổi sau cùng. Nàng không giấu nỗi ngậm ngùi, bởi những lần mẹ muốn đổi thay, mấy đứa em đã vô tình đào lên vất bỏ cho cây chết khô đang lúc lá còn xanh, cành còn tươi thắm những bông hoa đang khoe sắc.

Nàng hiểu hơn ai hết tình thương dành cho người đã khuất, bây giờ là bàn thờ ấm áp khói nhang cạnh bên bàn thờ Phật và mảnh đất lạnh lẽo đìu hiu ở nghĩa trang. Mẹ bước thấp, bước cao muốn tự tay tưới nước, trồng hoa trên khoảnh đất nhỏ nhoi, hệt như chăm sóc cho tổ ấm mai sau vậy. Mẹ nhiều khi quên tuổi của mình. Bước chân như muốn chạy mỗi lúc tìm thăm. Sự trìu mến, nâng niu chừng còn sôi nỗi hơn người đàn ông ở lại, hay đem chiếc ghế xếp ra ngồi dưới tàng cây sồi bên mộ vợ trong những buổi chiều tà. Những ngón tay khẳng khiu xanh mướt của mẹ run run, nhổ từng chùm cỏ dại và xới đất nén cho thêm chặt hai cội hoa trồng ở hai bên. Có những lần ra viếng mộ, nhìn đất còn ướt đẫm trong ngày nắng, mẹ mỉm cười khi biết người thân của ngôi mộ cạnh bên chắc mới vào thăm. Không ai dặn dò ai, nhưng khi tưới cỏ hoa vuông đất bên này, người viếng thăm tưới luôn phần đất bên kia. Đôi khi chợt nhìn thấy bất ngờ, trước mộ cha là một chậu hoa cúc vàng tươi. Nàng đưa mắt nhìn sang, nơi mộ mẹ Kimmie cũng có một chậu hoa cúc màu tím nhạt. Người ở lại không còn cơ hội gặp nhau thường, nhưng vẫn gần gủi lắm qua những ân tình dành cho người đã khuất. Lòng chợt ấm, chợt băn khoăn quá. Kimmie bây giờ không biết ra sao? Khuôn mặt có nụ cười đi kèm đôi mắt ướt buồn. Giọng cười trong trẻo ngân dài chuỗi lạnh, như cuộc sống cô đơn, khép chặt tự bao năm. Mỗi lần thắp nhang trước mộ mẹ Kimmie, nàng đều thầm gởi những lời cầu nguyện cho người đã khuất và cả cho người đang truân chuyên, chìm nỗi...

Ngày nắng...




Nàng với cầm điện thoại sau tiếng reo đầu, trả lời bằng giọng reo vui. Con thức dậy rồi khi nghe mẹ hỏi, để mẹ khỏi băn khoăn những lần gọi sớm, ngại vô tình cắt ngang giấc ngủ của con. Hôm nay mẹ muốn đi đâu? Mẹ muốn vô chùa lễ Phật rồi về. Lưng đau, chân yếu mẹ ngày càng không ngồi lâu được. Những ngày tháng sau này anh em nàng không ai dặn dò ai, tất cả đều cố gắng để không từ chối bất cứ lời yêu cầu nào từ mẹ. Sống cho những gì đang hiện hữu trong phút giây trước mặt, vẫn là cơ hội cho mình làm được nhiều điều, trước khi tất cả trở thành quá khứ không làm sao sửa đổi, hay hẹn lần để rồi không thể chạm vào một ngày mai còn ở đâu đâu. Những tháng năm chị em nàng bận rộn với con thơ, chỉ còn đứa em gái nhỏ thong dong, rỗi rãnh. Em giao hẹn trước, chở ba mẹ đi chùa một tháng hai lần. Giờ đây khi những đứa trẻ ngày xưa không còn cần mẹ chúng luôn hiện diện cạnh bên, thì sức khoẻ mẹ ngày càng hao hụt. Mới ngày nào mẹ dìu cha bước chậm ở sân chùa, giờ nàng dìu mẹ đi trên lối mòn quen thuộc cũ. Những ngày đứa em rãnh rỗi đi chung, ba mẹ con vào lễ Phật, xong ra phiá sau thắp nhang lạy thăm cha. Tấm ảnh nhỏ xíu nằm trong khung hình lớn giữa nhiều người quá vãng, ánh mắt mẹ lần nào cũng chậm chạp dò tìm trong lúc chắp hai tay khấn nguyện. Nàng nhắc mẹ. Ba ở hàng số 33, khoảng giữa khung hình. Thỉnh thoảng sau buổi lễ, chị em nàng bắt gặp ông cụ già yếu ớt, đứng tìm giày ở trước thềm, hệt như hình ảnh của cha này trước. Đứa em gái nhanh nhẹn cúi nhặt đôi giày, rồi ngồi hẳn xuống giúp ông cụ xỏ từng bàn chân yếu vô giày xong cột dây cẩn thận. Nàng nhớ cha nao lòng khi đứng lặng nhìn. Chị em nàng đã nhìn thấy cha mình, qua bóng dáng những người cha già yếu. Hình ảnh gần gủi đó rồi cũng mất, bởi một hôm vào chùa nàng bắt gặp vành tang trắng buộc ngang trên đầu người con gái của ông. Cùng tụng với nhau hồi kinh siêu độ, nàng không buồn bởi dù sao ông vẫn hạnh phúc nhiều, khi được sống bên cạnh sự bảo bọc, chăm lo của người thân cho đến lúc ra đi.

Thỉnh thoảng sau buổi lễ, dìu mẹ tới ngồi trên băng đá dưới tàng cây ở vuông sân có hồ nước nhỏ sau chùa, hai chị em nàng rão bước đứng vào hàng chờ lấy phần ăn. Nắng vừa đủ ấm cho mẹ cùng con xúm xít cạnh nhau chung bữa cơm chay. Mẹ nấu ăn ngon, xem đó là niềm hạnh phúc khi tự tay nấu những món mặn và chay cho lũ con trai gái lúc ghé thăm, dù hai bàn tay mỏi và đôi chân nhức nhối, không thể nào đứng được lâu. Vậy mà những lúc vào chùa, mẹ luôn luôn ghé quán chay mua về nhiều món, chia đều cho chị em nàng, như một cách tỏ lòng cảm niệm những tấm lòng của rất nhiều người. Dường như nhiều hơn cả giàn nhân viên hùng hậu của một nhà hàng thật lớn. Nàng không đếm hết có bao nhiêu người phật tử đến làm công quả cuối tuần, để phục vụ bữa cơm chay cho phật tử ở chùa và khách thập phương, bên cạnh công việc chính là bán thức ăn gây quỹ để giữ cho ngôi chùa tồn tại.

ngày lạnh...


Cơn mưa nhỏ tìm về trong nỗi lạnh, người anh chợt ghé thăm mời mẹ cùng đàn em gái đi ăn sáng. Dù chỉ cần ly cà phê nóng, nhưng chị em nàng hăm hở đi liền, bởi hiểu niềm vui của mẹ là những khoảnh khắc mà thời niên thiếu mẹ con nàng thiếu vắng. Riêng nàng, tưởng như chưa từng bước chân ra khỏi mái nhà xưa, mỗi khi gặp gỡ, líu lo cùng với những người anh rất đổi hiền, lúc nào cũng lo lắng ân cần cho mẹ và em. Nhìn mái tóc thưa dần và ánh bạc từng phần của anh mình, nàng vẫn không nhận ra điều gì khác biệt mỗi lúc anh em nàng ở cạnh nhau. Các anh vẫn gọi tên em gái, vẫn thỉnh thoảng thân thiết mắng yêu "con nhỏ này" khi bị phá phách, trêu đùa. Dường như chính mẹ cũng chẳng nhớ ra anh nàng sắp già hay đã già rồi, nên mới đòi chị dâu nàng chở mẹ đi tìm gặp người bạn vong niên, bởi từ khi gặp ông này, anh uống bia trở lại sau mấy mươi năm quên lãng. Sau bữa ăn dành cho những người không quen với điểm tâm bằng tô phở mới nhìn vô đã thấy no, anh hẹn sẽ trở lại buổi chiều để chở mẹ và mấy chị em vào bệnh viện thăm người nhạc phụ. Ngại đường xa, mấy đứa em gái nói anh không cần đón. Chỉ đường cho tụi em đi. Anh lắc đầu. Đang sửa đường nên hơi rắc rối, loanh quanh. Anh muốn đón đưa là vì vậy.

Ngồi chung xe với anh là một niềm vui. Đứa em gái bỗng cất tiếng cười giòn, nhắc lại thuở nào. Em đang nhớ chiếc xe đầy ắp người anh chở ngày mới tới. Em, con nhỏ gầy còm xanh mướt, thảm não chán đời vì như say sóng trong những lúc ngồi xe. Anh đã lắc đầu hỏi lại rằng. Bộ em tính qua đây chạy xe đạp như bên Saigon chắc? Cũng mấy mươi năm rồi, mới được anh chở đi chung giống hôm nay.

Mẹ xa xót nhìn người thông gia nằm bất động, thân xác gầy gò tựa bộ xương khô, được đắp bằng chiếc mền trắng mỏng. Đôi mắt ấy ánh lên tia nhìn buồn bã, khi nghe anh nàng chào, nói có mẹ và các em con đến thăm ba. Hai đứa em và nàng chậm rãi, tự nhiên tới sát bên giường khẽ giở chiếc mền ra, đứa xiết nhẹ bàn tay gầy guộc, đứa bóp bờ vai, đứa đặt tay lên vùng ngực chằn chịt những ống dây. Hạnh Nguyện rưng rưng xúc động, hỏi bác có còn nghe, hiểu gì không? Nếu có, xin bác co những ngón để chạm vào bàn tay của con đây. Em nàng mừng rỡ rơi nước mắt, nói với mọi người bác còn nghe, còn hiểu được mà. Cùng lúc nàng nhìn thấy đôi mắt chớp, lặng lẽ nhìn nàng, nhìn sang bên mấy đứa em. Chợt những giọt nước mắt già nua chảy xuống không ngừng. Nàng vừa đưa tay quệt nước mắt mình vừa vói lấy hộp khăn giấy để lau đôi mắt ấy. Như bỗng nhớ ra điều gì đó, nàng hỏi nhỏ. Xưa, bác có từng niệm Phật hay không? Đôi mắt chớp thay câu trả lời xác nhận. Nàng dặn dò bây giờ không niệm được bằng lời bác niệm trong đầu. Cơn đau nào rồi cũng sẽ qua đi. Chúng con nguyện cầu cho bác luôn giữ được lòng thanh thản. Nhìn bịt thức ăn dinh duỡng chuyền qua ống nhựa, bịt nước biển treo cao cùng những bịt đựng chất thải bên giường, nàng chợt ngậm ngùi trong ý nghĩ, người ta làm tất cả để duy trì sự sống, hay chính là để kéo dài nỗi đau triền miên, tàn khốc ở bên trong?

Chiều chưa hết màn đêm đã xuống. Nàng lấy tờ khăn giấy lau khô đôi mắt ấy, trước khi mấy mẹ con nói lời từ giả ra về, để lại ánh mắt nhìn theo buồn bã phía sau. Hành lang bệnh viện như dài hơn, chợt lạnh nhiều hơn. Phía trước mặt người y công đang đẩy chiếc giường phũ tấm ra màu trắng trên thân người bất động. Có một người vừa chấm dứt nỗi đau dài. Mẹ rời bệnh viện với nỗi băn khoăn tội nghiệp cho người bạn già cùng một toa tàu. Sân ga đã thấp thoáng ngoài xa, chỉ còn đoạn ngắn mà đường sắt như trật nhịp để con tàu chông chênh, nghiêng ngã. Mẹ nói nhỏ, một đời ngang dọc giờ bất lực nằm yên chịu đựng những cơn đau. Không còn cơ hội để làm gì nữa dù rằng còn đang sống, để phần nào bù đắp lại. Rồi sẽ về đâu khi cả thân tâm cùng tan nát, tả tơi? Nàng và đứa em xiết nhẹ bàn tay mẹ. Không hẹn cả hai đứa con gái cùng nhẹ tựa đầu lên bờ vai ấm áp, lòng thanh thản lạ kỳ bởi bên tai, câu lục tự Di Đà mẹ niệm vẳng đưa. Hoàng hôn tắt ngấm khi chưa kịp biết. Đường về xa, bóng tối phũ đầy. Có vài vì sao lấp lánh trên cao. Nàng tin rằng đường về của mẹ rồi sẽ là những nẻo êm đềm, bởi mẹ đã chọn trước cho mình con đường trải dài bằng những câu lục tự không ngừng kể từ khi đời chớm hoàng hôn.


quỳnh my

Wednesday, October 18, 2006

Đàn chim nhỏ

Trời mưa. Tiếng sấm chớp ngang trời khiến giật mình thoát ra ngoài cơn mộng mỵ êm đềm. Bầu trời vẫn đắm chìm trong vũng tối qua màn nước nhạt nhòa bao phũ bên ngoài. Ngày sắp sữa bắt đầu, ướt đẫm và ảm đạm trong mưa. Trời chưa trở lạnh lúc vào thu ở nơi đây. Dường như chỉ có gió trở mùa, xô dạt ngày tháng hạ bằng những cơn mưa tiếp nối.

Bước ra sân che dù đứng với con, có chút gì xao động khi nhìn những cánh hoa vàng mới hôm qua còn rực rỡ trên cành, khoe hương sắc cho mùa thu thêm ấm áp, giờ tan tác rụng rơi nằm chồng xếp lên nhau dưới gió mưa. Mẹ ơi, đàn chim mỗi sáng kéo nhau bay ngang qua đây, giờ đang ở nơi đâu ? Chim có bị đói không , làm sao kiếm thức ăn vào những ngày mưa giống hôm nay? Chú nhóc con nghịch ngợm, làm mẹ thỉnh thoảng điên đầu vì cô giáo gọi tìm, cũng chính là chú nhỏ thưòng hay có nỗi băn khoăn về sự sống của muôn loài ở quanh mình. Tỉ lệ những lần nghịch phá, thuận theo thời gian của từng buổi tối , ngồi lặng lẽ bên mẹ lắng nghe hơi thở vào ra. Rồi một ngày nào con sẽ mĩm cười nhận ra rằng, bên cạnh lỗi lầm thường hay phạm, con được mẹ nắm tay dắt đi những bước chập chững, diệu kỳ trên con đường mẹ chọn để đi. Sư huynh đã có lần nhắc nhỡ rằng, đừng để con trẻ lẫn lộn giữa thực hành thiền và bị phạt khi lầm lỗi. Có tiếng cười nhỏ từ xa vọng lại. Mới đầu, với con trai có thể là được mẹ cho tham gia trò chơi lạ, vậy thôi. Như ngày ông ngoại mất, đêm nào chú nhỏ 7 tuổi cũng năn nỉ xin ngồi cạnh bên lúc mẹ tụng kinh, để được thỉnh chuông rồi vội vàng buông chiếc dùi nhỏ xíu lạy theo cùng với mẹ. Bắt đầu là một duyên lành. Bây giờ 11 tuổi thì con hiểu, vì sao con cần huấn luyện để có thể làm chủ được tâm trí phần nào theo phương pháp ngộ nghĩnh, lạ kỳ của mẹ. Để những ngày thứ năm hằng tuần sau đó, con nôn nao đợi mẹ về, đưa cho coi hai chữ E về hạnh kiểm và bài làm trong lớp, kèm theo nụ hôn và ánh mắt reo vui, thay vì buồn bã nhìn ra phía khác bởi không có sự chú tâm trong lớp học.

Một buổi sáng trước giờ đi học, con trai không cùng ra sân với mẹ mà mở vội cửa nhà xe. Thoáng ngạc nhiên hỏi con cần gì mà hấp tấp chạy vào trong đó, liền bắt gặp vẽ bối rối, tội nghiệp hiện trên nét mặt. Theo ánh mắt lo âu buồn bã của con, tầm nhìn của mẹ dừng lại nơi chiếc thùng giấy mở. Bên trong là một con chim bồ câu lớn, đang nằm xếp cánh im lìm. Người mẹ thoáng bất bình, hỏi vì sao con nhốt chim câu? Không phải con nhốt, mà chiều hôm qua con bắt gặp chim bị thương không bay nỗi trước sân nhà, nên đem nó vào chăm sóc. Con sợ mẹ mắng tội đã bắt chim nên không nói cho mẹ biết. Nhìn con cúi mặt như phạm lỗi, vừa gởi ánh nhìn đầm ấm xót thương đến chim câu, chợt thấy lòng thương cảm rạt rào. Có lẽ nào lòng mình chưa đủ rộng, cho nên con một mình giấu mẹ trãi lòng thương. Bàn tay chạm nhẹ nhàng, mong chim nhỏ không sợ hãi trong lúc được săm soi tìm kiếm vết thương, kèm câu hỏi con đã làm gì cho nó? Con tìm không thấy vết thương nào. Có lẽ là chim bệnh yếu cho nên không bay nỗi. Nghĩ nó có thể bị nguy hiểm trong đêm nên con đem vô để ở đây, cho ăn uống may ra lành bệnh. Con thấy nó nằm trên lối đi dọc theo bờ cỏ. Những người đi bộ quanh xóm ban đêm có thể dẫm lên, mẹ có nghĩ vậy không? Bên cạnh chỗ nằm của con chim tội nghiệp, có vẽ như đang co mình lại đón chờ thêm những tai ương, là chén nước nhỏ và những mẫu bánh mì xé vụn . Con e dè cũng phải, vì đôi lần hai bố con từng bắt giữ, vui đùa cùng chim chóc thật hồn nhiên trước sân nhà. Cho đến khi có tiếng nói cất lên, tuy nhẹ nhàng nhưng cả hai bố con đều hiểu đó là mệnh lệnh: đừng để chim lạc đàn trên đường về tổ của mình. Nhiều khi cũng thấy lạ kỳ. Tự hỏi con chim lạ vì đâu ghé đậu trên vai, để người có niềm vui ưa chơi đùa cùng muông thú dễ dàng giữ lại trong chốc lát. Trước khi chạy nhanh ra chuyến bus sắp dừng, đứa con trai không quên dặn mẹ hãy đặt thùng giấy có chim nằm trước hiên nhà. Chim sẽ bay về chốn cũ khi hồi phục. Chiều, hai mẹ con trở về thấy chiếc thùng trống rỗng ngoài hiên. Con trai nói như tự an ủi chính mình. Có lẽ chim đã khoẻ, nên bay tìm về với bố mẹ, anh em của nó.

Có một người đàn bà, mà ngay lần gặp đầu tiên , đứa con trai đã xiết nhẹ bàn tay mẹ rồi nói nhỏ như sợ người thứ hai nghe được. Mẹ ơi, đó là Bird Lady. Con vừa mới nói gì, hãy nói lại mẹ nghe! Bà ấy là Harriette, mỗi tuần đều ghé qua office của mình để lo cho lũ chim, mẹ có biết không?. Ngạc nhiên và xúc động, người mẹ dắt tay con đến chào kèm một nụ cười. Tôi là Vi- mẹ của Dan. Rất vui, được gặp bà bữa hôm nay. Đáp lại là cái xiết tay nồng ấm, nhưng cả tâm hồn bà dường như đang dành trọn cho đàn chim cả chục con đang ríu rít trong chiếc lồng thật lớn. Tình thương dành cho loài vật có đôi cánh nhỏ nhiều màu bay nhảy tung tăng, đã khiến bà ta quay trở lại nơi này đều đặn mỗi tuần. Rồi như quên đi sự có mặt của mẹ, chú nhỏ và bà Harritte trao đổi cùng nhau về từng đổi thay nhìn thấy từ chim. Những quả trứng vừa mới đẻ trong chiếc lồng ấp nhỏ, bên cạnh vài chú chim mới nứt vỏ chào đời được chim mẹ và cha thay nhau ấp ũ ngày đêm. Rồi như sợ mẹ bị bỏ quên, chú nhỏ quay sang thủ thỉ. Mẹ có biết không? Bố mẹ tụi nó thương nó lắm. Cứ thay nhau ôm từng con chim mới đẻ trong lòng để chăm sóc và bảo vệ, cho tới khi chim lớn gần bằng bố mẹ nó luôn! Nếu mẹ không ở gần quan sát mỗi ngày, thì trên kệ có mấy cuốn sách bà Harriette mua mang tới. Mà mẹ ơi, chắc mẹ không quên chim có từ đâu? Không phải là bố với con mua hay bắt nhốt đâu! Bình thường ít khi nói một câu dài, vậy mà chú nhỏ chợt huyên thuyên, như thay lời cho mẹ đang lặng yên nhìn ngắm lũ chim cùng với người có một tấm lòng. Có lẽ chú bé sợ mẹ quên rồi trách móc, nghĩ hai bố con muốn giam cầm chim ở nơi đây.

Dù không hay giữ lại trong lòng những gì đã qua rồi, nhưng thật khó mà quên lần đó. Ngày đưa đám tang cha, sau khi trở về chùa tụng kinh mẹ đã nói với thầy. Con mồ côi sớm nên không rõ lắm về tục lệ mở cửa mả sau ba ngày chôn cất người thân. Thầy cười hiền, từ tốn bảo rằng. Đừng bắt chuớc làm theo những hũ tục không biết xuất phát từ đâu, không đem lại lợi lạc cho ai và ngay cả chính mình không hiểu rõ làm như vậy để mà chi? Nếu cảm thấy không an lòng thì thay vì đem con gà đang mạnh khoẻ ra hành tội ở nghĩa trang, hãy mua mấy lồng chim ra viếng mộ, rồi phóng sanh hồi hướng cho người quá vãng. Trong hai lồng chim mua ngày hôm đó, có mấy con không phải là loài chim có thể sống ngoài trời. Người bán hàng- một đồng hương tốt bụng, đã ân cần cho mượn hai chiếc lồng và cũng ân cần bảo mua thêm, dù biết rõ mình không có đủ. Cho tới lúc đem chim về chuẩn bị thả hôm sau, nghe người bạn nói coi chừng mang thêm tội vì họ đã bán cho mình những con chim không thể sống ngoài trời. Người vốn mê loài vật bất kể là chó, mèo hay chim chóc chụp ngay cơ hội, giữ lại nuôi mấy con chim cảnh đó. Lồng chim nhỏ biến thành lồng thật lớn, bởi trong số bạn bè có người đã chán trò chơi. Để trong nhà đôi khi quá nặng mùi. Phải lau dọn thường không kể, nhưng chúng ríu rít không ngừng trong lúc mình cần yên tịnh. Ngắm nhìn và vui với tiếng chim trong chốc lát, nhưng tiếng hót của "nàng" nhiều khi cũng đủ rêm mình, thêm lũ chim phụ họa chịu đời không thấu! Nhân số của chim gia tăng thêm nữa, nên chiếc lồng to của người nuôi két vừa từ giả thú vui lụy phiền được mang đến nơi này. Căn phòng trống biến thành phòng chim cảnh, đã lôi cuốn, giữ chân người khách hàng đặc biệt này. Lồng chim thường mở ngỏ. Thỉnh thoảng, những con chim có bộ lông thật đẹp "chạy" lẫm đẫm trên bàn làm việc, hoặc đứng trên lòng bàn tay người đàn ông với vẽ hạnh phúc ung dung, như quên mình còn đôi cánh. Em lại gần đây. Nhìn xem nó rất dễ thương. Đôi cánh mượt mà và cái mặt lém lĩnh, ba gai. Lâu lâu mổ ẩu nhưng thường làm ra vẽ nhu mì lắm. "Thằng anh" nó xấu trai nhưng dễ thương hơn, hay gặm nhấm mà tuyệt nhiên không mổ bậy. Làm sao anh biết con nào "gái", con nào "trai" ? Đứa nào anh, đứa nào em ? trong khi cả cha mẹ chúng đều bằng cở như nhau hết? Lại còn mua thêm lồng ấp trứng, đúng lúc kịp thời nghĩ thật hay! Chỉ nhìn thấy nụ cười hóm hĩnh thay cho câu giải thích. Đứa em gái đi chung bật cười. Kiếp xưa anh chắc là chim. Nhìn người khổng lồ nâng niu con chim nhỏ và trên vai một con khác đậu bình yên, tự hỏi loài chim này sao thích đứng và đi hơn là nhảy và bay? Sự thật không phải vậy. Chỉ vì người nuôi chim ưa mở cửa lồng cho lũ chim thỏa thích rong chơi, nên đôi cánh đã bị cắt đi phần nhỏ. Con trai thầm thì cùng mẹ. Bà Harriette đã mang từng con chim đi cắt cánh dùm cho được an toàn. Trả 5 đồng cho tích tắc mấy giây, là điều sau này không còn tiếp diễn cho người thường tỉ mỉ, nâng niu quan sát. Một tay vuốt ve đôi cánh nhỏ, tay cầm kéo nhấp nhẹ nhàng. Đàn chim rồi thong dong dạo bước ra ngoài. Lại nghe loáng thoáng những lời trêu chọc. Cảnh "chim hót trong lồng" không còn nữa. Có chăng chỉ ở nhà thôi.

Bên cạnh những ngày vui nhìn chim đẻ trứng, ấp yêu đợi nở thành chim con rồi mớm mồi, bảo vệ đêm ngày cho tới khi chim non đủ lông, cánh bay ra dạo chơi quanh, còn có những ngày áo não u sầu cho chú nhỏ. Mẹ ơi, mẹ có biết hôm nay hai bố con đã đem chôn "một đứa" chim con. khi Harriette ghé lại, bà có vẽ buồn hỏi bố sao hôm qua không gọi cho bà biết để đem chim đi bệnh viện may ra còn cứu kịp. Đây là đứa thứ ba đã chết trong đàn chim cũ mới mà bố với con không hiểu vì sao? Nhìn đôi mắt sáng có long lanh giọt nước, người mẹ khẽ vuốt tóc con. Con đã biết đời sống của chim ngắn ngủi hơn nhiều. Nhưng dù ngắn, dù dài. Cách này hay cách khác vẫn là sinh ra rồi mất. Chùi nhanh mắt, chú nhỏ như chợt nhớ, nói cho mẹ nghe điều chú biết lâu nay. Bà Harriette nói với con rằng bà từng nuôi chim một dạo thật lâu, rồi cũng ngừng vì không chịu nỗi đau buồn, mỗi khi đem chôn những con chim. Bây giờ bà chỉ nuôi mèo, nhưng đến đây lần đầu nhìn thấy lũ chim bà có cảm tưởng như gặp lại đàn con.

Người đàn bà một thời nuôi chim đã đến mỗi tuần vài giờ trong suốt mấy năm. Thỉnh thoảng bà đến ngày thường thay vì ngày thứ bảy. Chú bé trai giải thích vì hôm sau là ngày lễ nên bà mang thêm thức ăn đặc biệt cho chim vui lễ. Ngoài nhiều máng ăn và nước lọc treo trong lồng theo khoảng cách thật đều, còn có những món ăn chơi nhìn vô cùng đẹp mắt vì mang nhiều màu sắc, vừa giống trò chơi vừa giống như quà chất đầy trong ngày lễ. Thỉnh thoảng bà xin người bố cho phép bà chở chú bé con đi cùng để giúp bà chọn một món quà, bởi món quà đó dành tặng chú. Nghe con kể rồi chợt hiểu, vì đâu cả bố và con chưa bao giờ nói về bà. Có sự khắn khít không rời từ người đàn bà bản xứ, với đàn chim và đứa con trai. Nói lời cảm ơn không bao giờ đủ. Bà tình nguyện lo cho lũ chim đã đủ nhiều, xin đừng mua quà cho Dan hoài như vậy. Có gì đâu! Đàn chim này với lũ chim xưa tôi nuôi không khác gì nhau. Còn Dan, người bạn nhỏ cùng có tình thương dành cho chim và sự đồng cảm làm cho tôi ấm áp trong chuỗi ngày con cháu đi xa. Niềm vui tôi đem đến cho Dan không bằng nỗi hạnh phúc mà Dan đem đến cho tôi. Đứng nép bên cạnh mẹ, đứa bé trai ngước mắt nhìn lên. Bây giờ mẹ hiểu, phải không? Harriete không giàu nhưng thích tặng quà cho chim với cho con. Mà không phải chỉ ở đây thôi. Những ngày nghỉ bà còn tình nguyện làm việc ở bệnh viện thú y vì đó là niềm vui.

Người mê mãi với nỗi vui trong thoáng chốc, một ngày rồi cũng nhận ra. Chiếc lồng lớn đã chuyền sang tay người khác cùng với lũ chim còn lại vài con. Một chiều cuối tuần chú nhỏ thủ thỉ với mẹ rằng. Harriette đến từ giả để dọn về thành phố khác. Bà đi chuyến bay buổi chiều nay. Người con muốn mẹ về gần đã phải sang đón những chú mèo về nơi ở mới của bà. Hỏi con trai có buồn không, người mẹ nghe câu trả lời thoáng chút ngỡ ngàng. Chim đã mất. Harriette đã thật xa. Bây giờ thì con hiểu. Vì sao mẹ không muốn có nhiều hơn những gì đã có để gần, để thương và để buồn hơn khi mình không còn nó cạnh bên...


quỳnh my

Wednesday, September 13, 2006

Ngàn xưa mây bạc vẫn thong dong

Kính lạy thầy,

Trước mắt con là di bút Thầy để lại, nét chữ thân quen với màu mực còn đậm nét tinh khôi.

Nghiệp đã qua rồi lòng nhẹ nhõm
Ngàn xưa mây bạc vẫn thong dong

Thầy vừa an nhiên xã bỏ báo thân, dãi mây bạc giờ nương theo gió loãng tan mất dấu. Nẻo sinh tử Thầy thong dong qua lại, như đi trên những dặm đường quen để gieo trồng hạt giống từ bi, giáo hóa, độ sinh. Thân bệnh Thầy mang trong những năm tháng sau này, cho con biết rõ vô thường tất đến. Vậy mà nỗi đau đớn, bàng hoàng vẫn khơi động trong con khi đón nhận tin xa, bởi từ đây con vĩnh viễn mất Thầy trong kiếp sống này.

Nơi ngôi chùa xưa mang tên Vạn Đức tại thành phố biển Nha Trang, Thầy- chú bé dường như đã sẵn đủ túc duyên, thế phát xuất gia khi còn để chỏm. Hình ảnh chú điệu mới lên mười với đôi mắt sáng, khuôn mặt thơ ngây như phảng phất vẽ trầm tư của một ngưòi mang chí nguyện nhập thế, nỗ lực tinh tấn tu tập để mai sau phục vụ cho đạo pháp, đem lợi lạc đến quần sanh, đã là nguồn khích lệ vô biên cho con tỏ lòng kính ngưỡng, noi theo. Dấu chân Thầy đã đi qua cùng khắp những ngôi chùa từ Nha Trang đến Saigon, Bình Tuy, Diên Khánh, Tuy Hòa... để tham cầu học đạo và lần lượt thọ giới Sa Di, giới Tỳ Kheo tại những giới đàn ở chùa Hoa Quang, chùa Hải Đức, Hoa Nghiêm.

Duyên lành đưa đến một ngày, cho bước chân Thầy dừng lại ở ngôi chùa nhỏ, đã mục nát tang thương cùng với thời gian trong bối cảnh chiến tranh năm 1972. Sự hiện diện của Thầy như thắp sáng niềm tin vào tam bảo, thu phục ngày càng nhiều những người con Phật tìm về. Nhờ vào oai nghi và đức độ của Thầy mà nhiều bàn tay góp lại, những tấm lòng phụng sự đạo pháp mở ra, tạo phương tiện tu bổ, xây dựng lại ngôi già lam hầu có chỗ tham cầu, tu học cùng Thầy. Cũng ở chính ngôi chùa Thiên Phú nhỏ bé, đơn sơ thuở đó, con có phước duyên được Thầy đón nhận vào.

Thầy kính thương,

Làm sao con nói hết những tháng năm đã trôi qua cùng với nhiều thăng trầm biến đổi không ngừng. Con làm sao quên được, những năm đầu của thập niên 80 như thoáng hiện đâu đây, mỗi khi con nhớ nghĩ về Thầy, về mái chùa xưa. Những bữa cơm đạm bạc được dọn lên mời Thầy, mang vị lạt lẽo hay mặn đắng, mà Thầy trò đã san sẻ cho nhau qua sự nấu nướng vụng về của ba chú điệu chưa đến tuổi thành niên. Mặc cho mưa nắng dãi dầu, trên con đường có bụi đất mịt mù hay lầy lội ướt trơn, Thầy và các đồ đệ nhỏ đã oằn mình trên chiếc xe đạp mong manh chở trầm hương, hay những bao lá khuynh diệp, lá tràm khi không còn tiền mua trầm về xay để làm nhang độ nhật và mua hoa đèn về cúng Phật. Nửa đêm, Thầy còn đạp xe đạp, tay cầm chiếc đèn pin, lang thang cùng khắp trên những con đường ngập bùn xình để đi tìm đứa đệ tử xay trầm chưa thấy trở về. Nhà máy cúp điện phải đi xa hơn nữa và bánh xe bể lốp giữa đường đêm, thật không còn sự chọn lựa nào, bởi cả thảy Thầy trò bằng mọi cách phải có hương liệu để trộn vào mọt cưa, lăn thành cây nhang trong buổi sớm mai, sau đó phơi khô, gói lại đem đi bán. Cơm không đủ no, áo không đủ ấm nhưng đó là những tháng năm ấm nồng tình thương và đạo pháp mà Thầy đã ban cho, đã dụng công dạy dỗ, luyện rèn các môn đồ. Khi không còn khả năng mua được trầm hương, Thầy đã tìm đến chùa Thiền Quang để xin hòa thượng trụ trì lá cây khuynh diệp trong đất chùa về làm hương liệu. Lá khuynh diệp rồi cũng hết, xuôi bước chân Thầy đi xa hơn về phía Sông Lô, nơi có rừng tràm bát ngát tỏa mùi hương dìu dịu. Lá tràm khô xay nhuyễn trộn làm nhang. Con biết thêm điều lạ, và cũng từ chính nơi Thầy, con học hạnh nhẫn nhục và tinh tấn không ngừng, qua việc làm độ nhật hằng ngày.

Bài học vỡ lòng cho con mở mắt, thấy mình là một với thiên nhiên. Những nhọc nhằn trong công việc hằng ngày như không thực có, bên cạnh Thầy và cảnh trí nên thơ, hùng vĩ của Sông Lô. Biển pháp mênh mông trước mặt. Bóng Thầy là dáng núi lặng lờ, sừng sững uy nghi ở phía sau lưng như chở che con từng mỗi phút giây. Thầy nghiêm như núi, lòng bao la từ hòa như sóng biển rì rào. Con có thể an tâm vừa làm việc vừa tận dụng không bỏ sót một khoảnh khắc nào để tu tâp trong chánh niệm. Thầy lặng yên mà như đang giảng cho con nghe bài pháp không lời. Con chợt biết mình có phước duyên rất lớn khi được cận kề bên cạnh ân sư, tấm gương ngời sáng để con noi theo từ thuở mới vào chùa và cho đến hết đời này.

Công hạnh và oai nghi Thầy thắp sáng, phật tử tìm đến chùa ngày càng nhiều nên việc phật sự càng trở nên bề bộn. Bên cạnh sự giáo dưỡng nghiêm từ, Thầy không ngần ngại tạo cơ hội cho đệ tử tham cầu, du học nơi xa, dù biết rằng mỗi khi một đệ tử rời chùa, phần Thầy sẽ gánh vác nhọc nhằn hơn. Quen nép dưới bóng Thầy như đứa con nép bên bóng mát tình thương của người cha, con nghĩ Thầy luôn cảm nhận được lòng quý kính, thương yêu đáp lại, dù có thể Thầy không nhìn Thấy giọt nước mắt âm thầm đọng lại, khi đứa học trò từ biệt xa Thầy, xa ngôi chùa hằng ấp ủ những năm tháng được cùng Thầy sẻ chia từng chút khổ vui. Thầy ở lại sau khi giáo dưỡng và ươm trồng hạnh nguyện, cho con làm hành trang tiếp tục đi trên cuộc hành trình mà Thầy đã và đang đi để tự độ và độ tha, giác ngộ và giải thoát. Những trường lớp từ Phật học cơ bản, cho đến trung cấp và cao cấp Phật học, đã đẩy đưa trôi giạt đệ tử của Thầy xa mịt mù xa. Lòng con có lúc thoáng ngậm ngùi, bởi không còn đường để trở về thăm viếng, vấn an, kề cận chăm sóc Thầy khi bệnh yếu.

Thầy kính thương,

Dù ở tận bên này bờ đại dương xa thẳm, mỗi lúc nghĩ về Thầy con luôn thấy ấm lòng. Chạnh thương Thầy với thân bệnh hoành hành, nhưng không ngừng nghỉ trong nỗ lực kêu gọi, vận động xây dựng nhằm phát triển và mở rộng ngôi chùa Thiên Phú hầu phật tử có nơi tu học, tăng thân có chốn nương thân, đem chánh pháp trao truyền lại cho những người con Phật. Thầy cũng không quên việc tổ chức gầy dựng gia đình Phật tử, tạo môi trường cho những người trẻ gieo trồng hạt giống bi, trí, dũng làm hành trang vào đời với đầy đủ trí tuệ, từ bi. Tuệ Tĩnh Đường trong khuôn viên chùa cũng được hình thành, để những người dân nghèo quanh đó được khám bệnh và bốc thuốc hoàn toàn miễn phí. Đôi tay thầy ngày càng yếu nhưng chí nguyện Thầy bền vững, kiên trì để có được ngôi chùa Thiên Phú rộng rãi, uy nghi giống ngày nay. Tu viện Phước Sơn được hình thành vào năm 2000 cũng là do tâm nguyện hằng ấp ũ của Thầy, để Phật tử quanh vùng có nơi quy tập, tìm về nương tựa bên ngôi tam bảo. Từ đó những người hữu duyên có cơ may được dắt dìu đi vào đạo lộ của hành trình vượt qua bể khổ tử sinh.

Với 59 năm trụ thế, và 49 năm nhập đạo, Thầy không ngừng cống hiến, phụng sự đạo pháp cho đến giờ phút sau cùng dù thân bệnh hoành hành. Đạo tràng Pháp Hoa từ đây vắng bóng Thầy, chúng đệ tử chừng ngơ ngác, bởi quen chờ để được nghe từng thời pháp của Thầy. Quyễn Kinh Nhật Tụng Thầy biên soạn năm nào còn vang âm hưởng, làm thương tiếc ngập lòng người ở lại mỗi khi đọc tụng. Đường trần Thầy vắng bóng từ đây, nhưng dưới mái chùa Thiên Phú Thầy vẫn luôn ngời sáng, luôn hiện diện trong tâm tưởng của hàng đệ tử xuất gia lẫn tại gia. Tháng Bảy, năm nhuần, muà Vu lan báo hiếu con mất thầy vĩnh viễn từ đây.

Thầy kính thương,

Ngôi chùa Thiên Phú yêu thương hằng ấp ũ một thời con nép dưới bóng Thầy, hay tu viên Phước Sơn mà Thầy đã bỏ nhiều tâm sức ra gầy dựng, dường như thoáng có, thoáng không. Với con, di bút Thầy để lại là cả tấm lòng vì đạo pháp một đời. Một đời hành đạo của Thầy gói ghém lại bấy nhiêu cũng đủ cho con. Làm sao có thể đáp đền ơn muôn một của ân sư đã giáo dưỡng cho con muôn kiếp thoát tử sinh, làm ánh đuốc sáng dẫn đường cho con tiến bước. Tủ kinh sách và chỗ ngủ đơn sơ trong căn phòng nhỏ, là tất cả những gì Thầy có bên mình trong cỏi tạm này. Chút trăn trở, băn khoăn còn lại, Thầy bình thản an bài, sắp xếp mọi điều để chúng đệ tử thừa hành, tiếp tục sứ mạng truyền đăng tục diệm sau khi Thầy trả lại báo thân.

Hướng về phương trời xa, một lạy này con kính cẩn dâng Thầy. Ngưỡng nguyện noi gương ân sư con sẽ vì lợi ích của muôn loài mà tu tập, hành trì để tự độ và độ tha. Thầy dù ra đi nhưng mãi mãi vẫn bên con, như dãi mây bạc thong dong qua bầu trời rộng. Con tin rằng Thầy sẽ chọn sinh tử làm chốn đi về, trong hạnh nguyện hội nhập ta bà, phổ độ quần sanh.


Nguyên Thảo

Thursday, August 31, 2006

Tuổi thơ

Những cơn mưa kéo về qua thành phố, làm chợt nhớ mưa Saigon một thuở hẹn hò. Bên này là một người đứng nép dưới hiên mưa. Góc phố che không đủ cho nên tóc ướt và áo ướt. Bên kia nhìn nắng mà trông. Gặp nhau, người bỡ ngỡ chừng như mới gặp lần đầu, người nhìn nắng quái tựa đang trêu đùa, nghịch ngợm. Lùa ngón tay làm lược tách rời những sợi tóc ướt mưa, chợt nghĩ khoảng cách gần quá đổi mà nắng mưa sai biệt, như người đến từ đầu sông gặp kẻ cuối sông.

Trời tháng tám ở đây không đếm hết, những buổi sáng có nhiều giải lụa mềm màu xám vắt ngang trời. Nhìn mẹ mở nước tưới cỏ hoa trước sân nhà, đứa con trai nhỏ khẽ nói. Con nghĩ mẹ sẽ tiếc vì mưa đến hôm nay. Mưa không về ở phía bên này. Mưa ào về vội vã trên đường đi đến sở. Những con đường mờ mịt nước khiến đoàn xe nối dài chậm lại chờ nhau. Qua khoảng ngắn chỉ còn lại dấu tích một vài vũng nước, theo nắng ngấm tan mất dấu. Cô bạn dọn về từ thành phố lạnh, chừng như thấm dần mùa hạ đầu tiên ở nơi đây. Thành phố rộng thênh thang mà giống lạ kỳ ở bên nhà. Thoáng mưa, thoáng nắng làm giật mình không nhớ nỗi hôm nay trời mưa hay nắng?. Chiều tan sở trở về. Hỏi con mưa có về qua đây? Đứa con trai 17 trả lời như chẳng trả lời. Con có nghe tiếng sấm bên ngoài nhưng không biết chắc. Mẹ coi ngoài sân có ướt hay không? Khung cửa sổ bên cạnh chỗ con ngồi sau lúc ở trường về, dường như có cũng như không. Những bài làm ở nhà luôn hoàn tất thật nhanh, để gặp gỡ, vui đùa, viết và làm thơ gởi cho nhau cũng chỉ một nơi. Đất trời, mưa gió bên ngoài mặc tình đến và đi. Không gian, thời gian của riêng con bây giờ dường như gom lại, bằng đôi mắt dán chặt nơi màn hình nhỏ.

Năm nay, ở góc đường trước sân nhà, chỗ chiếc bus màu vàng ghé lại ngó buồn hơn những năm qua. Hết mùa hè, cũng là qua hết những năm làm học trò tiểu học, cô bé Tàu đứng thơ thẩn một mình đợi chuyến bus mang số 17 từ từ dừng lại. Hình ảnh hai mẹ con ngồi thủ thỉ ven bờ cỏ trong ngày nắng, hay đứng sát vào nhau che chung một chiếc dù những ngày mưa, giờ đã trở thành quá khứ thật xa. Cô bé là đứa con duy nhất, nên vòi vĩnh đủ điều vì biết mình luôn được chiều theo. Mùa lạnh, cô muốn người mẹ phải lái xe ra đậu nép bên đường dù chỉ cách một vuông sân. Hai mẹ con ngồi trong xe cho tới khi nhìn thấy chiếc bus màu vàng chạy tới thật gần. Mùa nóng, có ngày cô bé cũng chối từ ngồi cạnh mẹ ở góc đường, vì những con muỗi vo ve rộn phiền cô. Hai mẹ con ngồi lặng lẽ trong xe, cho tới khi đứa con gái mở cửa chạy nhanh, lẫn vào những hàng ghế dành cho lũ học trò chung xóm, chung trường trên chiếc bus mang con số 4. Một đôi lần trong mùa lạnh, nhìn con đứng co ro người mẹ thoáng xót xa. Mẹ đã nhắc con mặc quần dài. Đáp lại là câu nói nghe ra không đượm chút hồn nhiên như tuổi của con. Áo quần của con, con chọn mặc chứ không phải mẹ! Chiếc váy ngắn trong ngày gió lạnh, là sự chọn lựa riêng của đứa bé con, không có chỗ cho người mẹ. Những câu đối thoại giữa mẹ con theo ngày ấm lạnh, theo tháng và năm cũng đổi thay nhanh. Có chăng một điều khó đổi dời, là tấm lòng của mẹ dành cho con bất kể. Chợt nhớ, câu nói của T, người một mình vừa làm cha vừa làm mẹ của ba đứa con đang tuổi lớn. Biết sao hơn! Trẻ con bên này chỉ thiếu một điều là "sự thiếu thốn" mà thôi. Chúng đầy đủ quá, cho nên hoang phí từ vật chất tới tình thương. Chợt nghĩ, cô bé Tàu rồi một ngày thành thiếu nữ tuổi 15, 16. Duyên dáng, mượt mà như một nụ hoa. Chiếc miệng xinh xắn đó biết đâu chẳng có lần gào lên giận dữ, chỉ vì một điều hết sức bình thường. Quần áo của con, con chọn. Thân thể của con, con tự biết, không cần mẹ dính dáng vô! Những câu nói tương tự của con dành cho mẹ, bỗng đâu như thuộc lòng vì một đôi lần nghe được tình cờ. Người mẹ là cô giáo, là hiệu trưởng trường trung học, đã đau khổ nuốt buồn khi đứa con gái phản ứng giận dữ cuồng điên, sau câu nói ngọt ngào của mẹ. "Đêm nay, con sẽ mặc chiếc áo mẹ dắt con đi mua tuần rồi chứ?"

Ở bên này con đường đối diện, chú nhỏ 11 tuổi dường như cũng đổi thay theo. Chú ngại ngùng không bước qua đường, đứng gần đứa con gái bằng tuổi nhưng khác lớp đã nhiều năm cùng đi về chung chuyến bus. Đứa con gái một thời thân thiết, chú đã từng nài nỉ mẹ xin được sang nhà chơi chung với nó sau lúc ở trường về. Một đôi lần cô bé con vòi vĩnh bố chở tới trường, đã không ngần ngại bảo người cha ngừng xe lại để chở luôn đứa bạn chung xóm đang đứng chờ bus tới. Cô bé ấy bây giờ, không cả bằng lòng cho mẹ đứng trước sân nhà ngó dõi theo con. Cũng như chú bé trai bỗng dặn dò. Mẹ đứng bên này tưới cây hay làm gì cũng được. Đừng theo qua với con khi bus đến nha! Dù sao chú vẫn còn gởi nhanh cho mẹ một nụ hôn, kèm hai tiếng ngắn "bye mẹ" trước khi chạy băng qua đường leo lên chuyến bus, nếu cô láng giềng đứng bên kia đang quay mặt nhìn sang hướng khác.

Nghe dặn dò mẹ đừng quên mua gel bôi tóc cho con, người mẹ biết con từng ngày thay đổi. Một lần từ nhà bà ngoại trở về , chợt nghe con nói nhỏ khi xe chạy ngang qua xóm cạnh bên. Mẹ ơi, mẹ có biết nhà ai ở đây không? Câu trả lời là cái lắc đầu. Mẹ không quen biết ai ở khu nhà này hết. Là nhà Lynn, mẹ có biết không? Lynn là ai? Có phải bạn chung lớp của con? Không phải. Lynn không chung lớp. Lynn là "future wife" của con đó mẹ! Thoáng quay nhìn vẽ mặt chân thành quá đỗi của con, người mẹ kịp dừng lại tiếng cười giòn thay cho nỗi ngạc nhiên thú vị. Điều gì làm con nghĩ, Lynn sẽ là người vợ mai sau? Con biết chắc chắn điều này, vì con lắng nghe từ trái tim con. Nhưng con có biết là con có thể sẽ mất Lynn, nếu như nó nghe được điều con vừa nói. Con đâu có nói cho nó biết, chỉ nói cho đứa bạn thân nghe. Con tin rằng bạn con giữ kín chuyện này, vì nó hiểu và tỏ ra muốn giúp con.

Qua hết mùa hè, đứa con trai vào lớp 6- là năm học mà mẹ chú thuở xưa bắt đầu mặc áo dài, nhưng vẫn còn cùng lũ bạn chơi trò chơi không dành cho những người mặc áo thưót tha. Ngày đó, mẹ chú cho rằng đám con trai học chung là lũ trẻ con lớn chậm, bởi dường như ngây ngô hơn lũ con gái cùng chung độ tuổi, cho nên không mắc cỡ, e dè khi tham dự trò chơi của trẻ thơ trong những năm mới bắt đầu làm học trò trung học. Vậy mà chú nai con ở đây đã sớm mộng mơ. Chú mặc thử áo quần đi học, đứng trước gương tự ngắm nghía mình rồi tiu nghĩu tới bên hỏi mẹ. Có phải con cần xuống cân để nhìn thấy được hơn? Mẹ chú gật đầu. Mẹ đã nhắc con rồi. Mùa hè phải cẩn thận vì con hơi thụ động nên sức nặng đi nhanh không đợi chiều cao. Vậy mẹ giúp con giới hạn những bữa ăn. Người mẹ ngạc nhiên thật sự, khi thấy con ăn rau nhiều và thoáng ngập ngừng rồi nhiều lúc chối từ một vài món ăn từng ưa thích lâu nay.

Một đêm, nhận từ con chiếc hôn kèm lời chúc ngủ ngon, người mẹ như chợt nhớ điều gì, khẽ hỏi ngọt ngào. Con có còn nghĩ rằng Lynn là người vợ tương lai? Chú nhỏ gật đầu. Dạ, mẹ không chút đắn đo. Nhưng con có còn gặp nó hay không? Câu trả lời là cái lắc đầu cùng ánh mắt thoáng buồn, khác với vẽ hân hoan thường có. Hãy kể mẹ nghe bất cứ điều gì dù vui hay buồn. Con đã biết mẹ luôn luôn là người có thể chia với con tất cả buồn vui. Thì tại cả hai cùng bận rộn hơn. Bận gì? Năm nay con cũng đi học như năm rồi. Thì...tại con không được ngồi chung bus, cũng không có lớp nào hai đứa học chung.

Đêm sau, chú nhỏ chợt khoe. Mẹ ơi, con vừa mở riêng một hộp thư. Vừa nói, chú vừa nắm tay người mẹ tới cạnh bên bàn phím. Những ngón tay gõ chữ ngập ngừng, đôi mắt tròn to đầy ngập nỗi hân hoan. Thoáng nhìn, là tên hai đứa ghép chung. Người mẹ mĩm cười, khẽ nói với con. Tương lai là điều chưa xãy ra, chưa nắm bắt nên không phải thật. Điều có thật và nên làm ngay hiện tại là con phải đọc sách, phải làm bài vỡ ở nhà. Vào trường cũng vậy, nhất là thôi nghịch ngợm. Như vậy mới chứng tỏ rằng con đang cố gắng trở thành một người lớn hơn đứa nhỏ năm rồi. Rồi mẹ sẽ chỉ cho con thấy rõ, mọi thứ, mọi điều đều thay đổi không ngừng. Không những ở quanh con mà ngay cả những suy nghĩ ở trong con cũng đổi thay. Thì con biết con đã lớn. Mẹ không thấy hai tuần lễ vừa qua của năm học này con không phạm lỗi nào sao? Vậy đêm nay mẹ có thể cho con ngủ ở đây không?


quỳnh my

Friday, July 14, 2006

Hạ xưa



Tôi đẩy cánh cổng khép hờ bước vào khoảnh vườn nhỏ sau nhà em gái. Chiều cuối hè nắng nhạt dần. Mẹ đang cắm cúi tưới giàn bầu còn sót lại những trái muộn. Tôi bước nhẹ tới gần. Lòng xúc động, bồi hồi khi nhìn thấy trên giàn, giữa những chiếc lá màu xanh nổi bật trái bầu đã ngã sang màu vàng úa. Tôi bâng khuâng hỏi. Mẹ định giữ lại làm trái bầu khô có phải không? Mẹ tôi lặng lẽ gật đầu. Ngay lúc đó, trí nhớ tôi như chắp cánh bay về muà hạ cũ.

Năm đó, lẫn trong đoàn người chạy loạn, có Ba mẹ, dì dượng tôi và 6 anh em. Tôi, đứa con gái bình thường tròn trịa nhất nhà, đã trở thành gánh nặng cho cha tôi bởi cơn bệnh đến không phải lúc. Tựa đầu lên đôi vai rắn rỏi của cha, tôi nhắm nghiền đôi mắt để cha tôi dìu đi trong khi bom đạn thét gào làm rung chuyển cả bầu trời. Khi đoàn người lết thết chạy tới cửa ngỏ ra vào tỉnh lỵ ở Chà Là, là lúc tôi kiệt sức nằm dài dưới gốc cao su. Cơn sốt đến và cơn khát đến, nhưng không tìm đâu ra một giọt nước. Lúc rời nhà trong lửa khói vây quanh, xác người rãi rác khắp cùng, mẹ tôi làm sao nhớ ngoài một ít gạo với lương khô mang theo, nước là thứ cần hơn hết. Tôi chập chờn với ý nghĩ sự sống và nỗi chết cách nhau đâu có bao xa. Chỉ cần một trái đạn pháo rớt ngay đây, xác thân tôi rồi sẽ giống như nhiều người nhìn thấy trên đường, nát vụn bay khắp chốn để mai này thành phân bón những cội cây. Nhưng tôi vẫn sống và giật mình tĩnh hẳn khi nhận ra những giọng nói mang âm hưởng nặng nề rất đổi lạ tai. Nhìn lên là nón cối. Ngó xuống là dép râu. Cuối cùng chính mắt tôi đã nhìn thấy họ lần đầu tiên trong tâm trạng sợ hãi, rã rời, tuyệt vọng. Ruột không ai cắt mà đau. Dượng tôi và người anh trai, cùng với đám trai tráng đàn ông bị họ tách riêng vì cần thêm nhiều tấm bia đỡ đạn cho biển người ồ ạt tràn vào tỉnh lỵ. Dì tôi thét gào man dại giữa những lần ngất xĩu tội tình. Dì quì xuống trên xác lá, giữa rừng cao su hoang tàn xiêu đỗ ngã nghiêng, vừa van lạy người sống, vừa cầu khẩn kêu thương trời Phật. Đáp lại lời bi thương tuyệt vọng, là những câu đanh thép lạnh lùng của đám người "sinh bắc- tử nam" thuở ấy. Ngoài mấy chữ đứt từng đoạn ruột, tôi không biết dùng lời nào để nói lên tâm trạng của mình. Thà rằng tử biệt, có lẽ không đau bằng khi đứng lặng nhìn theo, bóng dượng và anh tôi bước lui dần, càng lúc càng xa khuất giữa rừng cao su thăm thẳm bạt ngàn bên cạnh những chiếc nón cối, cho cảm giác của tận cùng sợ hãi. Cùng một tiếng nói màu da, mà sao có cảm tưởng như họ là những tên đao phủ, được hung thần phái đến đoạn lìa sự sống của nhiều người. Tôi chợt nhận ra, thân phận con ngưòi nhỏ nhoi tội nghiệp biết dường nào. Bất lực và mong manh quá. Trời thật xa và đất quá dững dưng. Ba mẹ tôi như hoá đá khi đứng nhìn dượng và anh tôi cùng những người chung cảnh ngộ đi dần vào nỗi chết. Năm đó, dượng tôi còn rất trẻ và người anh hiền như đất của tôi chưa đầy 17 tuổi.

Trên bờ vai chất ngất khổ đau của người cha, tôi tiếp tục lê bước trong cơn khát đến tột cùng. Dường như khi nhận biết không còn gì để mất nhiều hơn, thì lẽ sống và nỗi chết không làm mình sợ hãi. Mặt trời mùa hạ vẫn uy nghi chiếu rọi những tia nắng nung người làm thiêu đốt bầu trời đang dậy lửa đó đây. Tôi không còn sức để đau xót lặng nhìn những bàn chân phồng nước, dộp bể đang lê lết trên đường nhựa. Những đôi dép chẳng may bị đứt, là nỗi oan khiên trên đường chạy loạn ngày xưa. Cũng may cho tôi và đàn em nhỏ, không quăng luôn giày dép trong cơn hoảng loạn. Nhiều người đã quấn hai bàn chân bằng chiếc áo, nhặt vội vàng bên cạnh những xác người. Lẽ ra, mỗi đứa trẻ phải mang theo một bình nước, thì chị em tôi nhét đầy áo mới trong những túi đeo vai. Tuổi thơ dường như không biết đến chiến tranh, dẫu lẫn trong tiếng ru của mẹ đêm đêm là tiếng đại bác từ xa vọng lại.

Thương nhất vẫn là đứa em gái út. Mới năm tuổi mà em đã có sự cảm nhận, sẻ chia tất cả những gì xãy ra ở chung quanh. Đói khát, sợ hãi và nỗi khổ đau trước cảnh chia lìa khiến mọi người như kiệt sức, vậy mà em- đứa bé mới lên năm vẫn lặng lẽ nắm tay mẹ lúc chạy, lúc đi bình thản như không. Lúc đó những câu nói thơ ngây, chân thành tuyệt nhiên không bật ra từ đôi môi thơ dại, mà cả nhà vẫn quen nghe và âu yếm trêu em, là con đồng bào Thượng, được ba mẹ xin về nuôi để khỏi bị ở trong rừng. Lẽ ra em đã được cõng trên vai nếu như cha chẳng dìu tôi. Tuổi thơ của em có nhiều gắn bó với những người Thượng sinh sống trong rừng ven tỉnh lỵ. Mùa bắp đến, người đàn bà Thượng đeo chiếc gùi chất đầy bắp sau lưng, đi chân đất từ nương rẫy thật xa tìm đến nhà tôi. Dù cả nhà chỉ ưa ăn những trái bắp nếp luộc nóng hổi, hạt đều, dẽo và thơm lừng nhưng mẹ vẫn ưu ái đỡ chiếc gùi, nhận hết những trái bắp đá hột to, luộc hoài vẫn cứng và khô. Mẹ không trả tiền mà đổi lại bằng muối và gạo trắng, để sẻ chia nỗi lam lũ, nhọc nhằn của một đời cơ cực trên rừng. Bé út khi ấy chừng bốn tuổi ngồi lặng nhìn, quan sát thật lâu. Đợi người đàn bà mang gùi đi khuất xa rồi, bé lên tiếng hỏi vì sao mẹ cho bà ta nhiều vậy? Mẹ cười chưa kịp trả lời, tôi và những đứa em khác cùng trêu em gái nhỏ. Mẹ tốt với bà, vì bà đã tặng con là Út để mẹ nuôi. Em tôi bối rối hỏi có phải thật vậy không hở mẹ? Mẹ trả lời bằng một nụ cười. Đâu ngờ sự trêu đùa vô tình đã làm khốn khổ em tôi suốt một thời gian. Không ai nghĩ đứa bé mới lên bốn đã biết nhận xét sự khác biệt quá nhiều giữa những người ở rừng và phố thị. Cho tới một ngày, khi nghe mẹ tôi kể chuyện với người bà con, ngày sanh bé út mẹ bị băng huyết ngỡ đâu đã chết bỏ lại con... Em gái nhỏ chạy tới sà vào lòng mẹ, nói nghe tội nghiệp làm sao. Con là con của mẹ, chứ không phải con bà Thượng. Nhìn đứa em gái ngây thơ mừng rỡ, kèm theo những giọt nước mắt còn đọng lại trong đôi mắt thật to, mẹ và chị em tôi thương xót, ăn năn. Đâu ngờ câu nói đùa vui trong chốc lát đã đè nặng lên tâm hồn thơ dại. Bây giờ sau mấy mươi năm, bé út ngày xưa vẫn còn trong rất nhiều câu nói thật lòng đến độ không ngờ. Anh tôi có khi vừa bực, vừa thương. Anh nói út vẫn là em bé con đồng bào Thượng, dù được nuôi trong thành phố và lớn lên ở xứ sở văn minh bậc nhất nơi đây!

Tôi khép mắt lê bước theo vòng tay dìu rời rã của cha tôi. Quanh đó những âm thanh ghê sợ của vùng đất chết vẫn không ngừng cuồng nộ. Trong tôi, đường như không còn cảm giác sợ hãi hay hy vọng. Bình thản đến lạ lùng khi nghĩ dẫu bỏ thân ở lại giữa rừng, thì tôi rồi sẽ gặp anh tôi nơi cõi chết- người anh hiền lành mà tôi luôn để ý, chở che dù chỉ là em. Bỗng đâu như có phép lạ xãy ra. Trước mắt cha con tôi, một người đàn ông đi xe đạp bỗng dưng dừng lại . Trên chiếc xe đòn dông cũ kỹ, lủng lẳng trái bầu khô bên cạnh ghi đông. Người đàn ông có nước da đen bóng, mình trần trụi giữa nắng hè thiêu đốt thịt da, trao cho tôi những giọt nước cam lồ đựng trong trái bầu khô. Tôi kê bờ môi khô nứt, uống vội vàng những ngụm nước mát ngọt ngào, tưởng chừng như người đàn ông trên mình không có gì hơn ngoài một tấm khố mong manh, chỉ đủ che chút xiú phần dưới bụng, là đức Quán Âm thị hiện, vì lòng từ bi cứu khổ chúng sanh. Đưa trả lại bầu nước mát, cho tới lúc này tôi mới nhìn ngắm kỹ càng người đã cứu mình. Đó là người đàn ông Thượng trung niên, có mái tóc đen xoăn tít, hàm răng trắng và đôi mắt sáng trên khuôn mặt hiền lành chân thật. Rồi theo lời Ba tôi bảo, tôi ghé ngồi lên phiá sau chiếc xe đạp đòn dông, trong khi quanh đó khói lửa, đạn bom vẫn không ngừng rơi rớt. Ngồi nép mặt sau bờ lưng đen bóng, cảm nghe hạnh phúc còn hơn những lần Ba tôi chở cả nhà đi nghỉ mát nơi xa. Chở tôi một đoạn đường dài, coi như tạm tránh xa vùng lửa đạn. Người đàn ông Thượng dừng xe cho tôi bước xuống, không nói một câu, lặng lẽ quay trở lại để chở từng người trong gia đình tôi kẻ trước, người sau cùng đến một nơi. Khi Ba tôi có ý muốn tạ ơn, ông nói hồn nhiên là không cần gì ngoài một ít muối bây giờ. Mẹ tôi xa xót vì không có thứ này, xin được tặng chiếc nhẫn vàng đang đeo ở ngón tay, mong lúc bình yên người của chốn núi rừng sẽ có cơ hội ra quận lỵ đổi lấy những thứ cần dùng trong cuộc sống.

Người tá điền của cha tôi có chiếc xe lam từng chở lúa gạo bao năm, đã ngoảnh mặt làm người lạ khi cha tôi cần giúp. Dì tôi bất bình, cay đắng trước tình người, trong khi cha bình thản coi như không có. Thi ân bất cầu báo là cách mà cha đã sống từng ngày ở trong đời. Trong hoạn nạn thường rất dễ nhận ra, người hết lòng chia sẻ khổ đau, bất hạnh chung. Người chỉ thấy sự sống của mình và nguời thân là trên hết. Chiếc xe lam tưởng bình yên xuôi về đất hứa. Đâu ngờ đã nát tan mất dấu cả xe và người vì những trái mìn ẩn giấu dưới lòng đường. Cha tôi thở dài niệm chú vãng sanh. Mong người không còn quay trở lại cảnh trầm luân của kiếp người vui ít, khổ nhiều.

Theo đoàn người chạy loạn, cả nhà tôi dừng chân nơi vùng tạm chiếm Tân Khai. Hoang mang, lo sợ hơn bao giờ bởi họ hoàn toàn kiểm soát nơi này. Muối trở nên hiếm quý khi cần nấu những bữa ăn tạm bợ trên đường chạy loạn. Miếng thịt heo vừa xẻ trong làng cùng những trái xoài xanh hái trên cây, mẹ phải đổi bằng vàng mới có. Không thể kho thịt bằng nước lã, hay nấu nồi canh bằng cách luôc những trái xoài non. Lần đầu tiên trong đời, tôi ăn bữa ăn ngồi bệt trên nền đất, với thịt kho muối và tô canh xoài mẹ nấu vội vàng. Cảm thấy ngon như chưa bao giờ được ăn ngon. Phải nếm mùi đói khát mới biết cảm niệm ơn sâu của tạo vật, và những người đã đem lại cho mình miếng cơm, manh áo, chốn nương thân.

Một buổi chiều, đứa con trai trạc bằng tuổi ở chung nhà ngập ngừng rũ tôi đi lấy nước chung. Nó biết gánh nước nhưng chỉ mượn được một chiếc thùng của chủ nhà. Nếu xách thùng nước bằng một tay, đi đoạn đường hơi xa có nhiều mô đất thấp cao, e nước sẽ đỗ nhiều nên nó nghĩ ra chuyện kêu tôi cùng đi lấy nước chung. Tôi tròn xoe đôi mắt nhìn cây đòn gánh, nhìn vào khuôn mặt của đứa con trai có vẽ ở miệt vườn ven tỉnh lỵ, như thay câu hỏi vì sao nó rũ tôi. Tôi làm gì biết gánh nước mà kêu gánh một đầu chung với nó. Môt thoáng bối rối khi thấy tôi không giấu nỗi ngạc nhiên, đứa con trai giải thích bằng giọng chất phát, hiền lành. Cô lớn nhứt nhà, không đi lấy nưóc về để tắm giặt nấu ăn, thì còn ai đi lấy nữa? Tôi chợt nhớ ra bổn phận của mình. Hồi ở nhà, ba mẹ có đào một cái giếng sau nhà. Chị đi lấy chồng, giao lại cho tôi lo chuyện nước non! Cả mười người tắm giặt mỗi ngày. Tôi có hai bàn tay chai cứng quanh năm. Thầm nghĩ sẽ không lớn nỗi vì quay nước giếng và xách từng thùng nước nặng nề đỗ vào chiếc bồn lớn để dùng.

Tôi thẩn thờ nối gót theo đứa con trai, qua những mô đất mà bước đi thong dong còn chưa vững, nói chi gánh một đầu thùng nước nặng. Tới giếng, đỗ đầy thùng nước bằng cái gàu không lớn lắm, thòng xuống bởi sợi dây dài, xong nó tháo sợi dây đã nối sẵn hai đầu, xếp đôi lại và thắt vào thanh gỗ đóng ngang thùng đựng nước. Xỏ chiếc đòn gánh vào dây xong, nó bảo tôi ghé vai vào đầu phía trước, phần nó ở đầu sau. Tôi lẳng lặng làm theo như không còn sự chọn lựa nào, thầm nghĩ sẽ có hai điều xãy ra liền sau đó: thùng nước không ngã thì tôi cũng ngã. Thế mà tôi gượng nỗi, đứng lên. Bước chệnh choạng đi tới một khỏang ngắn rồi chúi nhủi vì bờ vai như rướm máu. Đau đến chảy nước mắt ra, bởi trong đời chưa bao giờ chất lên vai bất cứ vật gì, ngoài trò chơi đặt đứa em nhỏ yêu thương ngồi choàng đôi chân bé xíu trên hai vai, nắm giữ hai bàn tay nhỏ nhắn cho em đừng tuột xuống, rồi đi những bước chậm để nghe tiếng cười trẻ thơ rất đổi dễ thương. Gượng lại kịp cả người và thùng nước, dù đã sánh ra vơi một ít ngay từ bước đầu tiên. Tôi bậm môi cố giấu nỗi đau, kê chiếc đòn qua vai trái lòng thầm mong sẽ bình yên. Tôi thuận bên trái nên bờ vai trái chịu đau có vẽ giỏi hơn. Tôi lê lết đem được hai phần ba thùng nước về đến nơi sau nhiều lần dừng lại xoa bờ vai buốt nhói. Ý nghĩ nếu đi phía sau chắc sẽ đỡ nặng hơn bị xóa tan, khi đứa con trai nhìn tôi ái ngại, phân trần. Gánh đầu phía trước nhẹ hơn ở phía sau. Điều này tôi không biết vì có bao giờ gồng gánh. Nhưng tôi tin và thoáng ăn năn. Có lúc đau quá tôi nghĩ nó khôn bắt mình đi phía trước. Biết sức tôi không kham nỗi, thằng bé tạm trú chung nhà đành để tôi chọn cách đi nhiều bận, xách về mỗi lần một ít nước thôi. Tôi chọn chấp nhận hai bàn tay đỏ phồng đau đớn. Có lẽ để dành đôi vai hứng giông bão cuộc đời cuồn cuộn sau này. Cũng từ đó tôi biết cảm thương  khi nhìn những người chất trên vai gánh nặng, đi giữa trời mưa nắng dãi dầu.

Phải mất gần tuần lễ, gia đình không tròn vẹn của tôi mới vượt qua khỏi gần 30 cây số để tìm về vùng đất bình yên. Khoảng cách không dài lắm nhưng thời gian như ngừng lại. Ngày nắng lửa chói chang bên tiếng bom đạn vang rền khắp bầu trời. Đêm sâu thẳm trong bóng tối tưởng chừng tai ương đang rình rập.. Tôi biết, bấy giờ sự sống chết riêng mình không làm bận lòng ba mẹ lẫn dì tôi. Chỉ có sự sống của dượng, của anh tôi và sự an nguy của 5 chị em tôi đè nặng lên tâm trí ngày đêm. Đoàn người di tản chờ đêm gần sáng lặng lẽ rủ nhau đi tiếp trên con đường quốc lộ 13, chỉ vì biết không thể nào ở lại để trở thành người dân sống trong vùng "giải phóng". KP, đứa bạn thân nhất của tôi thì thầm khi thấy đám bộ đội bắt thanh niên đi họp. Ly ơi! P sẽ tự tử nếu như phải sống chung cùng cộng sản. Một đêm rồi hai đêm. Không có đường đi tới phải quay về. Cho đến khi ra khỏi nơi tạm chiếm, chợt nhận ra mình đã dẫm lên xác chết mà đi. Mặt trời lên, cảnh tượng đau xót hiện ra trong tầm mắt. Xác của những người lính tiếp viện cho An Lộc nằm la liệt trên đường nhựa. Nắng hè thiêu đốt sậm đen. Các anh nằm đó không biết đã bao lâu.  Xác căng phồng, rỉ nước nhìn đau lòng muốn khóc mà sao nước mắt chừng như khô cạn. Người thân, gia đình của các anh có biết hay chăng? Tôi hiểu, biết ơn và thương đời lính hơn bao giờ.

Đã ba mươi mấy muà hè trôi qua từ dạo đó. Tôi nhiều lần băn khoăn tự hỏi, không biết người năm xưa có còn không? Người Cha kính yêu của tôi đã an giấc đời đời ở bên này. Dượng và anh tôi trở về từ cõi chết vài tuần sau đó, nhờ vết thương mưng mũ của anh tôi và những cơn đau oằn người của dượng tôi. Họ bỏ lại đám người thương tật giữa rừng vì trở nên vô dụng không thể mang vác đạn. Người dì xinh đẹp của tôi cũng đã xa đời. Dì mất khi tuổi còn xuân sắc vì căn bệnh ung thư. Ngày ba mẹ và chị em tôi rời quê hương, dì không còn sức tiễn đưa. Nhìn đôi mắt dì đọng nước, rưng rưng, tôi vòng tay ôm nhẹ nhàng lúc giã từ mà không thốt được lời nào. Chợt nhận ra, những gì đậm nét còn giữ lại từ dì đều quá ngậm ngùi. Rừng cao su vang rền bom đạn. Dì rũ riệt thét gào giữa đất rộng, trời cao. Hình ảnh cuối còn giữ lại là căn nhà nhỏ, sau đêm cúp điện bóng tối còn vây phũ chung quanh. Dì ngồi đó, lặng yên bất động, khuôn mặt đẹp não nùng như một bóng ma. Là đứa con gái mồ côi sớm, dì lớn lên giữa miền quê nghèo mà xinh đẹp sáng ngời. Ở quê dì tạo ra một cơ ngơi bằng chính đôi tay và sự cần mẫn siêng năng. Về sống nơi phố xá dì biến căn nhà thành quán ăn ngon nổi tiếng. Dì là người tài sắc vẹn toàn. Dì tạo ra đó rồi mất đó. Tất cả đều mong manh như sự sống và nỗi chết. Trong tôi hình ảnh dì luôn đi kèm với những mùa hè khó nhòa ở trong đời. Ngày tôi rời quê hương cũng là một ngày mùa hạ của năm 1983. Đó chính là niềm mơ ước của bao nhiêu người thuở ấy. Mơ thoát ra khỏi địa ngục trần gian.

Trái bầu khô nhìn lại buổi chiều nay, ở một nơi được gọi là mặt trời bên kia mùa hạ, khiến lòng tôi có chút lao xao. Nghe từ bên nhà xa thẳm mịt mờ, những người đồng bào chân thật sống trong rừng núi đời này qua đời khác, giờ cũng chẳng yên lành. Những giọt nước cam lồ ngày đó. Chỗ ngồi lắc lẽo trên xe đạp, nép sau chiếc lưng đen nhánh, đem lai cảm giác an lành dù bom đạn vang rền. Tôi mang ơn sâu khó nỗi đáp đền. Lòng vẫn hỏi sao người cùng xứ sở vì đâu không ngừng gieo thêm đau khổ cho nhau. Người năm xưa chẳng biết có còn. Riêng tôi đã từng có lúc âm thầm sám hối, bởi ngày xưa dù sợ rớt xuống trên đường, vẫn vì phân biệt, e dè màu da đen đúa nên ngại ngần không dám đưa tay ôm giữ vòng lưng của ngưòi đã đem lại sự sống cho mình thuở ấy.

Quỳnh My

Monday, May 15, 2006

Mẹ, trái chín trên cây

Từ sau ngày ba mất, chị em My không còn trở về căn nhà nhỏ đều đặn mỗi tuần. Mẹ rời Võ Đang đi về với đám Nga Mi chợt thường hơn, có lẽ vì nơi chốn yên nghĩ của ba bây giờ là nghĩa trang và chùa ở gần bên phía Nga Mi.

Mùa này trước sân nhà mẹ, cây đào, cây lê không còn sai ngập trái trên cành giống thuở nào. Lá vẫn mướt xanh nhưng trái nhìn thưa thớt và teo nhỏ lại. Mấy cây bưởi, cây hồng bên cạnh ngôi chùa , lần lượt theo nhau trụi lá, khô cành ngó thật buồn. Mẹ chắc không vui khi chạnh lòng cảnh cũ người xưa, nên bảo mấy anh My đốn bỏ. Cây rồi cũng theo ba về với đất, một ngày. Ngôi chùa một cột xinh xắn bao năm ôm trọn bóng hình ba, giờ không còn dấu tích vì đã được tháo gỡ vào tháng chạp năm rồi. Mẹ vẫn còn nhiều trói buộc. Đi đến đâu, ở nơi nào cũng băn khoăn, bứt rứt muốn quay về. "Chùa của ba" không ai lo nhang khói, mỗi ngày mấy bận vào ra dâng hưong cúng Phật. Bàn thờ ba sẽ lạnh lẽo một mình với khói lạnh, hương tàn... Đi tới nhà đứa con gái nào cũng có bàn thờ Phật, thờ ba. Mẹ chừng như vẫn nghĩ, ba chỉ "hiện diện" nơi căn nhà riêng của hai người, nên bồn chồn không yên khi ở lại hơi lâu với đám Nga Mi. Nghĩa trang, chùa, căn nhà nhỏ hơn 20 năm đầy dấu tích kỷ niệm của đoạn đời xa xứ... Đám con trai nhìn thấy rõ mẹ càng có nhiều nơi để nghĩ về, càng bị buộc ràng nhiều trong lẩn quẩn nhớ, quên. Đôi chân yếu nhưng lòng thì quay quắt, mẹ lúc nào cũng vội vàng như sắp trễ hẹn với ai, dù chỉ là đi đến nghĩa trang, tới chùa hay trở về căn nhà hiu quạnh. Cả đám anh em My còn thấy rõ, những bậc thang bước lên chùa một cột hơi cao, là nỗi bất an luôn ám ảnh đàn con. Mỗi ngày mẹ hai lần bước thấp, bước cao lên xuống những nấc thang, trên tay bưng chiếc mâm nhỏ đựng trái cây hay những bình hoa cúng Phật. Các anh không nói, chỉ làm. My có bổn phận thuyết phục, giải thích cho mẹ hiểu, chấp nhận vì sao cần tháo giở ngôi chùa mà đứa em trai đã vẽ kiểu dựng lên, cho ba có nơi yên tĩnh sớm hôm chuông mõ.

Sau chuyến đi VN vào dịp tết, trở về đứa em gái ngã bệnh nằm vùi. Mẹ dù chưa hồi sức với chuyến đi dài vui ít buồn nhiều, đã vội vã đến nuôi con bệnh. My ghé thăm, thấy Mẹ tất bật nấu cháo múc ra chén nhỏ, gọi em ăn. Chén cháo nóng có làn khói mỏng bay lên, quyện mùi tiêu hành thơm ngát. Mẹ còn nướng khoai lang Nhật, củ khoai to có ruột màu vàng vì em nói thèm ăn. Chén cháo dần nguội lạnh tự bao giờ. Những khoanh khoai lang nướng nóng hổi Mẹ lột vỏ cắt sẵn vẫn còn nguyên. Đứa em gái gầy gò nằm vật vã, thỉnh thoảng lập lại câu mệt nhọc, Mẹ để đó đi, đừng kêu con nữa làm chi! Mẹ buồn buồn, nói với My qua tiếng thở dài. Chưa tới tuổi già mà mỗi lần bệnh giống như người sắp lìa đời. Không gắng gượng ngồi dậy ráng ăn, uống thuốc cho mau lành bệnh. Những cơn nóng mặt bừng lên đỏ rực. Mồ hôi ra đẫm ướt như vừa ngoi ở sông lên. Tiếp theo là từng cơn lạnh không rõ từ đâu kéo tới, em gái My run lập cập lấy áo ấm mặc dù đang mùa nóng. Đêm về, hai con mắt ráo hoãnh mở to. Đêm dài quá em đâm ra giận hờn vô cớ tiếng ngáy quen thuộc đều đều bên cạnh. Vậy là ôm gối sang phòng mẹ, ghé nằm như trẻ thơ đi tìm hơi ấm, vỗ về. Mẹ giật mình, thức trắng cùng con.

My nghe tiếng xì xào của hai đứa em sau. Chị Thúy mỗi lần bệnh là mỗi lần thành em bé, quên mất rằng Mẹ giờ già yếu lắm rồi. My cười nhớ lại chuyện xưa. Mấy mươi năm trước ở nhà thương Sùng Chính...Người anh My bị bệnh thương hàn. Mẹ mỗi ngày vào ra bệnh viện hai lần trên những chiếc xích lô. Lúc đó anh đã lớn, đã vào đại học. Một buổi, mẹ mang cháo nóng bưng đến cạnh giường nài nỉ anh ăn lót dạ rồi uống thuốc. Có lẽ thân đau và tâm cũng đau luôn, anh vừa nằm nhắm mắt vừa trả lời xẵng giọng. Người đàn ông đứng tuổi nằm giường bên cạnh chợt ngồi dậy, nhìn anh bằng ánh mắt thật nghiêm. Ông bất bình tuôn ra ý nghĩ của mình. Cậu có biết, có nghĩ đến tấm lòng người mẹ, mà không phải ai cũng may mắn có trong đời như cậu đang có ngay bên cạnh hay không? Chẳng phải là trẻ thơ, tại sao có thể vô tình đến thế?

Mẹ có năm đứa con gái, trong đó hết ba đứa "nuôi hoài không lớn". Vóc dáng bình thường vốn đã chẳng bằng ai, đứa em My sụt mất 10 pounds nhìn mỏng manh như có thể bị gió cuốn đi. Không ăn, không ngủ được thêm quay cuồng với những cơn nóng, lạnh kinh hồn và thèm bộc phát nỗi khó chịu, bất bình vô cớ. Vị bác sĩ gia đình không ngại ngần gởi em đi thử test HIV, bướu cổ và đề nghị em nên hẹn gặp bác sĩ tâm thần xem có bị trục trặc gì không? Một bữa My ghé thăm, em cười nụ cười héo hắt trên khuôn mặt hóp lại thấy chỉ toàn xương. Em biết bệnh em rồi. Là chu kỳ chuyển đổi trong đời. Đàn bà sao mà khổ, trước khi tới thời kỳ "xuống dốc" cũng bị hành tả tơi, bầm dập thế này đây. Chắc muốn nhắc cho mình nhớ kỹ thời xuân sắc qua rồi, nên bằng lòng an phận với tuổi già trước mặt! May cho chị, đang "trường kỳ kháng chiến", nên được ông lão thời gian ngó lơ chút xíu. Nếu cùng lúc tứ bề thọ địch, dù nội công có thâm hậu tới đâu em nghĩ cũng chưa chắc vượt qua một cách bình yên. Mẹ thở một hơi dài, trút đi bao nỗi buồn lo. Có lẽ mẹ bị ám ảnh bởi trong thành phố có vài người sau khi ở VN về mang bệnh, lìa đời. Hai dứa em nhỏ vẫn còn ganh tỵ. Ba chị em mình mỗi lần bị bệnh nằm hẫm hiu một mình rồi gượng dậy tự lo. Không muốn ăn cũng ráng nuốt vội để uống thuốc hầu giữ sức lo cho người khác, vì biết rõ mình như cỗ máy, kéo theo mấy toa tàu. Máy ngừng, mọi thứ chung quanh cùng tê liệt, thảm thương. Rời ngôi nhà có mẹ, theo chồng là phải chấp nhận rồi. Không còn mơ ước được hưởng những chăm sóc ngọt ngào, ấm áp mỗi ngày từ đôi bàn tay yếu giống ngày xưa...

Cứ thế, mẹ lẩn quẩn mỗi ngày nấu dọn, mong con mau lành bệnh để về lại căn nhà nhỏ của mình. Những hột giống dưa leo, bầu, mướp chọn giữ lại năm rồi được mang ra gieo xuống ở vườn nhà em gái. Năm nay, mấy chị em ngăn lại, không muốn mẹ ương thêm ớt để trồng. Ớt ra trái nhiều vô kể, mẹ cực nhọc nhiều vì phải hái mỗi ngày. Sau đó rữa sạch, lau khô rồi đem xay, nấu giấm bỏ vào keo hàng hàng lớp lớp, đem chia cho cả đàn con lẫn người quen. Mua đất mới, phân và tưới nước ngày hai bận, em gái nói với My. Nhà vườn đầu tư kiểu này lỗ nặng rồi! Công của mẹ làm sao tính nổi, mà huê lợi thì chỉ là những trái mướp, dưa leo, bầu chia cho mấy đứa con vừa gái vừa dâu, nấu ăn mấy lần cho mỗi một mùa thu hoạch trong năm! Chưa kể những ngày mẹ về Võ Đang vắng mặt, lòng băn khoăn lo lắng cho cây. Lo con gái đi làm về mệt, bỏ mặc cho con rễ tưới cây không tỉ mỉ, nhẹ nhàng giống như mình.

Em My tĩnh táo lại dần trước ngày lễ vừa qua. Mẹ hăm hở quay về chốn cũ. Không nghỉ ngơi chỉ lo cặm cụi, chuẩn bị bữa ăn cho ngày chủ nhật có lũ cháu, con về. Ngày lễ thiêng liêng dành cho mẹ, nhưng mẹ lại là người nôn nao nấu những món ngon để sẵn đợi con. Buổi sáng chủ nhật khi còn đang lười biếng nằm nhìn tia nắng chiếu qua song cửa sổ, nghe tiếng chim ríu rít đầu ngày. Mẹ gọi My hỏi thức dậy chưa con? Chừng nào về, nhớ ghé chợ mẹ cần thêm nhiều thứ. My đã quen nghe tiếng phone reo như nghe mẹ đánh thức ngày xưa. Khác chăng, bây giờ không bị mắng nhẹ tội ngủ nướng, biếng lười. Chỉ có câu hỏi nhẹ nhàng con đã thức dậy chưa. Có khi, My nhắc khẽ. Chỉ là bữa ăn gia đình dành cho lũ con đã lớn, sắp già. Đâu phải ngày trọng đại, có người đi coi mắt con gái ế của mẹ đâu mà bận rộn ,xôn xao như sợ trễ giờ "thầy đã chọn". Em gái nhỏ của My phụ hoạ. Thầy nói thứ bảy là ngày xấu. Đám cưới đổi thành ngày chủ nhật tức thì. Đâu ngờ đó là ngày chủ nhật thê lương nhất đời con! Thà để tiền mua vé số chứ không nuôi thầy bói. Mua chút niềm hy vọng mong manh vẫn vui hơn là ngây thơ đặt để, trông mong hạnh phúc đời mình qua lời phán quyết không bảo chứng của người dưng, nước lạnh. My cười. Sau cùng em cũng tìm ra "chân lý" dược rồi. Sương đã tan và ánh mặt trời lên chiếu rọi khắp nơi!

My bước vào nhà. Hai đứa con trai vòng tay, cúi đầu. "Ạ bà quại. Con mới về". Vẫn cách chào như thuở bé thơ. Anh em My dưnờg như đã quen nhìn, quen nghe từ dạo bắt đầu trở thành cha, thành mẹ. Chỉ thấy cử chỉ và lời lẽ dễ thương, dù pha trộn hơi ngộ nghĩnh. Những đứa cháu trai đã ra dáng thanh niên và đàn cháu gái giờ là thiếu nữ, vẫn lập lại cử chỉ và câu chào hệt y như hồi mới bắt đầu học nói, học chào. Đôi khi, mấy người anh cười hỏi My rằng? Hai tên nhóc này không biết được xếp nào người miền nào đây hi? Mẹ 50% bắc, 50% nam. Con 50% trung, 25% bắc, 25% nam, đủ hết. Trong một câu chào có đủ cả ba miền. My cũng không hiểu tại sao mấy chú nhóc của My khi dùng tiếng mẹ lại pha trộn đủ miền đất nước. Chữ "quại" tự dưng mà có, vì gia đình đâu ai nói tiếng này. Mẹ cười hiền mừng lũ cháu con về, rồi đến ngồi bên cửa sổ tiếp tục ngóng thêm con cùng cháu. Đám con gái, con dâu loay hoay trong bếp, dọn bàn. Lũ cháu nội ngoại vừa lớn vừa nhỏ ngồi chật nơi phòng khách. Không có tiếng ồn ào cười nói vang nhà. Cả đám lặng yên ngồi sát cạnh nhau theo dõi chuyện phim. Những chàng trai và những cô thiếu nữ mỗi khi về quẩn quanh bên cạnh mẹ, bà và bác, cậu dì dường như vẫn giống hệt trẻ thơ. Khi đám con trai, con rễ theo lời mẹ ngồi vào bàn, thì đám con gái, con dâu bận rộn làm thức ăn bưng đưa tận tay từng đứa cháu con. Nhà chật, người đông. Nhìn vào bữa ăn nào của đại gia đình nơi nhà mẹ, cũng thấy cảnh rõ ràng như câu "nam trọng, nữ khinh". Đám đàn ông được mời gọi ngồi vào bàn cùng với mẹ và dì. Chung quanh có chị, em và vợ túc trực lo tỉ mỉ từ đầu đến cuối. Khi đám đàn ông và lũ cháu con xong bữa, no say mẹ bắt đầu gọi từng đứa con dâu, con gái ngừng mọi chuyện ngồi vào bàn tiếp tục. Mẹ dường như no khi thấy cháu con no, còn tấm tắc khen bữa ăn ngon và món chè tráng miệng tuyệt hão vì mẹ không nấu không quá ngọt nên tha hồ ăn thêm nữa. My khoe với cô bạn nhỏ, đã ăn chè của mẹ nấu rồi sẽ chẳng bao giờ mua chè ở bất cứ đâu. Lần này trên bếp là nồi chè bắp, đang còn nóng hổi. Mẹ quên lưng nhức, chân đau đã ngồi bào mấy mươi trái bắp thật tươi, thật vàng em gái mua về. Nồi chè khổng lồ trên bếp cạn dần. My kịp dành lại một phần mang về cho cô bạn láng giềng.

Người anh về muộn nhất mở cửa bưóc vào với một nụ cười. Đôi mắt mẹ ánh lên mừng như đón đứa con xa. Bây giờ chiếc ghế mẹ ngồi mới xoay lại vào trong. Mẹ thôi ngóng ra ngoài song cửa vì các con về đã đủ. Tiếng bầy em gái lao xao trong bếp. Anh dễ thương ghê, canh giờ về rữa chén hôm nay. Đúng là ngày Mother's Day nên tụi em được ưu tiên, ưu đãi nhiều hơn. Anh ngồi vào chiếc ghế bên cạnh chị, cười cười giải thích nguyên do về muộn. Con ra nghĩa trang thăm ba. Sau đó ghé vô chùa thắp nhang cho ba nữa. Trạm sau cuối là tiệm hớt tóc nên về trễ. Lũ em gái không tha. Hôm nay anh kiếm điểm quá chừng. Nhưng trạm cuối hơi trục trặc vì tóc lưa thưa mấy sợi đâu cần gấp mà phải hớt. Anh vì mái tóc hay vì cô cắt tóc? Không nói ra nhưng ai cũng biết mẹ vui nhiều khi nghe anh nói ghé thăm ba. Giọng rộn ràng mẹ tiếp lời anh. Hồi sáng này, mẹ bảo Út mua hoa về cúng Phật, cúng ba. Út than hoa ngày lễ mắc không tưởng được. Anh My nói từ từ, không nhìn thấy nụ cười. Sao mẹ không nói trước để con "mượn đỡ" hoa trong nghĩa trang, nhiều biết mấy!

Bữa ăn tàn. Những người đàn ông chuyện vãn một hồi. Người anh nuôi đứng lên trước nhất chào mẹ với dì và đám em, hẹn ngày mai gặp lại vào buổi tụng kinh cầu siêu cho ngày giỗ của ba My. Mẹ bận rộn tiếp phone gọi về từ người chị và anh ở phương xa. My cùng các chị em loay hoay dọn rữa. Bé Trâm bước tới trao tay thêm chiếc đĩa dơ. Con gái ơi, sao lạ vậy? Dì My cứ tưởng hôm nay tụi con giành rữa chén thay cho dì và mẹ.
Đứa cháu gái ôm My xiết nhẹ, nói ngọt ngào cùng với nụ cười và ánh mắt ấm nồng "I love you" thay cho câu trả lời My. Em gái đứng lắc đầu như dấu hiệu của sự chấp nhận có còn hơn không, chẳng thể khác hơn. Vui với những gì mình may mắn có ngay trong phút giây hiện tại này đây. Là những đứa con, đứa cháu dịu hiền và thật chân thành. Chấp nhận sự thờ ơ đôi khi trở thành ích kỷ, vô tình của đám trẻ con được sinh ra, và lớn nhanh ở nơi đây. Những trái chuối vỏ màu vàng, ruột trắng không ngờ!

My và em gái kế ra về khi chiều đã tắt. Trời êm mát dịu dàng sau cơn mưa bất chợt đi qua. Đứa em khác vội về trong mưa lúc nãy, lòng mẹ xốn xang lo lắng không yên. Ôm mẹ trong tay, đặt lên trên đôi má nhăn nheo một nụ hôn, cho My cảm tưởng mẹ là trái chuối vỏ vàng, trong ruột cũng vàng. Trái chuối đã chín mùi không biết rụng lúc nào. My dẫu biết cũng ngậm ngùi. Mẹ ơi, nguyện cầu cho chúng con còn có mẹ mùa sau...

Quỳnh My

Monday, May 08, 2006

Mùa Phật Đản





Mẹ cùng ba đứa con gái, thêm cô bạn của My mới sáng sớm đã gọi phone qua lại nhắc nhau. Năm nay cả mấy mẹ con đi dự lễ Phật Đản ở chùa Pháp Luân, nhân tiện tiếp sức cho trại Hè Phật tử sẽ tổ chức tại chùa vào tháng tới.

Thuở chùa Pháp Luân còn ngụ dưới Downtown, thuở mà bốn đứa con gái chưa đứa nào sang sông hết, ba mẹ và mấy chị em My vẫn thường tới chùa này. Lễ cưới của một đứa con gái trong nhà cũng tổ chức tại chùa. Điều còn giữ lại là câu chuyện khó tin nhưng có thật. Hôm đó, Hoà Thượng và cả Thầy trụ trì đều đi xa. Vị Thầy làm lễ cưới là Thầy ở Beaumont về. Lúc Thầy bảo các con trao cặp nhẫn cho Thầy, cả cô dâu chú rễ cùng nhìn nhau ngơ ngác! Thôi rồi! Chẳng biết người được giao cất giữ, giờ ở nơi mô mà quên mất nhiệm vụ quá lớn lao? Mẹ tháo vội chiếc nhẫn đang đeo. Cùng lúc đứa em rễ cũng nhanh tay đưa cho Thầy chiếc nhẫn của mình. Về nhà mẹ trách nhẹ nhàng. Lễ cưới mà nó không ngơ như chuyện của ai. Đứa con gái cười. Con biết dư là ở dưới mái chùa thì đâu có điều gì được coi là trọng đại hay rập khuôn cứng ngắc, bất di, bất dịch.

Ngôi chùa nhỏ dưới khu phố tấp nập, ồn ào đưọc dời về vòng đai 610. Chùa bây giờ là ngôi giáo đường xưa. My thấy có chút gì hơi lạnh lẽo khi ngồi vào những hàng ghế của con chiên đi dự lễ. Không phải My coi trọng hình thức bên ngoài. Nhưng tiếng chuông cùng nhịp mõ trong chùa như lạc lõng, bởi không nhìn thấy ở đây hình ảnh Thầy trò cùng quỳ lạy với nhau. Tượng Chúa ngày xưa giờ thay vào tượng Phật. Có điều nghi lễ Phật giáo thuờng ấm áp nhiều qua hình thức giản dị dễ đem mọi người gần lại nhau hơn.

Đã lâu, không đến chùa My nhìn Hòa thượng gìa hơn xưa nhưng khuôn mặt vẫn tươi sáng, hồng hào như tự thuở nào. Tham dự lễ còn có các Thầy đến từ chùa Tây Tạng và Tích Lan trong thành phố. Hòa thượng và các Thầy tuần tự lên làm lễ tắm Phật, trong khi chương trình hành lễ được thực hiện với cả ba nghi thức: Mật tông Tây Tạng, Nam tông và kết thúc bằng bài kinh Bát nhã Bắc tông.

Lúc bước ra sân chùa, mẹ gặp lại những người bạn đạo nhiều năm không gặp. Hỏi thăm và ôm nhau với thoáng rưng rưng bởi kẻ mất người còn. Chị em My cũng được mừng gặp lại và nghe các chị nhắc từ thuở còn con gái cho tới lúc đi lấy chồng, cũng là khi mất dấu lạc nhau. Gần 20 năm, My thấy các chị chẳng già nhanh theo con số đếm từng năm. Vẫn nét hiền dịu, ân cần ấm áp thuở nào cho My cảm tưởng thời gian xa cách không lâu là mấy.

Mẹ cùng bầy con gái ra về khi chương trình văn nghệ vẫn còn dài. Nghệ sĩ Chí Tâm ca cổ nhạc bằng tiếng Mỹ và ca sĩ Phương Dung hát kinh Phật rồi kể chuyện vui bằng mấy trăm chữ của vần T. My và em gái đem về vài CD nhạc Phật giáo do PD hát. Người ca sĩ vang bóng một thời giờ là người cư sĩ miệt mài trên đường cứu giúp người khuyết tật tại quê nhà. Cô dùng khả năng ca hát của chính mình và kêu gọi sự hổ trợ của những người con Phật để giúp người mù tìm lại ánh sáng, qua chi phí phẫu thuật cho đôi mắt ngỡ trọn đời đắm chìm trong bóng tối buồn đau.

Quỳnh My

Sunday, April 30, 2006

Tháng Tư, về đâu?


Chúng tôi quen nhau vào một ngày đáng nhớ- ngày 30 tháng Tư của năm rồi. Câu đầu tiên Trish hỏi tôi cũng là một câu hỏi khó quên. Tối nay cô có đi dự đêm tưởng niệm 30 tháng Tư ở đại lộ Bellaire? Có chút gì thảng thốt, bàng hoàng bởi câu hỏi được nghe từ người đàn bà bản xứ, có khuôn mặt phúc hậu kèm tia nhìn ấm áp, diụ dàng. Rồi không để cho tôi phải ngạc nhiên lâu, Trish ân cần giải thích vì đâu cô biết nhiều về những sinh hoạt của người Việt trong thành phố.

Trish nói với tôi, thời trung học cô đã có sự quan tâm đặc biệt về cuộc chiến Việt Nam. Sau khi ra trường luật đi làm, điều cô thường trăn trở vẫn là chuyện nhân quyền ở bên nhà. Thật khó mà giải thích, giống như cô có nhân duyên nào đó với con người và đất nước Việt Nam. Thêm nữa, ngay trong thành phố cô được sinh ra, ngày càng có nhiều cư dân Việt. Những khu thương mại sầm uất, giăng giăng bảng hiệu Việt. Những con đường có tên các vị anh hùng lịch sử Việt Nam ở Downtown, bên cạnh nhiều đóng góp tương trợ đáng kể trong từng trận thiên tai từ di dân Việt. Còn nữa, các tượng đài Tưởng Niệm được xây dựng ngay trên con đường cô có dịp đi qua, là những điều dễ nhìn thấy nhất, nếu như mọi người đừng quá thờ ơ với cuộc sống ở chung quanh. Một đêm lái xe lang thang trên khu phố Việt, cô tò mò dừng lại khi thấy cả rừng cờ vàng và hàng chục ngàn người tập trung trước khoảng sân rộng ở một siêu thị lớn, mới xây cất không lâu. Cũng đêm đó, Trish biết thêm nhiều điều qua những thước phim tài liệu được chiếu trên hai màn ảnh lớn ngoài trời. Cuộc di tản khổng lồ bằng đường hàng không, bằng đường biển khởi đi từ mọi phía. Những khuôn mặt hãi hùng trong cuộc hành trình vô định cuối cùng. Những đau đớn chia lìa như cắt xé ruột gan, mà cô chỉ được đọc thỉnh thoảng đâu đó chứ chưa bao giờ nhìn tận mắt. Đêm đó chắc không ai nhìn thấy, tay áo của người đàn bà da trắng tóc vàng, đã ướt đẫm vì dùng lau nước mắt. Đâu chỉ có ngày tang của tháng Tư đen. Trish thẩn thờ trở về nhà, mang theo hình ảnh thuyền nhân của những năm sau, đã khóc thét, kêu gào trong đói khát, sợ hãi trước khi kiệt sức. Tiếng kêu bơ vơ, vô vọng, mất hút chìm sâu giữa biển rộng trời cao, Không có phép mầu nào ngăn lại từng cơn sóng dữ, nuốt vội con tàu nhỏ bé vào lòng đại dương vô tình, bí hiểm ngàn đời.

Khẽ chớp đôi mắt đẹp, dường như luôn phảng phất nỗi buồn dù trong lúc đang cười, Trish hỏi tôi có phải là thuyền nhân thuở đó hay không? Cô mong được thứ lỗi, nếu như không thích nhắc thì coi như cô chưa từng hỏi. Tôi lắc đầu, cho Trish biết đã tới đây hợp lệ, an toàn cùng với gia đình. Nhưng tôi có bạn bè, người yêu và cả người thân vượt biển, vượt biên theo đường bộ ngày xưa. Họ bây giờ ra sao, đã về đâu sau gần 30 năm bỏ nước ra đi? Câu hỏi giản dị làm tôi quay quắt. Trong một thoáng lòng quặn đau nỗi đau chung. Bạn tôi, người mất tích trong rừng biên giới khi chưa kịp tới đất Miên hay đất Thái Lan. Người về với biển trong một lần thủy táng lặng thầm, chỉ có gió thổi, mây bay và tiếng sóng tiển đưa. Người không biết còn sống hay đã chết, sau khi hải tặc bắt mang đi. Còn người yêu xưa tôi biết đã bình yên. Mười năm xa nhau tôi còn ngóng đợi. Nước mắt lăn dài khi nghe bài hát Mười năm tình cũ. Nhớ một ngày của 20 năm sau, có người ngồi bên chồng lặng lẽ quay đi, len lén đưa tay áo chùi nhanh giòng nước mắt. Trên màn ảnh, người ca sĩ bạc mệnh đang cất lên giọng hát não nùng trong bài hát 20 năm tình cũ. Người ca sĩ khả ái, dịu dàng có đôi mắt đẹp và buồn, giờ đã cùng giọng hát thênh thang chấp cánh bay xa. Bỏ lại cuộc đời buồn như làn khói quyện chập chờn, trong đó hạnh phúc và đau khổ trộn đều. Lòng tôi đã lắng, đã yên. Những cặn cáu của nỗi khổ, niềm đau, của buồn vui trước mặt chừng như kết lại nằm yên dưới đáy ly. Thỉnh thoảng chiếc muỗng nhân duyên khuấy động, nước đục ngầu rồi lắng xuống, trong dần. Tôi không tiếc, không buồn vì những điều đã trở thành quá khứ lâu rồi.

Những câu hỏi hồn nhiên và quá ân cần, Trish như vòi vĩnh nắm tay, đòi tôi dắt đi trở lại những đoạn đường lạc mất dấu trong đời. Tôi kể cho Trish nghe về người bạn nhỏ ngày xưa ra biển, là đứa con gái mồ côi, nắm xương tàn vẫn còn nằm lạc lõng bơ vơ nơi đảo cũ. Nguyện ước thiết tha của người chị một đời mang nặng niềm đau, là được có cơ hội ra khỏi nước đi tìm, đốt đem về lại nắm tro tàn, gởi vào chùa cho em thôi vất vưỡng lang thang ở đảo hoang. Mơ ước đó không biết tới bao giờ thành tựu. Những người con gái sinh không nhằm thời, giờ quá mỏi mòn. Mối tình đẹp thời sinh viên không còn nồng nàn như thuở bắt đầu, bởi cả hai đều ở lại để nhìn đời nhau cùng tan nát, tả tơi. Một ngày chị báo tin rồi cũng phải lấy chồng. Không nỡ để anh chờ đợi khi không còn gì để đợi chờ, đời rồi sẽ khác hơn cái hiện tại thê lương. Chú rễ già, cô dâu khọm. My ơi, em có nhìn ra số phận làm khổ mình đã đành và mình làm khổ mình thêm cho ra nông nỗi này đây? Chị đã mon men đi vào cửa chùa biết bao lần. Nghe bao nhiêu lời giảng, thực hành thiền bao nhiêu bận. Giải thoát gì đâu, chị đôi khi bỗng hoài nghi. Có lẽ chính mình chưa thoát nỗi những nghiệt oan vây khốn xưa giờ. Quá khứ và hiện tại, cộng thêm tương lai là vũng tối. Hãy chỉ chị làm sao để thoát ra? Trên bàn thờ là cha, là mẹ. Là đứa em vùi thây ở đảo xa khi chưa tới tuổi 20 mươi. Mẹ mất sớm trong khi còn xuân sắc. Em tự hủy thân mình cùng với bào thai trên đảo xứ người. Cha trở về sau những năm tháng lao tù, rồi thất chí đi tìm vợ và con bằng vòng dây oan nghiệt...Bên cạnh cuộc đời là người tình chờ quá nửa đời, giờ là chiếc bóng theo bên cạnh, bởi bất lực, xuôi tay không giúp đuợc gì nhau. Ba mươi năm sau ngày tang đất nước. Chị vẫn chiếc xe đạp cọc cạch đạp qua những con đường khói bụi mù trời. Những buổi dạy Anh văn tất bật ngược xuôi, tiếng nói tắt nghẹn, giọng khô quánh như không thể phát ra nỗi một thanh âm nào nữa...Vẫn không vá lại nỗi căn nhà mẹ cha để lại. Khách sạn ngàn sao là nơi cư ngụ, hay đêm ngủ với mưa ú ớ giọng khan. Đi dạy học và làm báo, như cái nghiệp buộc chị vào cùng ẩn ức muôn đời. Ngày xưa bố đi vào vùng lửa đạn, đem về những thiên phóng sự chiến trường, được ghi lại bằng mắt, bằng tai. Còn chị, mỗi ngày lê lết trên từng góc phố, nẻo đường. Thấy nhiều quá muôn ngàn tủi nhục và nghe nhiều những nỗi oán than mà như điếc, như đui. Từng lứa học trò đến với chị bao năm, chỉ cần điểm mặt chừng ấy người trong cuộc sống cũng đủ để viết nên thiên trường kịch.

Tôi chợt nhớ tới một người anh trong gia đình quân đội, thỉnh thoảng vẫn ghé lại thăm. Lần đầu tôi thoáng ngạc nhiên, bởi người cha già quá so với đứa con gái bé bỏng đang úp mặt trên đôi vai gầy guộc. Thỉnh thoảng, người đàn ông có vẽ gì như nhẫn chịu, hiền lành bỗng như phẫn hận thốt lên lời cay đắng không ngờ! Anh đã đào thoát khỏi lao tù cải tạo, tìm đường ra đi và không đếm hết bao nhiêu lần thất bại. Lần cuối cùng anh đi không chỉ một mình, mà có thêm người bạn đời cùng 4 đứa con. Thoát khỏi hải phận an toàn, anh ngỡ đã bỏ lại địa ngục trần gian ở phía sau. Đâu ngờ phía trước là thảm họa, như bản án đã sẵn dành cho người ngã ngựa. Trong đám thuyền nhân đã cạn sạch nước uống, thức ăn và nhiên liệu, mỗi ngày hầu như đều có người tuần tự trút hơi, xác được những người bạn đồng hành còn thoi thóp gởi vào lòng đại dương xanh thẳm. Trong phút giây hoàn toàn vô vọng, anh ngỡ mình cùng vợ con sắp được giải thoát khỏi kiếp người. Bầu trời trên biển tối sầm. Gió thổi mạnh và những đợt sóng cuồng nộ làm chao nghiêng rồi lật úp con thuyền nhỏ bé. Trong vô thức anh đưa tay chụp vội đứa con trai 8 tuổi đang nằm bất động ngay bên cạnh. Ôm chặt con trai nhỏ trong tay, anh vừa bơi vừa mở to đôi mắt chừng sắp rách để kiếm tìm vợ và ba đứa con theo sóng trôi đi. Chợt tầm mắt anh chạm vào khuôn mặt xanh xao như xác chết, của người vợ có mang đang ghì chặt mảnh ván vỡ ra từ thân tàu vừa đắm. Trong chớp mắt, như kẻ mộng du, anh buông vội đứa con trai. Con ơi, tha tội cho bố. Bố phải cứu hai người là mẹ con và chiếc bào thai của em con. Khi anh bơi tới bên người vợ, chỉ còn kịp nghe câu nói thì thào. Con ơi, mẹ theo các con đây...

Khi buông xác vợ anh cũng định buông thân mình chìm xuống, cho kịp cuộc hành trình hóa kiếp với vợ cùng con. Nhưng chiếc tàu cứu tinh muộn màng xuất hiện, đã mang anh cùng vài người sống sót đưa vào bờ. Dân tỵ nạn ở đảo không ai lạ gì người đàn ông có khuôn mặt thất thần, hằn đậm nét đau đớn hãi hùng, đi lang thang hoài không mỏi mệt. Vừa đi, ông vừa lẩm nhẫm câu: Em có trách anh không? Các con có buồn giận bố hay không? Tới Mỹ, bệnh tâm thần dần chữa khỏi. Anh vào tu viện một thời gian. Vẫn không thoát khỏi nỗi ám ảnh triền miên, bất tận. Anh trở lại đời, sống hết những ngày tàn. Bởi càng trốn chạy, quá khứ càng đội mồ sống dậy. Người bạn một thời trong quân ngũ, cố sức chữa lành nỗi đau quá lớn trong anh. Đứa em gái đã dần qua thời xuân sắc ở quê nhà, trở thành vợ người bạn thân bất hạnh, cho đời cả hai bớt quạnh hiu.

Trish ôm hug tôi lúc giã từ. Mong chúng mình trở thành đôi bạn, kể từ ngày 30 tháng Tư năm nay, được không My? Tôi khẽ gật đầu, đưa ngón tay quẹt giọt nước mắt chưa khô trên khuôn mặt của người bạn mới.

Năm nay Trish đến gặp tôi vào ngày 29 tháng Tư. Bầu trời xám xịt một màu ảm đạm, mưa vần vũ kéo về trong buổi sáng cuối tuần. Trish xếp chiếc dù để vào một góc, đưa tay vén những sợi tóc ướt mưa quện vào nhau. Vẫn câu hỏi cũ, ngày mai 30 tháng Tư rồi, My có góp mặt trong đêm tưởng niệm? Rồi như chợt nhớ điều gì đặc biệt, Trish băn khoăn. Chẳng lẽ hơn 30 năm bặt tin người cũ, không tìm ra tông tích gì sao? Tôi gật đầu với nụ cười buồn. Đã biết, nhờ cơn bão Rita năm rồi thăm thành phố. Người tận góc biển chân trời muốn chắc chắn rằng, tôi vẫn còn sống sót bình an như bấy lâu nay. Người mẹ mà ngày xưa tôi từng gục khóc trên vai, đã tìm gọi mẹ tôi trong lúc thiên tai đang kéo tới. Nín đi con. Đừng buồn vì nó không kịp giã từ. Nếu hai đứa có duyên thì sẽ gặp lại nhau ở bên kia...Lời vỗ về với bàn tay vuốt nhẹ trên lưng tôi ngày đó, sau này như lời nhắc nhỡ thầm. Một thời đã hết, đã qua với những người có duyên mà không nợ gì nhau. 

Mỗi lần gặp nhau là một câu hỏi khác. Trish luôn luôn dẫn tôi đi tìm lại cội nguồn xưa. My ơi, người ở lại giờ ra sao sau hơn ba chuc năm qua? Trish hỏi về những người con gái sinh ra trong chiến tranh và cả sau này ở bên nhà. Tôi thật sự có chút gì bối rối, bởi không dễ dàng khi nói về hai thế hệ trong đời, và những gì tôi biết xem ra quá ít. Người anh xa ngậm ngùi buông tiếng thở dài. Đã hơn 30 năm mà dân mình vẫn khốn đốn, lầm than. Kẻ ngất ngưỡng trên quyền lực sắt máu cùng của tiền vô số. Người dốt nát nghèo nàn, hàng loạt bán máu, bán thân mình như món hàng duy nhất có được của một kiếp người. Em có nghĩ đó là lời nguyền ác độc, dành cho dân tộc Việt Nam của mình không? Còn nhớ, những ngày đầu mất nước, đám học trò bị bắt vẽ và treo hàng hàng những khẩu hiệu lạ lùng. Trong đó có một câu tôi nhớ như in. "Vì lợi ích mười năm trồng cây. Vì lợi ích trăm năm trồng người" Mười năm, những hàng cây giống xấu, không phân bón, chết khô dần hay èo uột khẳng khiu với lá mỏng cành trơ. Trăm năm chưa biết về đâu? Chỉ thấy mới hơn 30 năm, có nhiều người chẳng giống người bởi quá tham lam, sân hận, si mê, sống nhỡn nhơ, tự mãn trên nỗi đau đồng loại. Làm sao không khỏi nhói lòng, khi biết từng bầy thiếu nữ bán thân mình, cách này hay cách khác để chỉ mong có một đời sống khá hơn cuộc đời đen tối của mẹ cha, tiếp đến đời con. Tôi kể cho Trish nghe về truyện ngắn vừa mới đọc, được viết bởi một nhà văn nữ còn rất trẻ ở bên nhà. Cô ra đời một năm sau khi chấm dứt chiến tranh, có cha mẹ là những người từng tham chiến phía bên kia. Người đọc bàng hoàng, đau đớn khôn cùng. Làm sao có thể ngờ giữa thế kỹ này, ngay nơi cô bé được ra đời, có những người đã sống trên những cánh đồng khô chết. Dốt nát, nghèo nàn trong cảnh khốn cùng, đến nỗi trở nên man rợ như người thời tiền sử. Họ sống cách biệt và cô lập, với đời sống bình thường của con người. Vô vọng, bơ vơ không còn nơi bám víu, dường như những ẩn ức này phát khởi ra thành hành động mất tính người. Giọng văn trầm buồn, từ ái, nhẹ nhàng. Không oán trách, không bi phẫn mà tưởng như có ngàn mũi kim đâm thấu vào tim gan người đọc. Những người cầm quyền hốt hoảng, sững sờ. Họ kết tội người viết chỉ vì cô đã viết những gì có thật. Cánh đồng bất tận trong truyện kể, đã làm Trish rơi nước mắt như mưa. My ơi, tại sao có quá ít người dám viết những gì có thật bên nhà? Tại sao không dịch lại và in ra sách bằng nhiều ngôn ngữ? 

Trish ôm "hug" tôi từ giã. Những hạt mưa trên tóc đã khô, nhưng hai giọt lệ còn đọng lại trong đôi mắt đẹp. Tôi biết chắc sẽ còn nhiều câu hỏi nữa, cho ngày 30 Tháng Tư của năm sau khi Trish đến với tôi.

Quỳnh My
Đêm 30 Tháng Tư năm 2006

Thursday, April 13, 2006

Thuyền ngược bến không

Dưới hiên mưa vắng hồn khua nước
Thả chiếc thuyền con ngược bến không
(Thơ Viên Linh- Thủy mộ quan)

Tôi sinh ra thì thế chiến II đang hồi kết thúc. Lớn lên chút nữa, khi biết nghe và hiểu, những chuyện vãn người lớn về việc đánh nhau đâu đó, lúc nào đó, bao giờ cũng hấp dẫn như chuyện cổ tích. Mà hình như đó lại là những chuyện mà tuổi con nít của tôi được nghe nhiều hơn là chuyện cổ tích. Trong gia đình tôi, thỉnh thoảng thấy vắng đi một người lớn. Rồi lại nghe những câu chuyện thì thầm. Mấy chú, mấy anh lớn, đã từng ẳm bồng tôi, bỗng chốc họ trở thành nhân vật trong truyện cổ tích. Cách mà người lớn kể chuyện, lại làm cho không khí của chuyện cổ tích ấy càng trở thành huyền bí.

Cho đến khi lai rai đọc được tiếng nước ngoài, chuyện kể về chiến tranh bỗng thành hoài niệm; hay chỉ hình như là hoài niệm thôi, vì đấy là quá khứ mà mình không thấy, không nghe. Có điều, hoài niệm ấy không làm sao mờ đi được. Vì nó đã trộn lẫn quá khứ với hiện tại. Quá khứ ấy, khi chợt biết, nó đã có quá nhiều mất mát. Vì những người đã đi, chưa thấy ai trở lại. Rồi cả những người cùng trang lứa cũng lần lượt ra đi. Mình thì may mắn được ở lại. Nhìn quanh, bảng đen, lớp học, sân trường. Sự sống vẫn băng băng lôi người đi tới, với những cạnh tranh vất vả.

Chiến tranh, thù hận, và đâu đó, từ sâu thẳm của khát khao, tình yêu và sự chết là nỗi ám ảnh, và như chất liệu cho ý thức sinh tồn. Có một cõi thi ca riêng biệt như vậy. Dành cho những tâm hồn nhạy cảm. Nhìn con chim giãy chết trong tranh mà ngơ ngẩn, bàng hoàng. Nhưng ngôn ngữ của nó cũng biến hình. Tình yêu, thất vọng, đam mê, như những con sóng nồng nhiệt trên mặt nước, mà dưới đáy sâu ai biết ẩn chứa những gì.

Nước xa cuồn cuộn ra khơi
Sâu trong tâm thể có đôi giọt gần
(Dư tập- Thủy mộ quan)

Những câu thơ như vậy thật hiếm hoi cho một đời bận rộn. Không bận rộn sao được, khi quanh mình những bạn bèn trang lứa lần lượt ra đi. Một số người vượt suối, vô rừng. Đi theo tiếng gọi của hận thù, máu lửa, trong trái tim đang bốc cháy bởi chủ nghĩa anh hùng. Để lại cho thành phố khúc hát “Người đã đi, đi trên non cao…” Một số khác ra đi, để lại tiếng khóc nghẹn ngào, điên loạn: “Ngày mai đi nhận xác chồng. Say đi để thấy mình không là mình.” Tình yêu, thù hận, bỗng trở thành mâu thuẫn biện chứng.

Mấy chục năm sau, một thế hệ đang lớn, như nắng trưa xích đạo che lu ánh đuốc quá khứ lập lòe của mình; thỉnh thoảng tôi đi tìm lại một vài câu thơ đâu đó, mà cũng không dễ gì tìm được, để cho hoài niệm quay lại một thời, trong đó mình đã sống, đã suy nghĩ, ưu phiền, và cả đến những dại dột ngông cuồng của tuổi trẻ. Trong tình trạng mà người cũ lánh xa, vì hiểm nguy rình rập mơ hồ, thì chuyện biển rộng sông dài chỉ có trong tranh, và trong trí nhớ. Lại vẫn điệp khúc hoài niệm bâng quơ.

Tôi không đoán được bạn trẻ yêu thơ ngày nay, nếu tình cờ đọc được bốn câu thơ dưới đây sẽ gợi lên ấn tượng gì. Nhưng người đã sinh ra và lớn lên trong chiến tranh, mà tình yêu và thù hận là những xung đột, khắc khoải trong lòng, những câu thơ ấy gợi nhớ một thời, hay đúng hơn là một ấn tượng, có thể thoáng qua chốc lát:

Chiều về trên một nhánh sông
Bên tôi con nước đỏ lòng quanh co
Nước loan dươi đáy trời dò
Buồn tôi thánh thót trên lò nhân sinh
(Một nhánh sông- Dư tập- Thủy mộ quan)

Đó là một chút hơi thở tàn sinh, như bóng nắng là đà trên mặt nước, không có những trầm mặc thăm thẳm trong lòng đại dương. Một nhúm cỏ xanh nhởn nhơ trên cánh đồng khô cháy. Nhưng ai có thể phê bình nhúm cỏ vô tình? Ấn tượng của một người đọc thơ từ trong hủy diệt bạo tàn của chiến tranh là như thế.

Rồi đất nước hòa bình, dân tộc đang trở mình từ trong khói lửa, để cho hận thù hóa thân thành tình yêu. Và cũng là lúc bắt đầu một thế hệ cầm bút bị khước từ. Vì đã không thể nhận thức tình yêu theo định nghĩa của biện chứng. Trong đó, tình yêu chỉ có thể trưởng thành bằng hận thù và hủy diệt. “Máu của người đem lại tình thương.”

Ngồi trên đỉnh đồi Trại thủy, giữa thành phố Nha trang, nhìn xuống bên dưới, từ trong làng kéo ra một đoàn thiếu nhi Tiểu học, hô vang khẩu hiệu chào mừng cách mạng, đả đảo văn hóa giáo dục phản động, đồi trụy. Tôi biết mình đang bị chối bỏ. Và bị chối bỏ thật. Từ chỗ là thành phần ăn bám, rồi trở thành phần tử nguy hiểm, và được liệt xuống hàng cặn bã xã hội, tạm tha tội chết để được ân huệ khoan hồng sống hết kiếp sống thừa. Lại một lần nữa, những người cũ của tôi theo nhau lần lượt ra đi. Thời chiến tranh, một lớp bạn lên rừng. Thời hòa bình, một lớp bạn xuống biển. Dân tộc chợt quay trở lại với huyền thoại mở nước. Những người con theo Mẹ, đã có lúc khinh ghét anh em mình, bỏ lên rừng. Một thời gian sau, những người con theo Mẹ lên rừng nay quay trở về đô thị. Lại những người anh em khác sợ hãi, vội bỏ trốn theo, tìm về biển:

Vua gặp Âu Cơ lúc thủy du
Cùng nàng rung đợng nước thiên thu
Duyên tan nàng bắt con về núi
Những đứa theo cha khổ đến giờ
(Thủy mộ quan)

Ba chục năm, một nửa theo Cha, một nữa theo Mẹ. Nhưng huyền thoại của nhà thơ này vẫn còn quên một số anh em trở thành côi cút. Cha thì ở đâu không thấy, mà tự thân thì bị ruồng rẫy bởi chính anh em mình ngay trên đất Mẹ. Không Cha, cũng không Mẹ, ta đi tìm dấu tích Trường sơn,

Quê người trên đỉnh Trường Sơn
Cho ta gởi một nổi hờn thiên thu
(Thơ Tuệ Sỹ)

Tôi không nói đến hận thù. Nhưng một nỗi oan khiên nào đó, khiến cho lời nói của mình như trong cơn mê sảng. Bạn cũ ở quanh đây thôi, vẫn gần như những ngày nào, một thời buồn vui. Có lẽ bạn cũ ngại ngùng, ngại nghe những điều được giả thiết là tôi sẽ nói. Thật sự, tôi chẳng được phép nói gì cả. Vẫn được chỉ định phải đứng bên lề xã hội đang hội nhập văn minh. Còn những bạn khác, hãy gọi là cố nhân, bấy giờ mỗi kẻ một phương trời. Tôi chẳng biết họ đang làm gì, đang nghĩ gì. Mỗi người một phong cách, trong một thế giới mở rộng, đa văn hóa. Tôi nghe nói như vậy.

Dù ở phương này hay phương kia, dù có hay không có hai trận tuyến văn chương cùng chung loại hình ngôn ngữ của Mẹ, vẫn còn hàng vạn nắm xương dưới lòng biển:

Lưu vực điêu tàn ở Biển đông
Xương bầy như thú cháy rừng hoang
Nhưng rừng không cháy nào đâu thú
Người chết thân chìm Thủy Mộ Quan
(Viên Linh- Thủy mộ quan)

Hận thù có thể xóa được dễ dàng thôi, nhưng u uẩn của những hồn oan đáy biển vẫn ám ảnh tâm tư. Người sỗng vẫn mang mãi ân tình của người đã chết, dù trên rừng hay dưới biển, vì oan nghiệt riêng tư hay vì tình chung dân tộc. Xưa Nguyễn Du đã làm “Văn tế thập loại chúng sinh”; không chỉ là món nợ văn chương cho người đã chết, mà đó còn là tình tự thiết tha từ cõi chết vọng về. Tôi đọc bài “Gọi hồn” trong Thủy mộ quan cũng với tâm trạng tương tợ:

Trên Huyết Hải thuyền trôi về một chiếc
Chiều buồn đen trời rực rỡ đau thương
Thân chìm xuống băng tuyền giờ tận biệt
Sóng bạc đầu hối hả phũ trùng dương
(...)
Trong rêu xanh ngân ngật bóng sơn hà
Lướt hải phận về dưới trời cố quốc
(...)

Bài thơ không mang tiết nhịp gây cảm xúc bàng hoàng tức khắc, nhưng những ấn tượng rải rác trong cả tập Thủy mộ quan làm cho bài thơ phảng phất nỗi kinh sợ, rùng mình:

Trinh nữ trầm oan nổi giữa dòng
Thân băng ngàn hải lý về sông
Xung quanh không một người than khóc
Chỉ cá trùng dương theo hộ tang

Dù sao thì đất nước cũng đang hồi sinh. Những người ra đi, lần lượt kéo nhau về. Ấy thế, hờn giận giữa anh em vẫn còn là vết thương nhức nhối. Văn chương bây giờ vẫn là một lựa chọn, hoặc một nhân cách. Thi ngôn chí. Thiên cổ văn chương thiên địa tâm. Trong tận đáy sâu tâm khảm, mỗi nhà thơ vẫn chung một tình tự nghìn đời, dù biểu hiện có hận thù cay nghiệt. Tôi mong được như lời Viên Linh nói:

Sinh ở đâu mà giạt bốn phương
Trăm con cười nói tiếng trăm giòng
Ngày mai nếu trở về quê cũ
Hy vọng ta còn khóc tiếng chung

Tuệ Sỹ
Saigon, đông 2004

Tuesday, March 28, 2006

Hội ngộ tháng Ba



Gần cuối tháng ba, xứ mặt trời bên kia mùa hạ trời bỗng dưng trở lạnh, tựa như "người ngỡ đã đi xa nhưng người bỗng lại về...".Buổi chiều nắng tắt vội vàng, gió thổi tung mái tóc cho bờ vai thêm lạnh. Hai bàn tay quanh năm chẳng ấm, giờ như không còn cảm giác. Tôi vừa vén tóc vừa cố giữ tầm nhìn thật rõ, trước khi băng qua con đường nhỏ đến chỗ đâu xe. Buổi sáng trong nắng ấm, là một góc mùa xuân nơi con phố nhỏ êm đềm với những luống hoa nhiều màu mới được trồng khoe đủ sắc màu. Buổi chiều khi mây trắng giăng đều, bầu trời ẩm ướt nhạt mờ, ánh đèn hiu hắt dọi xuống từ quán trà xanh đầu con phố, ngỡ mùa đông còn hiện diện nơi đây.

Những ngôi trường trong thành phố tuần tự cho đám trẻ nghỉ đầu xuân. Đứa hớn hở mừng vui cùng bố mẹ với những chuyến đi chơi vài ngày đâu đó xa thành phố; đứa cảm nghe có chút não nề, quanh cuộc sống tẻ nhạt ngày mỗi ngày vẫn đều đều như nhau dù xuân, dù hạ hay đông... Riêng tôi, có một chút hạnh phúc vào ngày chủ nhật, không thức dậy vội vàng vào giờ quen thuộc đầu ngày. Nằm yên nghe hơi thở vào ra, nghe tiếng chim hót như nhắn nhũ mảnh vườn sau cần chăm bón. Hoa cam đang nở trắng góc vườn, quyện trong làm gió nhẹ tỏa hương thơm ngào ngạt. Sáng nay hơi khác. Buổi sáng chủ nhật có chút hăm hở, rộn ràng dù phải vặn đồng hồ báo thức sớm hơn nhiều. 5 giờ thức dậy. Rời nhà 5 giờ 45,đến nhà đứa em gái chưa tới 6 giờ. Mẹ và vợ chồng đứa em đã sẵn sàng, nhưng cùng nán lại vừa đủ thời gian cho ly cà phê buổi sáng, là niềm ưu ái dành cho tôi- ngưòi nếu không có cà phê, dường như không thể có bình an!

Đường đến chùa xa thẳm, với hơn một tiếng lái xe. Mẹ nghĩ không theo con gái nổi vì đôi chân yếu rất khó khăn khi ngồi trên ghế hơi lâu. Nhưng ước mong được tham dự một phần khóa tu học ngắn ngày của các vị thầy ở xa về, cũng như lời hẹn sẽ gặp "Thầy bên Úc"ở chùa Tịnh Luật từ nhiều tháng trước, như tạo thêm sức mạnh cho mẹ hăng hái theo con. Đứa em rễ như một cộng sự viên trung thành, tận tụy, luôn luôn lẳng lặng chuẩn bị sẵn sàng. Không thắc mắc, hỏi han mỗi khi đưọc nhờ đón đưa trên những đoạn đường xa. Có lẽ vì vậy mà hai chị em thường ỷ lại. Đã đi vài lần vẫn lơ ngơ chẳng biết đường nào dẫn đến chùa. Chợt nhớ tới bác Phật tử quen mà hổ thẹn thầm. 75 tuổi nhưng người mẹ nhỏ nhắn, gầy gò vẫn hằng tuần một mình lái xe tới ngôi chùa xa ở ngoại ô, vì không muốn làm rộn phiền đến con cái sau những ngày làm việc mệt mỏi trong tuần. Lần đầu khi nghe kể, tôi không ngăn được xúc động, đã vòng tay ôm người mẹ quá dễ thương. Con cảm động và thêm cảm phục, bởi bác đến tuổi này vẫn mạnh mẽ và vững chãi một mình. Không bám víu vào con mà còn hết sức sẻ chia những nổi nhọc nhằn lo toan trong cuộc sống của con. Tôi nhận lại nụ cười hiền rất đổi hiền. Có gì đâu. Bác chỉ tiếc là khi đời không còn vướng bận, thì coi như quá trễ rồi cho chuyện tu học, chuẩn bị nẻo về đang ngắn lại từng ngày. Bác ơi, không có trễ đâu! Bởi chung quanh bác có rất nhiều người cho đến hết đời vẫn không có đủ duyên để đến với cửa chùa, học hiểu pháp Phật, để sống nhẹ nhàng, chết được bình an. Bác còn đôi mắt sáng để lái xe, còn sức khỏe dù hạn chế nhưng vẫn có thể một mình đến đi, không lệ thuộc vào ai. Như vậy là phước lớn so với rất nhiều người đồng tuổi. Khuôn mặt người mẹ già thoáng nổi băn khoăn. Con nghĩ, với thân xác rã rời đau nhức dêm ngày và trí óc ngày càng trì trệ lu mờ, thì sự tu tập của người già như bác làm sao bằng con trẻ?

Sân chùa im vắng. Phật tử đã tề tựu đầy đủ trong thính phòng, chờ cung thỉnh thầy vào thuyết giảng. Tuy chưa bao giờ rũ bỏ hết những vướng bận hằng ngày, để tới tham dự khóa tu học liên tiếp 3 ngày, ăn ngủ tại chùa nhưng tôi biết thời khóa tuần tự trong chương trình tu học. Khi thầy tri sự rời giảng đường, để mẹ và em gái lại nơi đây, tôi bước vội theo chắp tay chào. Xin thầy gíup cho con được gặp thầy Nguyên Tạng. Thầy hỏi, pháp danh của chị là chi, để tôi trình lại với thầy. Bảo tôi ngồi đợi trên chiếc ghế xích đu ở sân chùa, vị thầy trẻ đi nhanh vào dãy nhà ngang, sau đó trở ra từ chánh điện, cũng thật nhanh như lúc bước đi. Chị NT cứ ngồi chờ đây. Thầy sẽ ra gặp chị khi xong việc. Không có gì vội vã. Cuộc hội ngộ này đã hẹn trưóc lâu rồi. Cách đây hai năm, thầy và tôi cũng hẹn gặp nhau ở Houston, nhưng không gặp được vì cả hai thầy trò đều có vẻ hơi... ngơ ngác, ơ hờ bởi không hỏi rõ nhau hơn, trong chuyến hoằng pháp vòng quanh nước Mỹ của thầy lần trước. Cho tới ngày nghĩ rằng sẽ gặp, Thầy mới chợt biết Dallas và Houston là một khoảng cách xa. Còn tôi, có lỗi đã vô tình, không tìm biết cặn kẽ lịch trình đi và đến, để khỏi ngóng trông chuyện... không thể xãy ra, làm thầy hơi bất ngờ, kèm theo một chút băn khoăn, vì không lấy số phone để gọi báo tin cho tôi biết vì sao chẳng thể gặp như đã định. Lần này, thầy chu đáo vô cùng., vừa gởi lịch trình hoằng pháp vừa cẩn thận lấy số phone. Thầy gọi cho tôi ngay khi vừa tới California vào tuần lễ trước..

Gió sớm mai lành lạnh thổi nhẹ nhàng, làm lao xao nhũng chiếc lá trên cành. Giải mây trắng như màu sương đục phũ mờ cả bầu trời. Từ những chiếc loa phóng thanh gắn chung quanh, tôi nghe lời giảng trầm ấm, có lúc vui nhộn và dí dõm của vị thầy mới thoáng gặp lần đầu. Chợt nhớ tháng Ba, với riêng tôi dường như chẳng êm đềm, "Tháng Ba, bà già đi biển", vậy mà người sư huynh ở xa nói tôi "say sóng" hơi lâu. Làm sao có thể nói ra, những quả chợt trỗ hay là nghiệp quả làm lao đao, khốn đốn triền miên. Phải là người lênh đênh trên biển, không có gì ngoài đôi tay yếu đuối, bơ vơ và vô vọng khi đối diện với bão tố, cuồng phong mới thấu hiểu mình không thể nào trốn chạy khi khổ nạn lừng lững kéo về, cho dù đã lâu rồi tự xem mình như hạt bụi, nổi trôi biệt mù trong cơn gió nghiệp chập chùng. "Không làm điều ác. Gắng làm các việc lành. Giữ tâm ý trong sạch" là những gì tôi tâm niệm từng giờ, từng ngày trong những năm tháng sau này. Vậy mà vẫn không đủ để được thấu hiểu, cảm thông. Gai góc, chướng ngại vẫn không ngờ vây bũa.

Không dưng mà chợt nhớ đến bài hát vừa nghe khi mở radio ở trong xe. "Tàn mùa đông. Vào chùa bỡ ngỡ. Tiển đưa em, trong áo quan này. Từng cội hoa, trầm lặng thương nhớ. Tóc em xưa, tơ óng như mây. Vườn chùa đây, vào nằm trong đất. Nép bên hoa, đây những hoa vàng. Vườn đào thơm, chập chờn cánh bướm. Bướm quơ râu, ngơ ngác bay ngang. Mộ của em, mộ vừa mới lấp. Có con chim nào hót trên cây. Lời của chim, chìm vào tiếng suối. Suối xanh lơ, buồn khóc ai hoài. Rồi từ đây, vườn chùa thanh vắng, đến thăm em, ngày tháng qua mau. Một nụ mai, vừa nở trong nắng. Hỡi em ơi, mây đã qua cầu...". Cũng những lời ca quen, quen lắm ngày xưa. Nhưng thật lạ, bởi không còn cảm nghe buồn muốn khóc như ngày cũ. Sẽ vô cùng hạnh phúc, nếu thân này nằm yên ngủ thật sâu trong lòng đất sân chùa. Nỗi buồn nếu có của ai, rồi cũng sẽ nhẹ bay đi mất dấu như mây. Còn lại tiếng chim hót, lá rơi và nụ mai e ấp nở khoe hương sắc trong nắng ấm. Ở đây, còn có thêm niềm hạnh phúc lớn hơn, nằm yên nghỉ và nghe pháp thoại đến từ các vị thầy ở khắp muôn phương, há chẳng phải là niềm hạnh phúc vô bờ....Tôi giật mình. Có phải là mình đang yếm thế, bi quan. Muốn buông trôi hết để thảnh thơi yên nghỉ trong khi chưa "thanh toán" hết những gì còn dính mắc, kéo lôi. Biết tháo gỡ thì nghịch sẽ trở thành thuận, chướng duyên cũng là thắng duyên, lẽ đâu tôi không nhớ điều này. Huống chi, sư huynh vẫn nhắc hoài hoài: "Việc dễ thành đạt thì kiêu sa nổi dậy. Càng trở ngại, càng gian khổ khi vượt qua được thì sự thành công càng có giá trị hơn.". Không. tôi sẽ không trốn chạy những gì đang xãy đến. Chỉ thấy nước mắt và nụ cười nhiều khi hòa làm một không ngờ. Sư huynh ơi! Lâu lâu tiểu muội cũng cần được nghe sư huynh nhắc nhỡ, hành trang vào đời của những người con Phật là Bi, Trí, Dũng phải không? Cũng lâu lâu, người hiền huynh đằm thắm từ hòa, trở thành người thầy nghiêm khắc khi thấy tiểu muội lẫn lộn giữa nhẫn nhục và nhu nhược."Đường đi khó, không khó vì ngăn sông cách núi. Khó vì lòng người ngại núi, e sông". Sư huynh ơi, núi sông của thiên nhiên dường như dễ vượt qua, hơn là những thành quách kiên cố của thành kiến, sợ hãi khiến người không ngừng trở nên điên đảo mộng tưởng hoài hoài. Sư huynh đừng băn khoăn hỏi, có giọt nước mắt nào chảy ra không lúc sư huynh vì ai phải xuống núi đôi khi. Chỉ có một chút tủi thân nhưng tiểu muội vẫn mĩm cười. Nụ cười thật sự vì biết mình chẳng bơ vơ trong biển khổ một mình. Thầy lành, bạn tốt huynh hiền và thêm một đứa em gái mới nhận vào trong cuộc sống với lòng bi mẫn tràn đầy, bên cạnh những người thân lúc nào lo lắng, xẻ chia... tiểu muội luôn nhận biết mình có phước.

"Đưa tâm về nhà", về lại với thân. Tôi tự nhắc mình rồi xé rời trang giấy trắng, ghi vội đôi giòng gởi cho thầy, nếu như không có cơ hội hàn huyên vì những thời khóa định sẵn, trong khi tôi chỉ có mặt vào giờ phút cuối. Thầy tri sự trở ra lần nữa, nói nếu ngại chờ lâu tôi có thể đi vào chánh điện, nơi thầy NT đang giảng pháp cho các em thiếu nhi cùng theo cha mẹ đến chùa tham dự khóa tu học ba ngày. Chắp tay cảm ơn thầy, tôi rão bước đi về nơi chánh điện. Vừa cởi bỏ giày xong, tôi bắt gặp ánh nhìn của thầy hướng ra ngoài, kèm câu nói chị NT, hãy vào đây với các em. Tôi thầm nghĩ, phút đầu tiên thầy trò gặp nhau như đã gặp tự bao giờ. Thế giới ảo bao năm giờ là thật trong phút giây hiện hữu. Thầy mặc chiếc áo nâu giản dị hiền lành đang ngồi xếp bằng nơi chánh điên. Phía dưới là sư cô Hạnh Trì cùng với mười mấy đứa trẻ vừa trai vừa gái ngồi lặng yên chăm chú lắng nghe. Các em đang chuẩn bị cho buổi lễ quy y sau khi bế mạc khóa tu học hôm nay. Thầy giảng cho các em nghe về Tam quy, Ngũ giới trong nhà Phật. Sư cô Hạnh Trì như một người mẹ hiền, dành trọn thời giờ để dạy dỗ, hướng dẫn sinh hoạt và chăm sóc đám trẻ con suốt đêm ngày, trong một môi trường hoàn toàn xa lạ với các em. Sư cô- một người đến từ phương trời xa thẳm mịt mờ, bỗng chốc trở thành người mẹ hiền, với vòng tay từ ái, dịu dàng mở ra ôm trọn đàn con. Bên cạnh việc gieo trồng chủng tử Phật trên mảnh đất tâm màu mỡ phù sa, chỉ qua đôi câu đối thoại giữa sư cô và đám trẻ, tôi tin chắc hình ảnh sư cô sẽ in sâu vào tâm thức của đám trẻ thơ như hình ảnh đức Quán Thế Âm với tình thương rộng khắp, bao la.

Sau buổi giảng thầy bảo tôi cùng ngồi xuống cạnh các em, để sư cô chụp hình lưu niệm với thầy. Sau đó tôi cầm máy ảnh, chụp lại vài tấm ảnh có sư cô. Tôi không quên lấy chiếc máy nhỏ mang theo, dù biết chắc thầy thường chu đáo, giữ liên lạc đều đặn, không để cho “mất dấu chim bay” suốt bao năm. Tôi rão bước theo thầy ra phía sau chánh điện. Thầy ân cần hỏi han về những sinh hoạt và đời sống quanh tôi ở nơi đây, nhất là về mẹ- ngưòi mẹ dù chưa lần tạng mặt, thầy vẫn thường xuyên thăm hỏi qua thư. Bảo tôi ngồi đợi trong giây lát, thầy đi ra phía hậu liêu rồi trở lại mang theo quà tặng cho mẹ và tôi. Là quyển sách mới in do thầy dịch và nhiều CD thầy thuyết giảng. Dù ở xa, dù bận rộn cho việc học, việc dịch sách, việc Phật sự nơi tu viện cũng như điều hành trang nhà Quảng Đức....công việc đa đoan như vậy nhưng thầy vẫn không quên gói ghém, ra bưu điện gởi cho tôi những pháp bảo đều đặn không ngừng trong suốt những năm qua. Tôi cười khi bị sư huynh quở trách thật nghiêm, nhưng tự dưng chảy nước mắt khi nói cho thầy nghe về những cơn gió chướng bát phong. Trên giòng sông tôi đang mệt lã tay chèo, còn va vào tảng đá ngầm chướng ngại làm sao không chới với. Thầy lặng nghe như chia sẻ cùng tôi những gian nan, sau đó giới thiệu tôi cùng người bạn đạo đến từ Dallas. Thầy mong tôi sẽ vuợt qua và hoàn thành tâm nguyện của mình, bên cạnh sự trợ giúp của những người bạn đạo có chuyên môn và kinh nghiệm về những gì mà tôi đang cần học hỏi để vượt qua. Dành riêng cho tôi một khoảng thời gian để hàn huyên, tôi nghĩ mình không nên "tham" hơn nữa trong thời giờ giới hạn của thầy ở nơi này. Nghe tôi xin phép trở lại giảng đường nghe pháp, thầy đưa máy bảo người đệ tử chụp cho thầy và chị NT hai tấm hình lưu niệm. Nhớ chụp luôn cả gác chuông ở ngoài kia. Sau đó chiếc máy ảnh được trao qua tay tôi để tôi chụp hình Quảng Pháp đứng cạnh thầy, thay vào chỗ tôi vừa mới đứng. Thầy còn chu đáo, bảo hai chị em vào đứng với nhau cho thầy chụp hình chung. Mai mốt giữ liên lạc, ráng giúp nhau làm Phật sự. Thầy sẽ gởi hình qua email cho cả hai vào buổi tối nay.

Tôi nhẹ nhàng bước tới cạnh chỗ ngồi cô em gái. Đứa em rễ không có mặt trong giảng đường mà vừa dạo quanh vừa nghe ở sân chùa qua máy phóng thanh. Mẹ với chân đau, không thể ngồi xếp bằng nên ngồi trên hàng ghế xếp dài ở cuối phòng. Sau giờ nghỉ giải lao, giờ giảng cuối dành cho thầy Như Điển. Buổi tu học cuối cùng dường như thoải mái nhiều. Bộ óc lung lay quên nhiều, nhớ ít của tôi giữ lại được đôi câu. Thầy "không tự ti nhưng rất tự tin. Không lợi dụng bất cứ ai, bất cứ điều gì- chỉ lợi dụng thời giờ". Đúng là tôi có duyên lớn hôm nay. Hơn bao giờ hết tôi đang cần tự tin và biết lợi dụng thời giờ quá chật vật của mình để tiếp tục đi tới, ráng thực hiện điều tôi hằng tâm nguyện, như trong lá thư bữa hôm sau thầy NT đã tỏ ý quan tâm và gởi lời chúc lành đến cho tôi. Cũng qua thầy Như Điển, tôi được biết có một quyển sách sắp hoàn thành và phát hành trong tháng 9 năm nay, là quyển Dưới bóng đa chùa Viên Giác do Trần Trung Đạo và thầy cùng viết. Thầy và nhà thơ này đã có duyên gặp và cùng sống chung dưới mái chùa Viên Giác khoảng hơn 1 năm thuở xa xưa. Cũng qua lời thầy, còn một quyển khác sẽ xuất bản trong vài tháng tới do thầy viết. Tôi không biết thầy có đùa không khi nói đó là quyển Giai nhân và hoà thượng. Người đệ tử của thầy khi đánh máy bản thảo đã tẩm ướt lap top bằng nước mắt của anh. Thầy nói giọng dí dõm, đọc rồi sẽ biết anh rơi nước mắt vì giai nhân hay hoà thượng!

Giờ thọ trai, tất cả chư tăng ni và Phật tử đều dùng cơm chung ở trai đường. Sau lời chú nguyện , bữa ăn trôi qua thật lặng lẽ, êm đềm trong chánh niệm. Tôi thành tâm tán thán những tấm lòng của rất nhiều người, âm thầm cực nhọc đêm ngày để chăm sóc từng bữa ăn tươm tất sáng, trưa, chiều, tối, cho một trăm mấy chục Phật tử cùng các vị tăng ni về chùa tu học qua nhiều thời khóa liên tục vào những ngày lễ lớn nhỏ trong năm nơi chùa Tịnh Luật. Tôi cũng vô cùng biết ơn và kính ngưõng quý thầy, từ thầy trụ trì đến hết thảy các thầy đã không quản ngại nhọc nhằn, dành nhiều tâm sức để liên tục cung thỉnh chư vị tôn túc ở khắp nơi trên thế giói, về chùa giảng pháp, dắt dìu những người con Phật có tâm cầu đạo. Buổi lễ bế mạc diễn ra trong không khí trang nghiêm và ấm áp ngọt ngào đạo vị. Các thầy trao quà cho những Phật tử xuất sắc trong ba ngày tu học vừa rồi, trong đó có bà cụ khoảng tuổi mẹ tôi, 80 mấy tuổi mà cụ vô cùng lưu loát và vững chãi trong tu tập ,quả không phụ lòng giáo hóa, dắt dìu của quý thầy. Tán thán công đức của chư tăng ni trong đoàn hoằng pháp đến từ nước Úc, nước Đức cũng như trong nưóc Mỹ và quý thầy chùa Tịnh Luật, tất cả Phật tử cùng quỳ xuống đãnh lễ xong dâng lên cúng dường cho từng vị. Những chiếc máy ảnh thay phiên nhau chụp hình lưu niệm toàn chùa.

Tôi đưa mẹ và em gái đến chào thầy NT. Thầy hỏi thăm mẹ và em, không quên hỏi đến người em rễ đang loanh quanh ngoài sân chùa từ sáng sớm đến giờ. Ba mẹ con cùng đứng chắp tay cạnh bên thầy để chụp hình- những tấm hình tôi biết chắc rằng sẽ có, vì thầy đã nhắc đến trong buổi sáng ngay khi vừa gặp. Mẹ tôi vẫn tính im lìm cố hữu, dù trong lòng mẹ thầy rất đổi gần tuy đây là lần gặp đầu tiên. Bởi tôi không nhắc thì lâu lâu mẹ là người nhắc, dường như tất cả những gì liên quan đến việc tu tập, chùa chiềng quanh đời sống của tôi đều có mẹ cùng chia. Cũng như đứa em gái kế, giống như chiếc bóng lặng thầm theo tôi trên từng bước gập ghềnh. Được gặp thầy, sau nhiều năm chỉ gặp nhau bằng những mẫu tự trên bàn phím là một nổi vui. Được thầy chia sẻ, an ủi và khích lệ là niềm hạnh phúc. Bên cạnh đó tôi còn niềm vui lớn, bởi sau buổi tham dự khóa tu học ngắn ngủi ở chùa em gái tôi như vừa tìm lại con đường trở về nhà, sau những ngày lang thang lạc lối bấy lâu nay. Tôi nghĩ mình đôi khi thiếu sót, bởi hơi ơ hờ và có chút nãn lòng. Hạt giống đã gieo cần siêng năng tưới tẩm. Tôi có lúc chỉ nhìn thấy tôi nên đã thối chí, ơ hờ với đứa em dường như có ước hẹn cùng chia với tôi từng nổi khổ, niềm vui...Bước theo sau thầy ra khỏi giảng đường, mấy mẹ con dừng lại ở sân chùa chắp tay chào tạm biệt thầy. Thầy cho tôi biết sẽ ra phi trưòng sáng ngày mai, rời Houston để tới Oklahoma và sau đó là Minesota theo chương trình hoằng pháp.

Ngày thứ hai, tôi đi làm bỏ quên điện thoại ở nhà. Buổi tối về mở nghe lời nhắn: Thầy cần điạ chỉ email để gởi hình. Nhớ tôi hay dùng hai địa chỉ khác nhau nhưng thầy không chắc nhớ đúng cho nên muốn hỏi lại tôi. Tôi mĩm cười bấm số gọi cho thầy. Xếp chiếc điện thoại nhỏ, lòng chợt ấm khi nhận lời chúc ngủ ngon thầy gởi cho tôi, dù đêm nay nhiệt độ nơi đây xuống thấp giống như mùa đông còn ở lại, chưa đi...