Wednesday, August 31, 2005

Tình người trong cơn bão

Ngày cuối cùng của tháng Tám, Houston vẫn là một ngày nóng, oi nồng. Nhiệt độ vẫn còn ở con số 99, không mưa. Người dân thành phố xôn xao. Nắng và nóng chừng như hun đúc, làm ấm nồng thêm những tấm lòng, mở ra, đập chung nhịp đập trái tim, với những nạn nhân từ Louisiana, Mississippi về lánh nạn khi cơn bão dữ Katrina kéo đến.
Một nhóm thiện nguyện được hình thành nhanh chóng, có mặt từ sáng tới đêm tại siêu thị Hong Kong-siêu thị VN lớn nhất Houston. Qua sự kêu gọi của đài phát thanh VN ở địa phương, người của các nhà thờ, các chùa và rất nhiều người VN trong thành phố, có mặt ghi danh, nhận đón tiếp, đem về nhà thờ, chùa, nhà riêng để chăm sóc tận tình những người đồng hương nạn nhân của thiên tai. Gần 500 người đã được mời về nơi cư ngụ tạm. Một điều làm ấm áp lòng: số người tình nguyện giúp cho nơi tạm trú, nhiều hơn số người tìm kiếm chỗ nương náu tạm thời. Một quỹ trợ giúp nạn nhân bão Katrina cũng đưọc hình thành. Đài phát thanh VN tường trình diễn tiến và mở mục nhắn tin tìm thân nhân liên tục trên làn sóng phát thanh. Những gift card để đỗ xăng, để vào ăn ở những tiệm fast food...được mua đem tới tặng cho người lánh nạn.Bên cạnh đó, người Việt từ Dallas, đang có nhà để trống tại Houston cũng sốt sắng nhờ họ hàng, người thân mở cửa đón đông hương tìm về lánh nạn tạm thời.
Chiều qua, trên đường đi làm về My chợt nhớ đến Thanh Tâm. Cô bạn đạo chuyên phát hành băng giảng, CD Phật pháp miển phí của quý Thầy cho Phật tử xa gần. TT hiện ở Louisiana với ba mẹ và em. Mấy năm trước khi liên lạc qua e-mail trên Net, cả hai đều không thắc mắc gì nhau. Cho đến một hôm, thầy Nguyên Tạng bên TVQĐ, forward lại lá thư My gởi TT. "Chị Nguyên Thảo, có phải thư này là của chị hay không? TT là nữ, khoảng tuổi em gái chị. Thầy mong rằng hai chị em NT-TT sẽ tiếp tay làm Phật sự với nhau". My cười, gởi lại lá thư cho cô bé TT. Nói chẳng ngạc nhiên vì chị vẫn đôi khi My được gọi bằng "anh Nguyên Thảo". Rồi chính My cũng thấy tên Thanh Tâm bèn gọi đại bằng anh. Có điều, cô bé này lém lĩnh, chỉ nói với thầy khi biết thầy với My thường liên lạc với nhau.. Cũng hơi lâu không liên lạc. My gọi qua Virginia để hỏi số phone từ cô bạn nhỏ Nguyên Thanh. Gọi TT, cell phone không mở. My gọi vô TTPG chùa VN vì nghe có khoảng 100 người từ vùng bão chạy về ở tạm trong chùa. Thầy NĐ có trí nhớ thật hay. Nghe My hỏi thăm TT, thầy cho biết nơi TT ở vẫn bình yên nên không có chạy về đây. My hỏi thêm về những người đang tạm trú ở chùa. Thầy cười, nói chùa thiếu thốn tiện nghi quá cho nên đa số đã được PT đón đem về nhà hoặc họ ra mướn hotel ở tạm. Nguyên Thảo có rãnh không chạy vô chùa tiếp thầy một tay dọn bữa chiều nay. My cười. Con mới đi làm về. Giờ mới bắt dầu đi nấu cơm chiều cho cả gia đình.
Mẹ nghe radio đài VN. Coi tivi đài Mỹ, lòng xa xót, ngậm ngùi bởi sự tàn phá kinh hồn làm tổn hại bao của cải cùng sinh mạng con người khi cơn bão dữ kéo qua. Mẹ nói nhà mẹ nhỏ. Lại không có ai lái xe chở đi đây đó khi cần. Khả năng mẹ chỉ có thể nấu những bữa cơm. Không mời được những người đồng hương gặp nạn về nhà để xoa dịu phần nào nổi khổ buồn, mẹ có vẻ như ray rứt lắm. My an ủi mẹ đừng buồn. Không làm được chuyện giúp nơi ăn, chốn ở, mẹ giúp bằng phương tiện khác. Có một niềm vui thật lớn trong My. Giữa khổ nạn của nhiều người, đã cho My và tất cả những người trong thành phố, từ Houston tới Dallas xa xôi, nhìn thấu rõ lòng từ trải rộng, cho dù đang ở bất cứ nơi nào trên đất tạm dung này.

Quỳnh My

Monday, August 29, 2005

Nụ cười sớm mai

Buổi sáng mặt trời lên muộn. Cơn mưa nhỏ cuối tuần không đủ làm đẫm ướt những bụi cây. Hai mẹ con ra sân chờ chuyến xe bus số 3. Chuyến xe đã dừng lại đón con trai lớn lúc 6:30 sáng, và quay trở lại đón con trai nhỏ lúc 7 giờ 25 sau đó.
My thường ra sân sớm, mở vòi nước tưới cây trong khi cu Duy đứng cạnh bên hỏi vu vơ. Mẹ ơi, những con chim nhỏ bay đi đâu để tránh mưa cho khỏi ướt? Mẹ ơi, mùa lạnh chim về đâu, mẹ có biết không? My nhìn thấy rõ, điều khác nhau ở mỗi đứa con. Đứa lớn thường hay che đậy, không muốn cho ai biết nó nghĩ gì, luôn luôn không bộc lộ tình cảm ra ngoài bằng cử chỉ hay lời nói. Chỉ mình My mới có chìa khóa để thỉnh thoảng mở nhẹ nhàng cánh cửa mà con như đóng kín, còn dán thêm lời yêu cầu, xin đừng có chạm vào! Trái lại ở đứa em, My thường nhìn thấy vẻ băn khoăn để ý tới cỏ cây, hoa lá và cả những con thú chung quanh. Điểm này con trai hơn cả mẹ, bởi không hiểu vì sao My dường như ơ hờ không có chút gắn bó nào với chim muông, thú vật quanh My. Thời My còn ở nhà với mẹ, chàng đem tặng cho My con chó nhỏ dễ thương. My than thầm vì đã tặng lầm người! Không ngờ sau đó chẳng bao lâu, My lau nước mắt đem chôn người bạn nhỏ có cuộc đời ngắn ngủi. My hay ăn ngọt, Mimi cũng đã mê ice cream và còn mê luôn cả cookie thay cho những thứ chè mẹ nấu thật ngon mà Mimi không thể tham gia. Mimi chết nổi buồn của My và mẹ rồi cung nguôi ngoai, nhưng cả hai mẹ con đều tuyên bố sẽ không bao giờ nuôi bất cứ con gì trong nhà nữa. Ngày My về với chàng, điều làm My bứt rứt nhiều, chính là hai hồ cá để cạnh nhau ở trong nhà. Một hồ nuôi cá nước ngọt và một hồ cá nước mặn. My có lẽ thừa hưởng từ nơi cha, không cam tâm khi nhìn bất cứ con vật nào bị giam cầm. Ngày nhỏ My theo anh trai đi bắt dế. Hình ảnh làm My đau xót hãi hùng chính là khi thấy các anh bẻ trong đám cỏ dại một cọng cỏ mềm màu trắng, có hình dáng như cây cọ dài. Cây cọ bằng cỏ này được ngoáy vào đám kiến lửa nhốt trong hũ nhỏ. Khi kiến bám đầy lên đầu cây cọ, anh My bắt đầu thả cho đàn kiến lửa bò vào trong hang dế. Những con dế bị kiến tấn công vội vã chạy ra, có nhiều bàn tay đợi sẵn tóm gọn, nhốt vào trong hộp. Ba My không chứng kiến cảnh này. Chỉ cần một lần ba nhìn thấy như My, chắc chắc các anh My không bao giờ dám tái phạm trò chơi bắt dế. My đã từng xăm soi con dế lửa. Đưa tay sờ nhẹ chú dế than nhanh nhẹn, tí hon, cũng như tò mò theo sát các anh, coi trò chơi đá dế ra sao mà lũ trẻ con ai cũng thích. Sau lần nhìn tận mắt những con dế nhỏ tội tình, chịu cực hình và sợ hãi tới độ nào, My thầm biết ơn ba, đã giải thoát cho cho đám dế đủ loại bị các anh bắt nhốt. Lũ dế nửa đêm buồn bã gáy, ba My chợt nghe ra và gọi anh My thức dậy đem ra thả liền ở sau nhà. Tội bắt dế hôm sau sẽ tính, bằng chiếc roi mây ba có sẵn trong nhà. Có lần chiếc roi mây bị thủ tiêu. Ba đem về một cuộn mây thật lớn của những người đi rừng "đem tặng". Các anh bấy giờ mới khám phá ra. Thà bị đòn bằng roi cũ đã dùng lâu nên mềm mại, dịu dàng hơn qua những cái quất thẳng tay. Roi mới cứng ngắc như tăng thêm phần đau đớn. Từ sau khi nhìn các anh bị đòn roi, thêm biết rõ dế làm sao mà bắt được, My hết ham ngắm dế, hết ham hát bài hát trẻ thơ:
Nhà em có nuôi một con dế
Trông nó đen như than hầm
Sáng nó kêu ré, ré, ré
Trưa nó kêu rè, rè, rè
Tối nó kêu ré, ré, rè...
My nhớ ngày trước mỗi lần cúng giỗ cho ông bà ngoại, mấy người dì của My từ dưới quê lên trước một ngày. Dì Út của My vừa xinh đẹp, vừa khéo léo đảm đang nhưng cũng vừa rất nóng nảy "chằn ăn", như các chị anh My vẫn nói lén sau lưng. Vô phúc cho đứa cháu nào lầm lỗi, dì sẽ thẳng tay dạy dỗ bằng roi vọt trong khi mẹ của My chưa bao giờ dùng đến với con. Một buổi chiều trước ngày giỗ ngoại, dì hớt hải kêu lên khi khám phá ra mấy cặp vịt, gà dì tuyển chọn mang lên từ dưới quê đã biến mất, trước khi dì ra tay cắt cổ từng con. Điều đầu tiên dì nghĩ đến, là hàng xóm tham lam đã ăn cắp mất, vì dì chỉ cột hờ sợi dây thả cho ăn thóc ở sân sau. Có lẽ sợ dì gây thêm khẩu nghiệp, Ba My cười cười lên tiếng ngăn liền. Dì Út à, nói dì nghe đừng buồn. Anh là người cắt dây thả lũ gà, vịt cho đi. Thật sự anh giờ đã quy y và thọ ngũ giới rồi cho nên không cam tâm nhìn thấy dì cắt cổ lấy mạng đám gia cầm tội tình này. Từ nay trở về sau dì nhớ đừng đem gà vịt dưới quê lên nữa làm chi. Sau đám giỗ này anh với chị Hai em sẽ chỉ nấu món chay để cúng giỗ cho nội ngoại hai bên. Dì Út My sững sờ không nói năng gì. Giận ba My phải biết, nhưng các dì vốn quý kính ba My giống như một người cha, vì ba đến với mẹ không bao lâu thì các cậu dì trở thành trẻ mồ côi. Ba My cùng mẹ lo lắng, chăm sóc đàn em bốn đứa, còn gả chồng cho các dì luôn. Không nói nhưng dì giận dỗi, sau đó cho mẹ biết rằng ngày giỗ năm sau dì sẽ chẳng về. Để anh chị cúng chay, em cúng mặn kệ em. Cha mẹ, ông bà mình có biết ăn chay đâu mà cúng!Ba My cười buồn, biết không thể nói gì hơn với người em vợ luôn luôn nghĩ mọi chuyện đều "bất di bất dịch". Tổ tiên, ông bà làm sao, cháu con phải làm y như vậy, không sai. Cúng giỗ là để cho ông bà, cha mẹ được ăn ngon, chứ không phải là tấm lòng tưởng nhớ của con cháu dành cho người đã khuất, tìm về cùng góp chung lời cầu nguyện cho người quá vãng được siêu thoát, nhẹ nhàng đi về nơi thật sự an vui...
Phần My, My nói sao cũng mặc. Vẫn còn y hai hồ cá trong nhà. Em thật là lắm chuyện. Cá kiểng sinh ra là để được sống ở trong hồ, cho người ta chăm sóc ngắm nhìn. Như vậy sướng chứ đâu có chi là khổ! Những con cá nước mặn bơi lội tung tăng giữa đám rong rêu, màu sắc xinh đẹp, rực rỡ, làm sao My không thấy. Nhưng nước trong hồ đâu như nước ở biển khơi. Dù thay nước, dù bỏ thêm hoá chất thì cá vẫn lặng lẽ thay nhau qua kiếp khác. My chạnh lòng mỗi khi qua đêm thức dậy, nhìn xác cá tái tê bất động, trôi bềnh bồng qua lớp kiếng trong veo. Chàng mãi rồi cũng mệt mỏi vì thay nước hoài hoài, mua thêm cá mới nhưng chẳng con nào sống thọ. Hồ cá nước mặn coi như đóng cửa, chàng đem tặng cho người cậu của My. Còn lại những con cá Tàu bụng bự, mắt lồi. Cho đến lúc con trai My có mặt, lớn dần và biết thay bố cho cá ăn, một lần nhiều bằng một tháng vì muốn cá của con mau lớn! Thế là cá bội thực, cả đàn rũ nhau thả nổi, nghỉ không bơi. Chàng cuối cùng dọn dẹp nghỉ chơi nuôi cá. My "thở ba hơi, miệng mỉm cười" nhẹ nhõm trong lòng. Từ đây hết bứt rứt buồn phiền cảnh cá chậu, chim lồng. Cô bạn nhỏ cười, em chắc chị động lòng trắc ẩn, vì cảnh chim hót trong lồng của chị đó mà!
Trên những sợi dây điện, đàn chim tung cánh vội. Chiếc school bus màu vàng sắp sữa ngừng ở góc đường. My xiết nhẹ tay con nói vào lớp nhớ ngoan, rồi khẽ cuối xuống chìa má cho con hôn nhẹ trước khi bước vội . Cu Duy đã không thèm hôn My "ở ngoài đường" dạo trước lúc nghỉ hè. Hỏi ra mới biết chú nhóc sợ đứa con gái hàng xóm cùng đón bus sẽ cười con. My nói nó vẫn đứng đợi bus với con từ bữa đầu tiên đi học. Con vẫn hôn mẹ trước mặt nó gần 6 năm rồi đâu phải lần đầu. Con đừng bao giờ lo người khác nghĩ gì. Chỉ cần biết rõ con làm gì thôi, là đủ. Cu Duy an tâm, vừa hôn mẹ vừa liếc nhìn xem con bé đi chung xe thái độ ra sao. My cười hài lòng khi chợt nhận ra, con bé Tàu này cũng bắt đầu hôn mẹ trước khi bước lên bus như cu Duy vậy.
Nắng đã lên, chiếu những tia long lanh trên đọt lá còn xanh. My vừa đưa tay vẫy vừa gởi cho ông bus driver một câu chào buổi sáng, là thói quen My vẫn có suốt bao năm. Tuần lễ đầu niên học mới năm nay. My chào và nhận lại ánh mắt lạnh lùng như không thấy, không nghe. Cô láng giềng cùng đứng với con khẽ bảo My. Ông Mỹ đen lái bus năm nay ngó bặm trợn, không chút gì thân thiện. Sang tới ngày cuối tuần thấy My vẫn tươi cười gởi một câu chào mà không nhận lại được gì. Cô hàng xóm lên tiếng, ông ta bất lịch sự quá, chị chào chi cho mệt. My cười, nói thấy ông buồn cho nên gởi ông một nụ cười tươi. Dù sao ông vẫn là người mình gặp mỗi đầu ngày. Là người đón, đưa con suốt mùa học năm nay.
Cô láng giềng của My sáng nay bỗng cười tươi. Cô có vẻ còn vui hơn My nữa khi chợt thấy ông bus driver "nghiêm và quạu" của con, nhìn My vẫy tay cười khoe hai hàm răng trắng nõn nà. My ngước nhìn lên cao, đàn chim đã trở lại ríu rít trên hàng dây điện trước sân nhà. Mây xanh quá, gió chừng đang nhẹ thổi. Cầu mong cơn bão từ Louisiana không đem đến những tai ương cho thành phố biển ở nơi đây.

Saturday, August 27, 2005

Bát báu A Tu La

Tương truyền rằng A Tu La là một loài chúng sanh ở khoảng giữa loài người và loài trời. Nam A Tu La thì hung bạo, xấu xí, còn nữ A Tu La thì trái lại cực kỳ xinh đẹp.

Các tôn giả A Tu La cũng có phước báu như chư thiên, nghĩa là không phải lao động vất vả như chúng ta mà vẫn có cơm ăn. Mỗi A Tu La đều có một chiếc bát báu, màu sắc và hương vị khác nhau, không ai có thể ăn ké của ai được hết.

Ðiểm đặc biệt của dân chúng A Tu La là họ rất dễ nỗi giận. Vì vậy mà hầu hết đàn ông con trai A Tu La đều dùng thì giờ rảnh rỗi để đánh lộn với chư thiên thay vì trồng trọt mua bán như loài người. Phụ nữ A Tu La thì không bận nấu nướng giặt giũ, tề gia nội trợ như phụ nữ của loài người nên rất ư là diễm lệ...

Nhưng mà... ấy chứ! Xin các tôn giả loài người chớ nghe nói thế mà vội vã phát nguyện sinh về thế giới của A Tu La. Cũng theo tương truyền rằng chiếc bát báu của loài A Tu La là một vật dụng kỳ dị. Nghĩa là trong giờ ăn khi các tôn giả A Tu La đang xực phàn một cách ngon ơ thì bỗng dưng thức ăn của họ bỗng biến thành đồ bất tịnh, đầy dẫy những bùn đất dòi bọ... Vì thế mà các A Tu La cảm thấy nhàm chán, thống khổ kịch liệt khi phám phá ra mình đang ngậm và nhai những của quỷ ấy!

Như thế loài A Tu La chỉ được ăn có nửa bát mà thôi... Nếu kẻ nào húp hết cạn tàu ráo máng thì không sao tránh khỏi tình trạng trên.

Em thân mến!

Truyền thuyết trên đây hư thực thế nào chúng ta chưa rõ được nhưng em có nhận thấy loài người chúng ta chỉ hưởng được có phân nửa hạnh phúc trần gian, hệt chiếc bát báu của loài A Tu La chăng!

Từ lúc chúng ta chào đời thân bằng quyến thuộc đầy đủ, nhà cửa sung túc, cầu được ước thấy. Ðó chính là nửa bát trên và nếu phần trên ngon ngọt dễ chịu bao nhiêu thì phần dưới lại đắng cay ê chề bấy nhiêu. Ðó chính là lúc chúng ta vật vã khóc than chôn cất hết người thân này đến người thân khác, phải đối diện với cái già, cái chết, những tai biến thình lình xảy đến. Cũng giống hệt như loài A Tu La, chúng ta không biết phải nên dùng đũa nào để khỏi ăn nhằm đồ bất tịnh.

Mỗi lần vớ được ngũ dục là chúng ta hưởng thụ một cách mê ly cho đến bao giờ bị chúng làm cho đau khổ khốc liệt, nuốt không xong mà nhả chẳng ra... đợi đến lúc ấy chúng ta mới chịu dừng đủa thì ôi thôi... quá muộn rồi!

Các thứ tình đời, tình bạn, tình yêu... đều là những món nhấm khó chịu như thế cả. Em có thấy vậy không?

Hãy thử nhìn các cặp tình nhân mới yêu nhau thì biết, khoé mắt, làn môi, giọng cười tiếng nói của họ đều biểu lộ một niềm hỷ lạc, hạnh phúc sung mãn tràn trề. Ðó là nửa bát trên. Và sau em hãy cố gắng nhìn tiếp, khi họ bắt đầu hằn học tru tréo, chửi rủa, đánh đập... tìm đủ cách hành hạ nhau cho thỏa tức. Ðó là nữa bát dưới.

Ðiều oái oăm nhất là loài người chúng ta cũng như loài A Tu La, không ai tìm được ranh giới phân chia giữa khoái lạc và đau khổ để có thể dừng lại kịp thời. Trong lúc đang hưởng hạnh phúc nếu có ai ngăn cản, bắt chúng ta dừng lại đương sự sẽ đòi... uống thuốc chuột tự vận ngay... và thật là tội nghiệp khi người ta đang phản đối ầm ĩ, tìm đủ trăm phương nghìn kế để được tiếp tục hưởng món ăn ngon thì... đùng một cái thức ăn hóa thành độc dược...

Nhận chân được điều đó Ðức Phật khuyên chúng ta rằng: “Thọ là khổ,” nghĩa là cảm giác nào cũng khổ hết, kể cả các cảm giác gây khoái lạc vì bản chất của chúng là sinh diệt vô thường. Và Ngài cũng dạy chúng ta rằng nên thọ dụng những nhu cầu cần thiết sao cho diệt được thọ khổ mà đừng nảy sinh thọ lạc... nghĩa là nên dừng lại ở nơi đâu nhỉ?

- Thưa, ở nơi mà chúng ta thấy có đắm trước, trìu mến, lưu luyến thì phải một, hai, ba ngưng ngay lập tức... nguyên tắc thì như thế đó, nhưng khi thực dụng thì còn tùy theo sự không ngoan, mê hay tỉnh của từng người...

Nhưng mà có nhiều chúng sanh đã tình nguyện rằng: “Thà sống bên nhau (để được gây gổ, đánh đập hoài hoài) còn hơn là cô đơn gối lẻ,” nghĩa là họ tình nguyện nốc chén của mình cho đến giọt cuối cùng đó em ơi!

Như Thủy
(Hư Hư Lục)


Monday, August 22, 2005

Vu Lan Bên Mẹ

Hai ngôi chùa mà chị em My vẫn đi với Mẹ đều tổ chức lễ Vu Lan cùng ngày hôm nay. Mẹ chọn tới Quan Âm Tự . Một điều không định trước, nhưng nơi nào cũng có thờ vong linh của Ba My. Lẽ ra chỉ ở một nơi. Ba chọn trước ngôi chùa mẹ và My đã quy y. Khi ba My còn, thỉnh thoảng Thầy bổn sư của My được em trai My đưa về nhà. Thầy đến thăm ba mẹ và thường giảng cho nghe bài pháp ngắn, như lời nhắc ân cần thay cho hành trang gọn nhẹ ba và mẹ My sẽ mang theo lúc ra đi.
Bên cạnh đó ba mẹ cũng thường lui tới ngôi Quan Âm Tự. Ở đây, ba mẹ có những người bạn đạo cao tuổi, lần lượt ra đi kẻ trước, người sau. Mỗi lúc gặp nhau, những người cha, người mẹ già nua run run xiết tay nhau mừng rỡ. Những phút giây hạnh ngộ, thưa dần theo khoảnh thời gian ngày càng thu ngắn, mong manh như tia nắng lui dần quanh bóng tối kéo về. Ba mẹ My có vẻ quyến luyến nhiều ngôi chùa nhỏ nhưng đậm đà những ân tình. Mọi người đều biết và chia cùng nhau những cảnh đời bạc phước, vì con quay lưng. Hay cùng chia với nhau nỗi hạnh phúc có được trong khoảng cuối đời, bên cạnh những con hiếu hạnh. Với những người bạn đạo có tình thân như ruột rà ở nơi này, lẽ ra ba My nương náu nơi đây sau lúc ra đi. My biết chỉ vì Hòa thượng trụ trì tuổi hạc mong manh. Ngôi chùa nhỏ chưa biết mai này còn, hay đóng cửa im lìm sau khi Hoà thượng không còn. Ba My chọn ngôi chùa ở gần đám con gái trong nhà vì lý do này.
Ngày ba My mất Hoà thượng dù sức yếu, vẫn mỗi ngày đến tụng kinh siêu độ cho Ba. Thầy bổn sư của My đi xa vừa về đến phi trường, cũng vội vã tới ban cho thời pháp, sau khi HT tụng kinh xong. Không hẹn mà cả hai ngôi chùa mỗi ngày đều có quý Thầy thay nhau đến với ba My. Hoà thượng luôn luôn có mặt , lo chu đáo cho ba My giống như cho một người thân. Dù biết mẹ gửi ảnh thờ ba trong ngôi chùa khác, Hòa thượng vẫn tụng kinh cầu siêu cho ba My đủ thất tuần và bảo mẹ đem thêm bức ảnh của ba My đến để đây. Vì tấm lòng của HT, mà dạo đó anh em My phải chia ra. Mỗi chủ nhật các anh trai ở "Võ Đang", theo anh lớn kéo về QAT. Đám Nga Mi theo Mẹ đến TTPG Chùa Việt Nam tụng kinh mỗi thất cho Ba. Hôm nay trong buổi lễ Vu Lan, HT vừa mỉm cười, vừa hỏi cụ nào muốn được thầy tụng kinh cầu siêu để tiển đưa, mau mau đi trước để thầy còn kịp lo cho. Ở đây dường như không còn ranh giới, giữa hai bờ sinh, tử nữa rồi. My chợt nghĩ mà thương cho vài người My quen biết. Đang còn sống mỗi ngày nhưng sợ hãi, bất an khi thấy người thân hay bạn bè vĩnh viễn giả từ. Chuyện chết đi như là chuyện của ai. Mình vẫn sống, đừng đến gần coi chừng bị lôi vào!
Chỉ mới cách đây vài tháng. Sau khi trốn đi thăm bác sĩ nhiều năm, người chị dâu thương My nhất, bảo phải nghe lời chị đi check up thử xem sao. Nhìn em xanh xao, lại bị những cơn đau vật vã thường hơn. Chị thương và lo cho em lắm biết không? Đâu thể làm gì khác hơn khi đón nhận một ân tình, My nghe lời chị. Mới chỉ hò hẹn một lần là ...sinh chuyện. Hôm sau My được cho hay phải trở lại gặp BS. Kết quả thử máu My bị sưng gan, cần làm thêm test nữa để tìm xem viêm gan hay bị cancer. My vốn là nổi bận tâm của cả gia đình. Ai cũng lo My ngã gục vì quá nhiều khổ nạn. Ba My mất sau sáu tháng, kể từ khi bác sĩ cho biết bị bệnh gan. Có lẽ đây là nổi ám ảnh ghê gớm nhất. Người thân không giấu được buồn lo. Lo cho hai đứa con My mồ côi mẹ sớm. Em trai My thở dài não nuột. Đứa em dâu nói với mẹ chị My cần gì tụi con luôn hết lòng. Nhìn bà ngoại và các cậu dì giống như sắp dự đám tang My, hai đứa con nghịch ngợm chừng như lớn hẳn. Mẹ ơi. Mẹ ngồi đây con nói mẹ nghe. Nhà ngoại người nào cũng lo cho mẹ. Vậy mà mẹ như không lo cho mẹ theo như con biết. Mẹ không ăn điểm tâm. Mẹ cũng không ăn đủ dinh dưỡng nữa. Có chút xíu thịt, ăn rau nhiều ngày làm sao mẹ có sức đi làm. Chưa kể khi bị bệnh ngưòi yếu sức luôn luôn bị quật ngã nhanh hơn, và chuyện bình phục sẽ khó khăn hơn so với người lúc bình thường khỏe mạnh nhiều. Rồi con trai nói ra thực đơn mỗi bữa cho My. Buổi sáng mẹ cần gì, buổi trưa và chiều ăn uống ra sao. My cảm động nhiều. Không ngờ con ngó vô tình, nhưng luôn biết rõ từng điều nhỏ từ nơi mẹ. My cười, trấn an con. Không có gì đâu, tại "nhà ngoại" vừa bị mất đi ông ngoại của con. Nổi đau vẫn chưa nguôi cho nên bị ám ảnh nhiều. Nếu như hai anh em con không may phải chịu cảnh mồ côi sớm, thì có buồn lo nhiều cũng đâu thay đổi được gì. Còn như mẹ không sao, dù mình muốn "có sao" cũng đâu có được ha con?
Chỉ cần My chạm nhẹ, tính lém lĩnh của con bộc phát tức thì. Con biết là ngoại thương mẹ nhất. Ngoại cũng thương lo cho anh em con nhiều hơn "mấy đứa kia". Hôm kia con hỏi ngoại bà ngoại thương con vì con là con, hay chỉ vì con là con của mẹ con? Bà ngoại cười, mắng "cha mày. Con ngoại, ngoại thương mắc chi mà hỏi?". Trước khi đứng lên con trai còn nhắc. Mẹ nghe lời con , ăn uống đầy đủ để có sức mà chữa bệnh nay mai. Mẹ đừng nói với con mấy Thầy ở chùa cũng ăn rau mà quanh năm vẫn khoẻ mạnh, hồng hào. Mấy Thầy không đi làm, không bị stress nhiều. Cũng không có chồng "như mẹ có" cho nên khoẻ hơn mẹ lắm! Cu Duy từ nãy vẫn ngồi yên lặng. Cố hiểu những gì anh và mẹ nói với nhau, vì con trai lớn vẫn còn giữ thói quen My tập, ráng gom góp hết vốn liếng còn có được để luôn luôn nói với mẹ bằng ngôn ngữ mẹ mang theo- "chứ chẳng phải con"! My hỏi Duy ơi, con có hiểu gì không? Con biết mẹ bệnh. Con có thể đoán vì nhìn thấy mẹ gần đây không khoẻ. Mẹ ơi, con thương mẹ nhất, nhưng nếu mẹ mất rồi chắc con phải ráng thương con. My thoáng bàng hoàng, hỏi vì sao con có ý nghĩ này? Có mẹ con có đủ mọi thứ. Khi không còn mẹ con biết con sẽ mất gần như tất cả. Con nghĩ con phải thương con hơn. Vì có thương con, con mới ráng tự mình lo lắng cho mình. Con thấy rồi, bố chắc chắn không thể nào thay mẹ được. My chùi nhanh đôi mắt ướt. Mới 10 tuổi con đã biết sự mất mát, thiệt thòi của những đứa trẻ mồ côi. Dù sao con hiểu được và nói ra điều con nghĩ, My an tâm nhiều cho dù ở hoặc "đi". Chỉ thương mẹ không chịu nổi, cảnh lá vàng khóc lá xanh rơi nếu như My thảnh thơi phủi hết nợ trần gian.
Những kết quả tiếp theo cho biết, My may mắn không vướng vào căn bệnh nan y. Ultra sound cho thấy, chỉ vì túi mật đầy sạn, sưng to làm ảnh hưởng đến gan. Cắt bỏ đi túi mật là hết đau, là xuống cân nhiều mà không cần diet chút nào! My nói với mẹ, con chưa thể nào quỵt nợ bỏ đi dễ dàng. Nghe My báo tin mẹ vẫn chưa có nụ cười tươi. Mẹ còn bận lo nghĩ sẽ làm cách gì để kiểm soát sự ăn uống và sinh hoạt của My. Con nhỏ vốn coi chuyện ăn uống ơ hờ, làm sao có sức để đi giải phẫu. My cười trêu mẹ. Ai bảo mẹ sinh ra con có lá gan nhỏ xíu mà chi! Con không dám làm gì quá đáng. Thấy thua thiệt nhiều cho nên phải học đòi làm người "lớn mật, to gan" cho bằng với người ta. Bây gìờ mật gan gì cũng sưng to. Con đã "bằng người", còn lo gì nữa chứ? Mẹ nhìn My, cười ái ngại, để rồi những ngày tiếp theo phone hỏi mỗi sáng chiều. Con ăn gì bữa hôm nay? Có nấu nướng gì không? My biết mẹ đã quen nghe My "báo cáo": Sáng ly cà phê, trưa...ăn gì cũng được mà!. Chiều có khi một gói mì chay hoặc củ khoai tây nướng, hay là ăn cơm với rau luộc chấm chao...Lâu lậu mới ăn chung thức ăn nấu cho con. Đôi khi My biết mẹ phiền lòng. Con đâu phải người vụng về nấu nướng, mà sao bây giờ ăn uống thất thường, mỗi khi không có mẹ ở nhà giống như em gái Út? My cũng không hiểu tại sao My ngày càng không để ý đến chuyện ăn uống mỗi ngày. Chắc là chỉ ăn để sống, chứ không sống để ăn như ngày trước!
Lễ Vu Lan năm nay chùa đông hơn. My đem nhiều CD thơ Mở cửa Mặt Trời của chị Từ Hoa gửi từ tháng trước Chắc lần sau My sẽ mang thêm, cho những người chưa có. Các cụ già là bạn đạo lâu năm của mẹ, lần nào thấy My cũng hỏi con gái có mang theo pháp bảo nào không? My nhớ khi nhận được CD gửi tặng từ người hiền huynh ở xứ lạnh xa xôi. My copy ra thật nhiều đem vào chùa, vì đó là tác phẩm Đường xưa mây trắng của Thầy Nhất Hạnh do chính anh diễn đọc. Tiếp theo là những bộ CD kinh thơ do các nghệ sĩ diễn ngâm của chị Từ Hoa. Chị Từ Hoa làm thơ từ kinh Phật. Nhập pháp giới, Bát nhã ca và mới nhất là MCMT, dựa trên sử liệu về cuộc hành trình thỉnh kinh cuỉa ngài Đường Huyền Trang. My cũng copy CD Chết và Tái sinh do Thầy Nguyên Tạng gửi. Các cụ già tỏ vẻ hài lòng, con bé ít đi chùa nhưng dễ "nhớ mặt" này. Con cho các bác nghe Chết và Tái sinh thật phải thời, phải lúc quá rồi.
Ngỡ đâu buổi lễ Vu Lan năm nay cũng giống những năm rồi. Mấy đứa con trai của mẹ ơ hờ đi đâu đó trong ngày nghỉ. Mẹ nghĩ vậy cho nên chừng như rạng rỡ, khi nhìn thấy ba người anh của My lần lượt bước vào trong chánh điện. Chỉ thiếu đứa em trai nhỏ bận rộn vì business thôi. Hai đứa cháu con người anh kế, đã thật ngoan trong suốt buổi tụng kinh. Khi chị dâu My nói cho nghe cả nhà sẽ đi chùa. Hai đứa bé 2 và 3 tuổi cùng bày tỏ. Con muốn đến chùa thăm sư ông. Con muốn chào và hôn sư ông như lần trước. Xong buổi lễ và đợi sau buổi cơm chay, Hoà thượng vừa ngồi xuống là hai đứa bé con chạy tới ngồi vào lòng, thay nhau hôn lên hai bên má. Tự dưng khi gặp HT ở chùa, hai đứa trẻ bé xíu tự động tìm đến làm thân. Dù không đến chùa thường, nhưng ai cũng ngạc nhiên vì hai đứa cháu của My luôn tìm cơ hội đến gần để bày tỏ tình thương, giống như với người thân ruột thịt trong nhà.Ai cũng biết HT thẳng tính, nói rõ rằng không thích đám con nít nhỏ tới chùa la khóc, ồn ào làm mất hết trang nghiêm trong những buổi tụng kinh. Vậy mà không biết từ bao giờ HT bị hai đứa bé con, đeo theo tỏ lòng thương. Trong chùa, ai cũng gọi HT bằng Thầy. Hai tiếng sư ông không biết đến từ đâu mà các cháu nhỏ của My thỏ thẻ gọi lên nghe rất dễ thương.
Buổi chiều, My cùng mẹ và em ra nghĩa trang thăm ba. Nắng nhạt dần và hơi nóng loãng tan ra, trong những ngọn gió thổi dịu dàng. My nhìn thấy có hoa tươi nơi nhiều phần mộ. Mấy ngày nay quý Thầy ở các chùa tuần tự ra tụng kinh cầu siêu ở nghĩa trang này. Có lẽ vì thế mà chiều nay ở nghĩa trang như quạnh quẽ, vắng lạnh hơn vì hầu hết mọi người đều đã tới đây tham dự những buổi tụng kinh chung. My đặt bình hoa xuống cạnh lư hương. Lòng có thoáng buồn vì người mua hoa không về để đi cùng với My đến thăm ba trong buổi chiều nay. Mấy mẹ con thắp nhang quanh nhiều ngôi mộ. Mẹ ngồi dựa vào tấm bia đá bên phần mộ kế bên vì đôi chân không đứng được lâu. My lấy máy ra bấm vội những tấm hình. Dĩ nhiên luôn luôn không bao giờ thiếu những tấm hình My với em gái thay nhau ôm hay tựa đầu vào vai mẹ. Bên kia, cô dược sĩ vẫy tay chào. Giọng người cha nói vói theo. Con về trước. Ba ở lại nói chuyện với mẹ con, sẽ về sau. Đã mấy năm từ ngày vợ mất, chiều nào mấy cha con ông cũng ra nghĩa trang tưới cỏ và hoa. Sau đó mở những chiếc ghế xếp mang theo ra nằm dưới tàn cây, nhìn buổi chiều đang dần xuống cuối ngày. Trên tấm bia trước mộ, là một bài thơ rất dễ thương của hai đứa con một gái, một trai khắc lên đá dành riêng cho mẹ. Những giòng chữ sai nhiều chính tả. My nghĩ người cha nhận biết nhưng vẫn giữ nguyên, vì đó là những giòng chữ đưọc viết ra từ trái tim con. Đứa chị là dược sĩ điều hành nhà thuốc tây sau khi mẹ mất. Đứa em là bác sĩ làm trong bệnh viện mấy năm nay. Khi cô chị lên xe đi khuất, đứa em trai có mặt cùng bạn gái cất tiếng chào người cha và chào mẹ với chị em My. Em rễ My nói với em gái, dường như không phải là cô bé bấy lâu vẫn đi chung. My cười. Không ngờ chú L bây giờ cũng biết theo dõi "thời sự hằng tuần". Em gái giải thích, những ngày cơm lành, canh ngọt tụi em thường ra đây tưới cây và tâm sự nhỏ to. Có nghĩa là những ngày đẹp trời, không có ai gây hấn với ai. Chứ em đâu dám rũ ra đây gây lộn, lỡ ba nghe được làm sao! Em rễ My đính chánh liền. Anh quả quyết là hai đứa mình chưa bao giờ gây lộn hết. Lần nào gây cũng trúng y bon. Chưa hề có lần nào anh gây với cưng mà lộn qua người khác, hết nghe!
Những nén nhang đã tàn. My ôm vai mẹ nói mình về. Đàn muỗi đói ở nghĩa trang bắt đầu vo ve. Nhìn dáng mẹ đăm chiêu mỏi mệt, em gái thì thầm với My lúc sắp lên xe. Em sợ vé máy bay chuyến đi VN dịp Tết, rồi có khi mẹ và em không còn cơ hội để đi chung. Dạo này mẹ yếu lắm rồi. Biết đâu đây là mùa Vu Lan cuối mình còn có mẹ. Năm sau, .nếu trên ngực áo là cành hoa trắng.... Chị ơi, em không dám nghĩ tới năm sau. Người anh xa an ủi đôi câu "Hãy vui, hưởng những gì mình có. Đem nó bỏ qua tương lai thì nó biến thành những giấc mơ, không thật. Bỏ vào quá khứ nó sẽ trở thành những nuối tiếc không ngừng..."
My nắm tay em xiết nhẹ, đến và đi chỉ thế thôi em. Bởi thế chị muốn bước ra khỏi những con đường quẩn quanh không có lúc dừng. Ráng đừng quay lại nữa, chị nhìn em mà ái ngại. Em gái My đứng lặng nghe, My nhìn thấy hai giọt nưóc long lanh trong khóe mắt. "Ông ơi, hôm nay ở chùa làm lễ Vu Lan. Mấy đứa con trai đủ mặt chỉ thiếu thằng con út. Còn con gái thiếu con Hạnh Nguyện. Mẹ con tui ra thăm ông, bây giờ về vì trời sắp tối rồi. Ông ở lại, tui về con đang đợi". Trên đường về nhà, em My khẽ hỏi dịu dàng. Sư Huynh bây giờ ở đâu? Tối nay em sẽ viết thư gởi Sư Huynh. Đã lâu rồi em như bỏ quên Sư Huynh giống như đã bỏ quên tu.

Quỳnh My
Mùa Vu Lan 2005

Saturday, August 20, 2005

Bà Chúa Xứ

Thuở xưa có một anh chành xấu xí kia, con nhà nghèo, thất học phải sinh sống bằng nghề khuân vác mướn ngoài chợ. Người ta gọi anh là thằng Bu.

Bu làm việc siêng năng giỏi giắn nên cuộc sống của anh không lấy gì làm chật vật cho lắm. Có điều anh rất buồn khi chung quanh chẳng có ai coi trọng nể vì anh hết. Cũng như hầu hết mọi người, anh thèm thuồng được quyền uy, lòng ái mộ khát ngưỡng của đồng loại. Mặt mũi anh đã không thuộc loại đẹp trai, anh lại không có một làn hơi thiên phú để ca vọng cổ hay tân nhạc, nên anh không thể tiến thân bằng con đường văn nghệ. Anh lại tứ cố vô thân không tiền của nên khó mà mua danh vọng chức tước, chữ nghĩa lại chẳng bằng ai... Vậy thì phải làm cách nào cho thiên hạ ngán mình đây? Suy nghĩ suốt một đêm chàng Bu nảy ra một sáng kiến.

Một hôm, sau vài ly ba xị đế, Bu đến ngồi trước miễu Bà Chúa Xứ, một vị thần không được thiêng cho lắm, nên nhang tàn khói lạnh, mỗi năm chỉ được người ta cúng cho một lần. Bu đến trước cửa miếu, ngồi lắc lư ợ ngáp liên hồi... Ban đầu chỉ có bọn trẻ con tụ tập chung quanh anh sau đó là các bà vô công rỗi nghề, rồi dần dần có đến cả hội đồng bô lão của làng nữa. Người ta nhìn nhau thì thầm:

- Bà về! Bà về!

Vài mụ đàn bà góp ý:

- Khoảng nửa tháng nay đêm nào tôi cũng thấy có cục lửa to xẹt lên xuống ngang chòm cây này. Tui sinh nghi trong bụng mà không dám nói ra chớ.

Mỗi người góp một ý, vàng hương hoa quả được mang đến và chàng Bu nghiễm nhiên thành cái xác của Bà Chúa Xứ.

Từ đó, Bu không còn phải đi khuân thuê vác mướn nữa, người gọi anh bằng “Bà,” bằng “Ngài,” xúm xít cười vả lả, đón rước những lời nũng nịu, õng ẹo thốt ra từ đôi môi xám xịt của Bu. Anh mặc áo lụa quần sa ten trắng, đi hài cườm, thoa son phấn và đeo đồ trang sức.

Một tháng sau, Bu đã có vô số người ái mộ, những kẻ trước kia dòm Bu chỉ bằng nửa con mắt bây giờ lại kính cẩn lễ bái đón nhận từng mệnh lệnh của anh. Người ta đến xin bùa phép của anh để mua may bán đắt, để được sinh con trai, con gái, đánh đề, đánh bạc, đua ngựa, đá gà v.v... Bởi vì chư Phật và Bồ Tát thường ít khi chịu khó chìu lòng những tham vọng ấy của chúng sanh, thánh thần thì bận thưởng thiện phạt ác, ma quỷ thì đòi ăn hối lộ. Duy có anh Bu không đòi hỏi gì cả, ngoài việc ước mong được thiên hạ chìu chuộng, tâng bốc vuốt ve lòng tự ái của mình.

Ba tháng trôi qua, những cuộc lên đồng cầu đảo bất kể đêm ngày đã khiến Bu xuống sắc rõ rệt. Lớp son phấn dày cộm không che khuất đôi mắt đầy quầng đen. Càng đông người tín mộ, anh càng phải lên đồng thật xuất sắc... Anh không còn đủ thì giờ để ăn uống ngủ nghĩ... Những lúc mệt quá, anh cũng muốn nghĩ ngơi “thăng” đồng để trở lại đời sống bình thường của anh... nhưng những lúc ấy anh phải trở lại chấp nhận cái bản thân bình thường thấp kém của anh Bu khuân vác muớn, một điều mà anh muốn chối bỏ, anh phải chịu đựng những ánh mắt lạnh nhạt khinh bỉ của người chung quanh. Người ta sẽ gọi anh bằng “thằng,” bằng “mày.” Vì thế, dù mệt mỏi anh vẫn phải đồng hóa mình với Bà Chúa Xứ, một nhân vật do cư dân trong vùng lập ra và tôn thờ, chỉ ăn hương, uống hoa, sống bằng giọng đàn, tiếng địch cùng lời xưng tụng của người chung quanh.

Em thân mến!

Số phần của anh chàng Bu này sẽ ra sao? Ðiều này tùy thuộc vào anh. Nếu Bu khám phá ra rằng chính mình là nạn nhân của trò chơi lên đồng ấy, rằng sau những lúc trà nghiêng rượu nhạt... anh cũng phải trở về đối mặt với con người thật của anh: một anh Bu tầm thường, vô danh tiểu tốt. Nếu anh nhận thấy rằng anh đang bày trò điên loạn và trong cảnh giới cuồng điên đó anh đã được sự tung hô tán tụng của những người điên khác. Và nhất là những danh vọng hão huyền đó cũng chẳng thú vị gì cho lắm. Tại sao anh không trở về với anh Bu khuân vác thường ngày dù không được sự nể vì kính trọng của bàng dân thiên hạ nhưng ít ra anh cũng còn có cái thế giới tỉnh táo chân thật của con người tầm thường và bình thường.

Mặt khác nếu anh không thể nào chấp nhận con người chân thật của mình, thì anh cứ tiếp tục bám vào cái vỏ Bà Chúa Xứ bôi son trét phấn, hò hét ban phúc giáng họa cho được đông người ái mộ. Tín đồ càng đông thì “Bà” càng phải thiêng. Và nếu Bà Chúa Xứ không còn hợp thời trang nữa thì anh có thể đổi danh hiệu thành Bà Ngũ Hành, Cửu thiên huyền Nữ, hay là cô... cậu... nào đó.

Nước đời lắm nỗi, chúng ta chỉ có thể đoan chắc một điều là... giữa lớp danh vọng hư huyễn phù hoa đó, anh chàng Bu sẽ chết lần chết mòn. Thể xác mệt mỏi tinh thần điên đảo... Nếu trò chơi cứ tiếp tục thì chung cuộc anh sẽ vào nhà thương dành cho bệnh tâm thần.

Em thân mến!

Câu chuyện trên đây tôi đã đau xót viết cho riêng mình, nói với em cũng có nghĩa là tôi độc thoại một mình. Vì tôi không tin tưởng rằng có một cuộc đối thoại thực sự cảm thông khi chúng ta mỗi người còn đang ngóng về một hướng, mải miết đuổi bắt những lý tưởng tận đâu đâu... Tôi chỉ muốn hỏi em đã có lúc nào em thấy mình giống hệt anh Bu trên đây không?

Riêng tôi, tôi còn nhớ rất rõ ràng thuở bé tôi rất là hồn nhiên, không nhớ mình là trai hay gái, đẹp hay xấu, giàu hay nghèo, giỏi hay dở gì hết. Tôi sống thoải mái và vô tư như một chú gà con thì bỗng nhiên, dần dần tôi nghe người chung quanh nhận xét rằng tôi không đẹp bằng chị tôi, không giàu bằng nhà hàng xóm, không giỏi bằng bạn bè chung quanh... và cũng dần dần từ đó, tôi bắt đầu cảm thấy thống khổ kịch liệt khi thấy sao mà mình tầm thường quá đỗi... Không có một sở trường gì để tự “lăng xê” mình, làm nổi bật mình lên trước bàng dân thiên hạ. Rất nhiều đêm tôi niệm danh hiệu Ðức Quán Thế Âm Bồ Tát cầu mong sao cho mình được đẹp, được sang, được giỏi hơn thiên hạ. Mặt khác tôi cố gắng thức khuya dậy sớm bỏ ngủ quên ăn để học cho bằng bạn bè, những người hơn tôi cả tài lẫn sắc... để ít ra mình cũng chứng tỏ được cái khả năng của mình, rằng mình không phải là con số 0.

Em ạ!

Ðó chỉ là một thí dụ, một phần rất nhỏ trong cuộc đời đa thủ phức tạp của chúng ta. Ðiều khổ tâm nhất của chúng ta hằng ngày không phải là chuyện sanh, già, bệnh, chết, vì đó là một lý đương nhiên, không ai tránh khỏi, chúng ta thường khốn khổ, bứt rứt vì cái bản ngã của mình, sao mà mình nhỏ nhoi tầm thường quá, không có tí ti nào khả ái, khá kính dưới mắt ta và người chung quanh hết. Những lúc đối mặt với chính mình, ta phải cay đắng mà nhận chân rằng ta chỉ là một nhân vật quá mức tầm thường, một con số 0 to tướng. Thế là anh chàng Bu trong ta bắt đầu tham gia vào trò “lên đồng.” Từ con số 0 tùy theo cơ hội, hoàn cảnh và nhu cầu của người ái mộ chung quanh mà chúng ta sẽ thành một cái gì đó... Mỗi người đội một danh hiệu khác nhau nhưng cùng giống nhau ở một điểm là - chối bỏ con người tầm thường chân thật của mình để sống dưới lớp áo của những nhân vật rất mực phù hoa và giả dối... và em ơi! Một điều kỳ thú là chỗ chúng ta lẫn trốn sợ hãi, lại chính là chỗ mà các thiền sư đại ngộ. Lục Tổ há chẳng xác định một cách hùng hồn rằng: “Bản lai vô nhất vật” đó sao? Dưới bất cứ lớp áo nào và nhãn hiệu nào, em và tôi đều phải công nhận rằng, trong những giây phút chiếu soi nhìn lại mình, ta thấy mình quả là “vô nhất vật”, nghĩa là “ta không là gì cả, ta không phải là Bà Chúa Xứ, Bà Ngũ Hành, cô cậu... gì hết. Không là gì hết... nhưng ta vẫn thấy nghe hiểu biết rất rõ ràng, cái khả năng “kiến văn giác tri” ấy chúng ta đều bình đẳng như nhau. Ðây chính là Lục Tổ nói: “Ðâu ngờ tánh mình bản lai thanh tịnh, đâu ngờ tánh mình vốn tự đầy đủ cả v.v... đó em!”

Khi anh chàng Bu không còn lên đồng nữa, không còn là ông kia bà nọ thì không phải là anh ta chết, anh ta chỉ mất - mất hết những cái gì giả dối không phải là mình thôi.

Nếu em thấy rằng “bà đồng” của mình hãy còn thiêng lắm, và thà rằng em đội lốt, mang mặt nạ, chìu theo thị hiếu của bàng dân thiên hạ, để được thờ phụng tung hô... và được vô vàn quyền lợi phụ tùng khác, thì em cứ tiếp tục. Không có ai, sẽ không có ai dám lên án, chỉ trích hay cười cợt em đâu... Vì lên án Bà Ðồng cũng có nghĩa là lên án luôn đám quần chúng đang ái mộ, và ai mà dại gì đứng ra chọc giận thiên hạ nhiều như thế. Em có thể yên tâm mà tiếp tục...

Nhưng... nếu như có hôm nào, quá mệt mỏi với cái trò chơi xốc nổi ấy, mặt nhìn tận mặt, soi lại lòng mình giữa cảnh hoang tàn của trà ôi, rượu nhạt, hoa héo, hương phai, nhìn thấy người chung quanh cũng chán chường mệt mỏi không kém mình... thì, em hãy thử một lần, làm sống lại con người năm xưa của chính mình, của anh chàng Bu khuân vác thử xem. Ðiều này đòi hỏi nơi em rất nhiều can đảm và hy sinh, vì em sẽ mất hết uy danh, quyền lợi, mất hết những người ái mộ cung nghinh, em sẽ bị xem thường, khinh rẽ... Em phải hy sinh hết vàng son, phấn sáp, danh lợi cùng uy quyền để đi may thuê cuốc mướn, phải đổ mồ hôi nước mắt mới có miếng ăn.

Thế nhân thường đi tìm sự thực, nhưng sự thực lại quá ư phũ phàng không giống như ta hằng mơ tưởng... nên... thà rằng, cứ nhắm tít mắt lại để còn có một thế giới hoa mộng, huyền ảo, mê ly.

Câu chuyện này xin dừng lại nơi đây, vì tôi bất chợt nhận ra rằng, dường như tôi đang lên một cơn đồng xuất sắc hơn, hợp thời trang hơn... bà đồng thường, đôi khi ta ngỡ rằng mình đã thức dậy, đi ra khỏi cơn mơ, nhưng sau đó thật lâu, ta mới vỡ lẽ ra rằng mình chỉ thay đổi tình tiết của giấc mơ mà thôi và điều mà ta thấy mình đang lên đồng thật xuất sắc là... khi có một hành động nào đó của ta được nhiều người vỗ tay tán tụng, khi mà từ cái Không, ta trở thành Có, và cái Có này, ngày càng bành trướng nảy nở ra. Chính những tràng pháo tay đã báo hại chúng ta không ít, nó xui ta cứ tiếp tục... chiêm bao, để được khen hoài khen mãi, em có thấy như vậy không? Hèn chi mà trong kinh Duy Ma Cật, Bồ Tát khuyên ta cứ làm đi, làm mọi việc để lợi mình và lợi người, nhưng phải làm sao để cả “Tam luân” đều không tịch, nghĩa là không thấy có mình, có người và có pháp nữa, chỉ đem thân huyễn làm việc huyễn(dĩ huyễn thân tác huyễn sự) mà thôi. Các Ngài khôn quá phải không?

Sư cô Như Thủy

Một bông hồng cho Em

Em

Tôi định viết cho em
Một bài thơ tuyệt diễm
Kết hợp bằng những ngữ từ
Chân thành và âu yếm
Xong
Tôi sẽ trang trọng đặt cho nó một cái tên thật kêu
Như “Tình yêu” chẳng hạn

Tôi định vẽ cho em
Một bức tranh cực kỳ thanh tú
Những nét mực sẽ nhẹ nhàng
Như sóng vỗ lao xao
Và trước khi ký tên
Tôi sẽ hạ một dòng chữ bay nghiêng
(A ROSE TO…)
“Một bông hồng cho…”

Cầm bút tay run
Hồn say lảo đảo
Tim đập dập dồn
Tôi bối rối nhìn lên
Giữa những cành lá xanh tươi của khu vườn mùa hạ
Bình minh lên rực rỡ
Dịu dàng êm từng đọt là chồi cây
Mộng đêm qua…
… Chỉ còn là…
… Một thoáng mây…

Bất chợt
Tôi nhận ra rằng:
Em
Chỉ là một hình bóng của chính tôi
Một nhân dáng về em
Dù đẹp như thiên thần
Hay tệ như ác quỷ
Cũng chỉ là
Một ảo tưởng
Trong trăm nghìn ảo tưởng
Sinh khởi liên miên
Bất kể đêm ngày
Nếu tôi bảo rằng: “Ðã yêu em”
Thì hóa ra
Tôi đã yêu
Một ảo tưởng của chính mình
Cũng vì thế mà
Thay vì
Làm một bài thơ tuyệt diễm
Chân thành và âu yếm
Hay
Vẽ một bức tranh
Ðẹp như mơ
Tôi đành chỉ bật cười
Với những giọt nắng long lanh
Trên ngàn cây hoa lá

Từ dạo đó
Trên những con đường trải cỏ xanh
Hay phủ đầy gốc gai sỏi đá
Tôi vẫn đi bằng bàn chân trần trụi
Với nụ cười và ánh mắt sơ khai
Ngôn từ đã khép lại
Như những lối mòn sau bước chân phiêu lãng

Những bước chân ra đi
Cũng chính là những bước quay về.

Sư cô Như Thủy

Friday, August 19, 2005

Biết ơn và báo ơn



NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT

Trong bầu không khí trang nghiêm, thanh tịnh và hoan hỷ, nhân dịp kỷ niệm Lễ Vu Lan, vào ngày rằm tháng 7 trung ngươn mỗi năm, chúng ta hãy cùng nhau tìm hiểu sơ lược ý nghĩa thực tiễn của ngày đại lễ này.

Theo truyền thống Phật giáo, theo sự tích của Tôn giả Mục Kiền Liên, việc tổ chức ngày lễ Vu Lan hằng năm nhằm mục đích nhắc nhở hạnh hiếu thảo đối với Cha Mẹ, tạo cuộc sống an lạc và hạnh phúc. Phàm làm người ai cũng có Mẹ, có Cha. Công lao của Mẹ sanh ra, công ơn của Cha nuôi dưỡng cho đến ngày khôn lớn, có thể sánh như non cao biển rộng, không có cách chi chúng ta báo đền ơn nghĩa lớn lao này một cách trọn vẹn được. Một khi trở thành bậc làm Cha làm Mẹ, chúng ta càng suy nghĩ, càng thấm thía công ơn lớn lao này của Cha Mẹ chúng ta trước đây. Muốn làm người cho xứng đáng với danh xưng “con người”, dù là Phật tử, hay không phải là Phật tử, chúng ta nên “biết ơn” khi nhận sự giúp đỡ về mặt vật chất hay tinh thần, dù lớn hay nhỏ, từ bất cứ ai, và nên nhớ “báo ơn” trong khả năng và hoàn cảnh của chúng ta. Đối với trọng ơn sanh dưỡng, khi Mẹ Cha còn hiện tiền, chúng ta phải nên “biết ơn và báo ơn” về hai phương diện: vật chất và tinh thần.

Về phương diện vật chất, chúng ta phải nên chăm sóc một cách chu đáo các bậc đã sanh thành và dưỡng dục chúng ta nên người. Từ việc ăn uống, ngủ nghỉ, ốm đau, trước đây Cha Mẹ đã biết bao khổ nhọc, lo lắng cho chúng ta đầy đủ, từ lúc mới sanh ra đời, đến tuổi thơ ấu, và cho đến ngày nay, chúng ta trưởng thành, phải nên biết bổn phận báo đền một cách chân thành, đừng nên lẩn tránh, lơ là, đừng nên giao phó bổn phận này cho người khác làm, dù là giao cho anh chị em, hay giao cho xã hội gánh vác dùm mình. Chúng ta làm thế nào đối với Cha Mẹ thì sau này con cái noi gương đó, đối xử với chúng ta tương tự như thế đó. Cổ nhân có dạy: Muốn người khác đối xử với mình thế nào, chúng ta nên đối xử với người khác thế ấy. Đối với người khác còn nên cư xử như vậy, huống là đối với Cha Mẹ của chúng ta!

Về phương diện tinh thần, chúng ta phải nên thường xuyên thăm viếng, đừng để cho Cha Mẹ phải trải qua những cảm giác cô đơn, thất vọng, buồn tủi hay lo sợ. Chúng ta nên biết cách sống sao cho được an lạc hạnh phúc với Cha Mẹ lúc hiện tiền và sống sao cho an lạc hạnh phúc với trách nhiệm của bậc làm Cha Mẹ sau này. Được trực tiếp báo đền ơn sanh dưỡng của Mẹ Cha là phước báu vô lượng của chúng ta, nhất là ở nơi quê người, cuộc sống hết sức bận rộn, thời gian hiếm hoi, nhân tâm điên đảo, lòng người quên mất cội nguồn. Nếu không được diễm phúc này, chúng ta cũng có thể báo đền ơn sanh dưỡng của Mẹ Cha một cách gián tiếp, như gửi tiền tài về quê nhà, để người thân bên cạnh có thêm phương tiện chăm lo cho Mẹ Cha chu tất hơn một chút, và thường xuyên thăm hỏi bằng thư từ hay điện thoại.

Hơn nữa, chúng ta là những Phật tử, dù tại gia hay xuất gia, đều phải “tu phước và tu tuệ”. Cha Mẹ chính là ruộng phước tốt nhứt để chúng ta gieo trồng những hạt giống tốt cho chính bản thân và cho thế hệ sau này. Trong kinh sách có dạy: Phụ mẫu hiện tiền như Phật tại thế, hoặc phụng sự chúng sanh, trong đó có Mẹ Cha của chúng ta, là cúng dường chư Phật, chính là nghĩa đó vậy. Do đó, chúng ta phải “biết ơn và báo ơn”, hết lòng chăm sóc cha mẹ hiện tiền, trước khi vào chùa tu phước hay cầu phước! Đừng nên đợi đến khi Cha Mẹ qua đời, vào chùa làm lễ cầu siêu, cầu khẩn, vái van Cha Mẹ có linh thiêng về phù hộ cho gia đạo của mình bình an và làm ăn phát tài! Người không “biết ơn và báo ơn” đối với Cha Mẹ, dù bất cứ lý do nào, thì làm sao có thể cư xử tốt với những người khác trong xã hội.

Hơn thế nữa, cách báo đáp theo đúng chánh pháp của người biết tu theo đạo Phật, dù tại gia hay xuất gia, là bản thân tinh tấn tu học và luôn luôn giúp đỡ Cha Mẹ biết tu theo Phật. Tu theo Phật nghĩa là không làm các việc ác, siêng làm các điều lành và giữ tâm ý trong sạch. Do đó, chúng ta đừng nên cung cấp, hay thỏa mãn các nhu cầu theo ý muốn sai trái, hay ý thức vô minh, để tạo thêm tội nghiệp cho Cha Mẹ. Những việc ác là các việc lợi mình hại người, các hành động hay lời nói gây thiệt hại cho người về vật chất cũng như tinh thần. Thí dụ như vu oan giá họa, vu khống cáo gian cho người, vì tư thù hay ganh tị đố kỵ, thậm chí vì muốn kiếm tiền bạc triệu! Thí dụ như vì vô tình hay cố ý gièm pha, nói xấu người khác, tuyên truyền những tin đồn có hại thanh danh người khác. Trái lại, chúng ta nên khuyến khích Cha Mẹ làm các việc phước thiện, cứu người giúp đời, tu nhân tích phước, khai ngộ chân lý, và chuyên tâm tỉnh thức. Tất cả hành động, lời nói, hay tư tưởng đều công minh, chính trực, lợi mình và lợi người, để luôn luôn giữ được bản tâm thanh tịnh.

Các bậc Cha Mẹ hiện nay nên cảm thông hoàn cảnh của con cái nơi xứ người, đừng nên mong cầu sự hiếu thảo theo quan niệm của thời đại xa xưa trước đây. Các bậc Cha Mẹ nên có tâm bao dung, rộng lượng, tha thứ và hiểu biết, đối xử với con cái với tâm bình đẳng, không phân biệt người con này có hiếu, người con kia bất hiếu, thương người con nào vừa lòng vừa ý, yêu người con nào thành công vinh hiển, ghét bỏ người con nào nghịch ý, chán chê người con nào thất bại nghèo khó. Nếu các bậc Cha Mẹ nhận được sự hiếu thảo như ý nơi con cái của mình, thì biết đó là phước đức của đời mình, và tiếp tục tu phước thêm nữa. Bằng không, các bậc Cha Mẹ nên tu nhân tích đức, biết mình kém phước thiếu đức, đừng nên oán trời trách đất, đừng nên than vãn, bêu riếu, rủa xả, chửi mắng, lên án, kết tội, hay xa lánh, từ bỏ con cái chính mình. Được như vậy, tâm của chúng ta an nhiên tự tại, bình tĩnh thản nhiên trong mọi hoàn cảnh, dù thuận lòng hay nghịch ý.

Tóm lại, dù hoàn cảnh như thế nào, chúng ta là những Phật tử, dù tại gia hay xuất gia, biết đi chùa làm công quả, biết “tu phước tu tuệ”, đều nên cố gắng tu tập theo đúng chánh pháp để đạt giác ngộ và giải thoát. Thực hành tâm bất tùy phân biệt là chánh pháp, trưởng dưỡng tâm từ bi để cảm thông và tha thứ đối với mọi người, kể cả với con cái chính mình. Sống hạnh phúc vì mình và vì người, không chứa chấp tâm sân hận, hết lòng với người thân và mọi người, hiện tại không hối hận, ra đi không hối tiếc. Tu tập theo đúng chánh pháp và hồi hướng công đức này cho Cha Mẹ nhiều đời vãng sanh tịnh độ, Cha Mẹ hiện tiền tăng long phước thọ và con cái chính mình an nhiên tự tại. Được như vậy, chúng ta đã báo đền ơn sanh thành dưỡng dục của Cha Mẹ, báo đền ơn Tam Bảo mười phương, báo đền ơn quốc gia và xã hội. Đây mới chính là cốt tủy của đạo Phật, mới là mục đích cứu kính của ngày lễ Vu Lan hằng năm.

NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬt

Thích Chân Tuệ
Mùa Vu Lan 2005

Theo dấu chân xưa

Mẹ kính yêu của con, bây giờ con không biết Mẹ đang làm gì nơi đó, Mẹ có biết là con đang nhớ Mẹ thật nhiều không? Năm nào cũng vào độ cuối Hè, lòng con thương nhớ Mẹ xôn xao. Nỗi nhớ dâng tràn nhiều hơn bao giờ, ghép thành những giòng thư con gửi về Mẹ, đúng ngày rằm tháng Bảy - mùa Vu Lan. Khi từ biệt Mẹ để ngập ngừng bước những bước vụng dại vào đời- cuộc đời mà niềm vui chừng như không bao nhiêu, so với nỗi bận rộn, lo âu, phiền muộn...Con mới nhận ra niềm hạnh phúc vô biên mình bỏ lại, kể từ khi bên cạnh đời con vắng đi bóng dáng gần gủi thân yêu của Mẹ. Con ước gì thời gian quay trở lại, để con không quá ơ hờ, mãi hồn nhiên bơi lội trong giòng sông mát ngọt yêu thương, mà không hề nghĩ có một ngày sẽ đến, con chim non đủ lớn khôn, tung đôi cánh lià tổ ấm.

Mẹ ơi, không phải đợi đến khi xa Mẹ rồi con mới hiểu, mà đã từ lâu trong lòng con luôn cảm nhận, ngọn núi uy nghi trầm lặng của tình Cha . Mẹ là giòng suối từ bi mát ngọt tuôn tràn, là bóng mát êm đềm cho con nép mình nương tựa suốt bao năm. Ðã biết bao nhiêu lần con bắt gặp ánh mắt buồn bã âm thầm của đấng sinh thành, như cố nuốt vào lòng những nỗi buồn đau, bởi từng biến động, thăng trầm trong cuộc sống, cho nên dù ráng sức mình, vẫn có đôi lần bó tay nhìn các con thiếu thốn, lầm than. Con tự trách mình ngu ngơ, khờ dại, khi thầm so sánh với bạn bè may mắn hơn mình. Họ không phải sinh ra trong gia đình quá đổi nhiều con, cho nên mọi thứ đều được sẻ chia không giới hạn. Và bên cạnh đó, là những luật lệ nghiêm khắc, mà Cha đặt ra để uốn nắn đàn con, bởi tự biết mình không có thời giờ để gần gủi con nhiều như các con cần.

Cho mãi sau này con mới hiểu, vì đâu Cha quá khắc khe với các con. Con vẫn chưa quên chuyện anh trai tánh nghịch ngợm nhất nhà, thường bị Cha nghiêm trị mỗi khi có người hàng xóm lên tiếng than phiền. Ngày đó con là đứa em nhỏ, thường nắm áo theo anh trong những trò chơi với lũ trẻ chung quanh. Con biết rõ ai là người phá phách, thường nghĩ ra những trò để chọc phá xóm làng. Nhưng mỗi khi nghe tiếng than phiền, thì luôn luôn anh là người bị đòn roi. Trong trí óc non dại của con ngày đó, có chút tủi hờn khi nghĩ tại sao Cha chẳng thương chúng con nhiều như Cha nhà người. Họ vẫn luôn luôn bằng mọi cách bênh vực và bao che lầm lỗi của con họ, dù biết rõ chuyện con họ gây ra. Cha cho biết lỗi của anh là không tự thắng mình, biết lũ trẻ quá quắt làm tổn hại cho người khác, vẫn góp mặt để chung vui dù bản thân chẳng có tham gia. Tội "biết mà cố phạm" của anh đủ bị phạt đòn, bởi Cha dạy đừng để ý tới lầm lỗi của người, mà chỉ cần nhận biết lầm lỗi của mình. Tánh nhẫn nhục, không tranh cãi, không cho mình đúng người sai, theo thời gian thấm nhuần tâm hồn đàn con của Mẹ Cha. Thật lâu rồi, con có lần nghe anh trai than thở rằng cuộc đời không phải bóng mát êm đềm, cho nên tính nhịn nhường không tranh hơn thua, mà Cha đã luyện cho từ nhỏ, đôi khi khiến anh có cảm tưởng như bị người ta nhìn như người khờ dại! Mẹ ơi, đó chỉ là những năm tháng đầu tiên đối mặt với cuộc đời. Bởi càng đi xa hơn, chúng con càng khám phá ra giữa những hơn thua, đúng sai ở chung quanh, thái độ điềm nhiên ngắm nhìn như khi đang xem tuồng trên sân khấu, rồi mỉm cười không nói gì, đã đem lại cho chúng con biết bao an lạc, nhẹ nhàng, dù quanh mình có xẩy ra nghịch cảnh trớ trêu.

Mẹ ơi, con ước ngày xưa con hiểu được, tấm lòng trời biển cao vời của người Cha với đàn con quá đông, một mình tận tụy hy sinh hứng trọn cay đắng, nhọc nhằn trong cuộc sống, chỉ mong đổi lấy ngày mai tốt đẹp cho con. Những buồn tủi thoáng qua ngày đó, đã thay vào lòng biết ơn không sánh được lúc con lớn khôn theo thời gian. Không phải chỉ riêng sự giáo huấn, mà con nhận được từ Cha Mẹ, con và những người bạn thân tình còn có cùng cảm nhận với nhau rằng, dường như những đứa trẻ được lớn lên trong sự dắt dìu nghiêm khắc của Cha,đến lúc trưởng thành thường thay cho hờn tủi buồn phiền ngày thơ dại, bằng lòng biết ơn sâu thẳm tận bên trong, cũng như có sự gắn bó rất đậm sâu với Mẹ Cha và những người thân, nhờ vào sự ràng buộc bởi trách nhiệm về hành vi của từng người ngay khi còn nhỏ. Với Mẹ, hành trang vào đời mà Mẹ đã cho, là món quà vô giá. Ðó là tấm lòng đối với mọi người, sẻ chia nổi khổ, niềm đau tha nhân. Cũng nhờ nhận được phần gia sản quý báu này từ Mẹ, mà những bước chân vào đời của con không đến đỗi gian nan. Con đi bằng bước chậm nhưng thanh thản êm đềm vì biết mở lòng ra, gạt ra những bon chen ganh ghét tỵ hiềm....giống như cách Mẹ Cha đã sống.

Mẹ ơi, con không hiểu sao ngày đó, con có lần so sánh với chung quanh, mà không biết thấy Mẹ đang thật gần bên cạnh, lặng lẽ âm thầm đón sự nhọc nhằn, vất vả một đời. Mẹ như quên luôn chính mình, để chỉ biết vì con, cho con, ước mơ con lớn khôn nên người hữu dụng. Tấm lòng từ ái, thương người như thể thương thân. Mẹ ơi, làm sao con quên được bài học từ bi Mẹ dạy chúng con. Năm đó gia đình mình theo thời cuộc đẩy đưa bởi sống trong đất nước triền miên chinh chiến. Ngay kế căn nhà vừa mới dọn đến của gia đình, là nỗi kinh hoàng của Mẹ Cha và đám trẻ khờ dại chúng con. Người đàn bà khó nghèo triềm miên vì không kham nổi những khổ đau trong cuộc sống, đã ngày mỗi ngày trút hết sự căm hờn lên gia đình mình, chỉ vì Cha Mẹ có khả năng để lo cho chúng con đủ ăn đủ mặc! Những tiếng chưởi rủa được gào lên bất kể lúc nào khi rãnh rỗi, không cứ đêm ngày. Cha lặng lẽ lắc đầu, rồi vỗ về, trấn an lũ con. Còn Mẹ thì lâm râm niệm Phật, cầu xin cho người sớm thoát cảnh khổ, được ấm áo, no cơm để không tạo nghiệp thêm. Họ hàng, người thân chứng kiến cảnh này, không ai nghĩ gia đình mình chịu. nổi, và có lời khuyên nên thu xếp dọn đi. Nhưng Cha vẫn bình thản an nhiên, còn Mẹ thì không bao giờ từ chối giúp người khốn khó, dù gặp lần đầu trong khu xóm nghèo nàn, mặc dù hoàn cảnh gia đình đông con chỉ mình Cha đi làm. Mẹ đã xẻ áo, chia cơm không phân biệt dù người dữ, người hiền, dù cả Mẹ và Cha đang gánh trên vai gánh nặng.

Giòng chinh chiến lại đẩy đưa thêm lần nữa, đàn con hầu hết đã lớn khôn. Căn nhà cuối cùng gia đình mình cư ngụ ở quê hương, là căn nhà nhỏ trong xóm nghèo giữa thành phố xa hoa. Ở đây, con đã thất vọng, trong khoảng thời gian đầu đối diện với bộ mặt đa dạng môi trường sống hoàn toàn xa lạ với Mẹ Cha và chúng con. Con ngẩn ngơ chới với, khi thấy và nghe đứa bé vừa tập nói ở cạnh nhà, phát ra tiếng bập bẹ đầu tiên là tiếng chửi tục giống như mỗi đầu câu nói của người chung quanh nó. Con càng đau khổ và ngượng ngùng nhiều hơn nữa, khi thấy và nghe cô láng giềng trạc tuổi mình có khuôn mặt dễ nhìn, cũng buông tiếng chưởi thề lúc đi ngang qua nhà mình, khi nói chuyện bình thường với đám trai hay gái trong khu xóm. Có những buổi trưa hè nóng, vẳng trong lời hát à ơi ru cháu của bà ngoại hiền từ, là tiếng chưởi rủa vút cao vượt qua con hẻm nhỏ không sâu. Người ta chưởi nhau vì bênh con, vì lấn đất sang sân nhà người bên cạnh, và vì đủ thứ nguyên do - giống như cả nhà mình bị kêu ra chửi để..giải sầu. Chỉ vì giọt sương đọng lại trong đêm từ trên căn gác nhỏ, vô tình rớt xuống gánh hàng rong. Con tưởng tượng như địa ngục là nơi nầy, và chị em con giống như đang lưu đày khỏi mảnh đất êm đềm của mộng mơ khi vừa mới lớn. Nhưng đã quen với những thăng trầm, coi đời là hư ảo, như diễn vở có đủ tiếng cười và nước mắt... Mẹ coi như không có từng lời hiềm khích, những hành động hiếp đáp thẳng tay của lũ trẻ chung quanh đối với em trai nhỏ hiền lành hơn ai hết của con. Mẹ đối xử không phân biệt, bất cứ người nào tìm đến với mình, dù thật lòng hay chỉ bề ngoài để được Mẹ giúp.

Bài học từ bi từ nơi Mẹ, đã giúp con thêm "can đảm", để nở ra được nụ cười thân thiện, với cô láng giềng có tiếng chưởi thề giòn như pháo nổ, thay vì cúi mặt tránh xa giống như bao bạn gái chung quanh. Con quên nói cho Mẹ biết, là con đã nhận lại ánh mắt rưng rưng chớp nhẹ, và nụ cười thật ấm áp vô cùng. Từ đó, con thôi không còn nghe tiếng chưởi, và cảm động làm sao bởi có một ngày, cô láng giềng đặc biệt này dừng chân trước cửa nhà mình, gọi con ra để tặng cho chùm ổi còn dính cuống mượt mà, là những trái ổi xá lị thơm tho, hái từ quê nhà ở miền Tây mà cô vừa đem ở quê lên, tặng cho con như một cách để tỏ tình thân. Từ đó với con xóm lao động nhỏ không còn là địa ngục như con nghĩ. Vì anh trai nghịch ngợm ngày xưa đã là sinh viên Vạn Hạnh, anh ra sức dạy kèm cho những cô bé học trò trung học những môn mà đám học trò con gái như con vẫn ngại ngùng, vì hiếm khi được điểm cao. Mẹ còn nhớ không, những muà Hè sau đó, Mẹ Cha có thể an tâm đi về căn nhà lá trên miền rừng núi, để cho con mặc tình làm đầy ắp căn nhà nhỏ nơi xóm nghèo ở Saigon. Vẫn theo gót chân anh như ngày nhỏ, con tập họp những đứa trẻ la cà, nghịch ngợm, dạy hát, dạy viết chính tả, tập đọc và tập làm những bài luận ngắn cùng với em gái út của con. Xóm nhỏ không còn lằn ranh phân biệt, giữa những đứa trẻ con nhà lao động, và đám học trò thướt tha áo trắng, giống như có từ bao năm trước. Một điều đặc biệt, mà chúng con khám phá ra, là cô bé có tiếng chưởi giòn như pháo ngày nào, giờ thay vào bằng tiếng hát thật trong trẻo, vút cao, mà con thường được nghe ngay chính trong căn nhà nhỏ của mình. Cha đã hài lòng nói với các con rằng: Nếu như biết sống, thì dù ở nơi đâu cũng tìm thấy sự an vui.

Mẹ kính yêu của con! Mỗi năm cứ vào ngày rằm tháng Bảy, muà Vu Lan báo hiếu ở đây. Con đi chùa để được cài lên trên ngực áo cành hoa hồng màu đỏ. Lòng con cảm nổi ấm áp, tưởng chừng con đang có Mẹ thật gần bên cạnh. Mỗi khi nở trên môi nụ cười thân thiện, gửi một ánh mắt nhìn ấm áp dịu dàng, hay lắng nghe trong sự cảm thông, mà không hề phán đoán, chê khen...Và nhận lại những tấm chân tình, con có cảm tưởng như Mẹ thật sự đang ở trong con, Mẹ có biết không? Mẹ ơi, có phải cuộc đời như là giấc mơ không? Ngày xưa con nắm chặt tà aó màu lam, nép mình bên Mẹ, dẫm những bước chân thơ trên đá sỏi nơi sân chùa Mẹ vẫn thường đi. Ðể rồi ngày nay nơi này, trong nỗi nhớ, niềm thương dành cho Mẹ, đã dẫn đưa con tìm lại dấu chân xưa. Cũng nhờ hạt giống lành mà Mẹ gieo trồng lên mảnh đất tâm con ngày đó, mà ngày nay hạt giống nẩy mầm. Bởi giữa những ngọn sóng đời vây quanh, con đã tìm ra một trú ẩn an lành khi đi tìm dấu chân Mẹ trong sân chuà và sân thiền viện. Sân chuà ngày cũ, tiếng mõ chuông thuở xa xưa, những câu kinh tụng mà con đã ơ hờ vì không thấu hiểu...bây giờ chính là một phần không thể tách rời trong cuộc sống của con ở nơi đây. Con cảm nghe thân yêu, gần gủi lắm như đã tìm ra đường về lại nhà xưa, sau bao năm trời lạc dấu, xa xôi.

Bây giờ thì Mẹ có thể mỉm cười, bởi không còn băn khoăn lo lắng về con như trước kia. Không gần Mẹ nhưng con đã tìm ra nơi chốn thật an lành để nương tựa trên quãng đường đời. Mẹ ơi, ân Tam Bảo dầy sâu biết mấy. Ân Mẹ Cha vời vợi biển trời. Giờ đây con còn mang ân nặng của quý Thầy, của sư cô- những bậc tôn túc đã dẫn dắt và chỉ bày con đi vào đường lành. Biết sống đời tỉnh thức và chuyển hoá phiền muộn, khổ đau thành an lạc và hạnh phúc. Cho dù cuộc đời có thật sự vui ít, buồn nhiều, nhưng con không còn sợ hãi, âu lo và nghi ngại giống thuở xưa.

Mẹ kính yêu của con.

Hôm nay con xin mượn những vần thơ của người bạn đạo nơi xa, dâng tặng Mẹ cùng tất cả những người Mẹ yêu dấu trên đời, để nói lên tấm lòng thành, thương yêu của chúng con, khi may mắn còn có Mẹ- người Mẹ tuổi hạc mong manh như giọt sương buổi sớm.

MẸ

Mẹ là đức Quan Âm
Hiện thân nơi cõi trần
Ban tình thương vô tận
Gieo rắc mầm Phật tâm

Trước lòng Mẹ từ bi
Quỹ ma quỳ sám hối
Giũ sạch bụi sân si
Trên dốc đời u tối

Bao phen con lao đao
Giữa giòng đời điên đảo
Mẹ đã là chiếc phao
Dìu con vào bến đạo

Trong chập chùng mê lộ
Con khóc cười vô thanh
Chỉ còn vòng tay Mẹ
Là nơi chốn an lành

Mẹ mong manh tuổi hạc
Mẹ tinh tuyền như sương
Thân tâm hòa an lạc
Thơm ngát nước nhành dương.
(Thơ AI CƠ)


Nguyên Thảo
Mùa Vu Lan 2004




Saturday, August 06, 2005

Hư hư lục

Tựa

Có bao giờ bạn thấy rằng dù chung sống với bao nhiêu người, ta vẫn cô đơn như ở một mình. Dù nói chuyện huyên thuyên suốt ngày mình vẫn như câm nín? Ngày trôi qua như mơ. Đêm đến tràn mộng mỵ.

Quyển vở này được soạn ra từ những cơn mơ bất kể đêm ngày, như thể là lời độc thoại của một kẻ chiêm bao tự nói với mình hơn là với độc giả

Thiền viện Viên Chiếu
Như Thủy

Hư hư lục - tên quyển sách nhỏ gồm nhiều truyện cổ Phật giáo, được viết qua lối hành văn giản dị, hồn nhiên và dí dõm của sư cô Như Thủy. Đọc Hư hư lục, thỉnh thoảng bắt gặp thấp thoáng ai như mình, trông rất đỗi quen! Dưới đây là vài trang sách My vừa đọc...

Cách làm một hạt ngọc trai

Em có biết người Nhật Bản họ làm một hạt ngọc trai như thế nào không?

Họ lấy một con dao nhỏ thật sắc, rạch bụng con trai ra, bỏ vào đấy một hạt cát và khâu lại. Xong, họ thả con trai ấy vào một cái hồ chứa đầy nước biển. Những con trai sau khi lãnh một hạt cát vào trong bụng như thế, có thể lâm vào hai trường hợp sau:

1. Những con trai yếu đuối sẽ chết vì vết thương làm độc
2. Những con còn lại, sau một thời gian đau đớn oằn oại vì vết thương, sẽ tiết ra một chất nhờn để bao bọc hạt cát đang nằm sâu trong da thịt.

Hạt ngọc trai được thành hình từ đó
.
Còn chúng ta, cuộc đời cũng đã mổ bụng ta và nhét vào đầy những niềm sầu, nỗi khổ.

Nếu chúng ta cứ than van hờn trách thì ta sẽ chết dần, chết mòn như những con trai yếu đuối nọ.
Ngược lại, nếu ngay trong nghịch cảnh oái oăm đó, mà chúng ta biết tiết ra một chất thức tỉnh thì một vị Phật được bắt đầu như thế đó em ạ!


Giải áo đứt

Xưa, một vị vua Trung Hoa mở đại tiệc thiết đãi trăm quan. Yến tiệc đang linh đình thì một cơn gió mạnh ập đến, tất cả đèn đuốc đều phụt tắt. Trong bóng tối một cung nữ đến tâu với nhà vua:

-Muôn tâu bệ hạ, thừa dịp tối lửa, tắt đèn một tên vô lại đã cợt nhã với thần thiếp. Thiếp đã bứt được giải áo của hắn. Xin bệ hạ cho truy tầm tội phạm ngay lập tức ạ!

Nghe xong, vua liền truyền lệnh:

-Hỡi bá quan! Để tỏ dạ trung thành và hết lòng vui say với trẫm đêm nay, các khanh hãy bứt hết giải áo đi!

Mọi người y lời. Tiệc tan, nàng cung nữ đến nũng nịu trách nhà vua đã không chịu bắt tội phạm mà còn tạo cơ hội cho hắn phi tang. Nhà vua mỉm cười đáp:

-Tửu sắc là những điều mà thường nhân khó ai tránh khỏi. Cho ta uống rưọu say chếch choáng, cận kề bên nữ sắc, gặp cơ hội thì chính ngay bản thân trẫm cũng khó mà tự chủ. Còn như biết được tội phạm mà không trừng trị thì phép nước hết nghiêm minh....Lòng trẫm chưa được vô tư như thánh nhân khi biết rõ người phạm lỗi, thì thà rằng chẳng biết còn hơn.

Về sau nhà vua lâm nạn mọi người đều bỏ chạy, duy chỉ có một viên quan trẻ liều mình cứu giá. Nhà vua thoát chết, hỏi tên họ ân nhân. Chàng trẻ tuổi cung kính thưa:

-Muôn tâu bệ hạ thần chính là người bị bứt giải áo năm xưa.

Hai vua tôi đều xúc động.

Em thân mến,


Vị vua này xử sự thật thông minh và tế nhị biết là bao. Đọc đến câu chuyện này tôi và em đều bồi hồi cảm động. Vậy mà trong chuyện tương giao hằng ngày, chúng ta lại cư xử hết sức thô tháo và khờ khạo. có lẽ vì thế mà chúng ta đã làm tổn thương cho chính mình và bạn bè không ít. "Nếu biết lỗi người mà lòng mình chưa thể vô tư như thánh nhân, thì thà rằng không biết còn hơn". Chúng ta có nên ghi đậm nét câu này vào lòng không đây?


À ra thế!

Sư một hôm có dịp đi ngang nhà người anh bèn ghé thăm. Người lớn đều đi vắng cả chỉ có thằng cháu mới lên 5 ở nhà. Sư đành đi ra đi vào, nhìn thơ thẩn và chờ đợi. Thằng cháu quan sát người khách quý hồi lâu, buột miệng nói:

-Có phải chú tính ăn vụng kẹo không? Ba má cháu đi vắng cả rồi, chú cứ lấy ăn cho đã thèm...Cháu không mách lại đâu!

Sư ???

Em thân mến,

Không riêng gì thằng cu này mà toàn thể loài người chúng ta, bất kể già trẻ, bé lớn, ai ai cũng thường hay nhìn người khác bằng cách "suy bụng ta ra bụng người"như vậy cả. Và có lẽ cũng vì thế mà đi đến bất cứ nơi đâu, trên bất kỳ ngã đường nào , chúng ta thường gặp cảnh tôn giả chúng sanh đấm ngực , bứt tóc than" trời ơi, sao mà khổ như ri? Sao chẳng ai chịu hiểu dùm tôi hết chơn hết chọi! v.v và v.v..."

Friday, August 05, 2005

Mai chị về - part1

Đồng hồ chỉ gần một giờ khuya khi xe về đến sân nhà . Đứa con trai trước khi đi ngủ tới hôn nhẹ lên má, kèm theo câu con chúc mẹ ngủ ngon. Đã bãi trường, nên tuần lễ qua hầu như ngày nào hai mẹ con cũng về nhà lúc gần nửa đêm. Mùa hè và ngày lễ, cũng là ngày mãn tang người Cha ra đi đã ba năm. Mấy đứa cháu xa lâu không gặp, người chị sức khoẻ ngày thêm hao mòn. My tưởng mình như chưa bao giờ rời căn nhà nhỏ để từ lâu sống cuộc đời riêng mỗi khi có dịp xum họp với tất cả người thân.

Cơn mưa buổi sáng về vội rồi ngừng trước khi My đến nghĩa trang. Ngôi mộ Ba đầy những cháu những con cùng người mẹ già tóc bạc. Cỏ ướt sau cơn mưa vội. Ba năm qua nhanh trước khi My kịp đếm thời gian. Mười đứa con xa gần và gần ba mươi đứa cháu vây quanh ngôi mộ. Ba năm, đôi mắt khép bình yên của người đi là những sóng gió chập chùng khiến người ở lại nhiều lần cạn khô nước mắt. My thương Mẹ chứng kiến nhiều đỗ vỡ, chia ly của mấy đứa con. Những đứa cháu gần xa hiện diện hôm nay, có nhiều đứa trở về dẫu mẹ cha từ sau ngày Ba My mất chẻ qua hướng khác. Những khoảnh đất trống ngày My mới đến lần đầu nơi Ba yên giấc, sau ba năm như ấm, rộn ràng hơn. Hoa ngày được trồng thêm nhiều. Cỏ bớt đi héo úa vì mọi người thay nhau chăm sóc và thắp những nén nhang cho hết những người láng giềng có nơi yên nghỉ gần nhau. Mỗi khi đến thăm Ba ở nghĩa trang, My thường đốt nhang và quỳ lạy trước tôn tượng ngài Địa Tạng- là vị Bồ Tát có lời nguyện bao giờ điạ ngục vẫn còn người thọ cực hình, thì ngài nguyện vẫn không thành Phật. Riêng My, bao giờ My cũng nguyện cầu, không phải cho riêng Ba của My mà cho tất cả những người Mẹ và Cha, những người thân yêu của My và của tất cả mọi người đã quá vãng- dù ra đi cách nào thì tất cả đều được siêu thoát, đến một nơi thật sự có an vui miên viễn.

Mẹ và em gái đã trồng xuống những bụi vạn thọ, có cánh vàng rực rỡ trước mộ Ba. Mẹ ở xa nên nhiều lúc băn khoăn. Sợ hoa không lớn nổi vì thiếu nước và sợ Ba My nằm quạnh quẽ vì thưa người thăm viếng. Lần nào đi với Mẹ đến nghĩa trang, lúc ra về My cũng nghe Mẹ nói nhỏ câu này: Ông ơi, ông ở lại một mình nghe! Bây giờ tui với con về. Tuần sau tui trở lại thăm ông. Giọng nói Nam kỳ mộc mạc, My đã nghe quen mà sao lần nào cũng chùi nhanh giòng nước mắt sắp tràn ra. My luôn là điểm tựa khi Mẹ trở nên quá yếu mềm. My chỉ khóc một mình không cho Mẹ thấy mỗi khi thương và nhớ. Ba năm, đếm từng giờ trong hơn một ngàn ngày đã qua rồi. Buổi sáng Mẹ pha ly cà phê thật nhạt, chỉ chút đường, chút cream như thói quen Ba vẫn thích ngày xưa. Sáng nay ở nghĩa trang Mẹ thẩn thờ nói với My rằng, Ba đã qua kiếp khác thì cà phê đâu còn ai uống nữa. My cười buồn, nói Ba đi từ lâu chứ đâu phải đợi đến hết ba năm. My lại nghe câu hỏi tiếp như vẫn thường nghe hỏi từ sau ngày Ba mất. Ba về đâu, không biết khổ hay vui? My lúc nào cũng nói như ý nghĩ thật trong lòng. Ba chắc chắn về cõi lành, không còn sống trong cảnh khổ triền miên dài đăng đẵng vừa qua. My nhớ ngày Ba mất chị dâu My sắp sinh ra đời đứa cháu. Mỗi lúc My về nhà Mẹ tụng kinh cầu siêu cho Ba, thì chị cũng ra ngồi bên cạnh. Đôi khi Mẹ My buồn ra ngồi niệm Phật trước bàn thờ nghi ngút khói nhang. Chị dâu cũng lặng lẽ theo ra ngồi với Mẹ dù bụng lớn và tê mỏi thật nhiều. Khi đứa cháu ra đời, em gái My bồng bế nâng niu. Nói con giỏi lắm, đã biết nằm yên nghe bà nội niệm Phật ngày này qua ngày khác. Đã cùng mẹ con tụng kinh cho ông nội nữa, phải không? Rồi một lần em gái hỏi My rằng. Sao cháu mình dễ thương đến nổi đôi khi em thoáng nghĩ, có bao giờ Ba đã tái sinh? My biết Ba My không còn gì trói buộc để quay trở lại. Ba đã sống đời đáng sống, làm chuyện phải làm của một đời người, và xong trách nhiệm với người thân. Cho nên bao giờ My cũng thầm cầu nguyện cho Ba dù đến cỏi nào cũng có duyên gặp Phật, cho đến ngày qua bờ giải thoát, không còn trầm luân trong sinh tử. My nhớ lần My cùng Mẹ và em dự một ngày tu học của vị thầy đến từ nước Pháp. My được nghe giảng về những hiện tượng ngay sau khi trút hơi thở sau cùng. Những cảnh giới tái sinh được biết, qua những vùng ấm, lạnh nơi xác thân gởi lại lúc ra đi. My nhớ rõ nhưng không bận lòng lo nghĩ đến điều này, dù My có thể biết nơi nào còn ấm áp sau lúc Ba ra đi bởi ngay khi đó, có bàn tay của My và những người thân ve vuốt, tiễn đưa. Khi Mẹ hỏi con có biết nơi nào còn ấm. My lắc đầu nói con nghĩ không cần. Ba sống thiện lành sẽ về nơi rất đổi thiện lành. Mẹ cũng vậy, đừng hoang mang làm chi nữa lúc ra đi.

Trước khi rời nghĩa trang để đến chùa làm lễ xã tang. Đứa em trai nhỏ bảo người anh ngồi xuống và một nửa như quỳ ngay bên cạnh của em. Rồi em gọi Mẹ đến ngồi lên trên đùi của hai đứa con trai. Các anh chị còn lại cùng đứng phía sau, và đám cháu nội ngoại vây quanh để có những tấm hình giữ lại mai này. Mẹ chắc không có thời giờ để kịp nâng niu nỗi buồn thưong. Nhất là khi bên cạnh có những đứa con trai hiền của Mẹ. Em gái My đôi khi nói với My rằng, em thấy Mẹ dường như thương trai nhiều hơn gái. Thương đám cháu nội hơn cháu ngoại. My cười nói; phải, mà không phải. Con gái gặp hoài, gặp trước khi nghe nhớ trong lòng. Con gái nói ra không giữ lại điều gì. Con trai ít gặp và thường lặng lẽ, cho nên tình Mẹ dành cho con cũng lặng lẽ nhưng trìu mến ngập đầy, biểu lộ trong ánh mắt, trong vòng tay nâng niu dành cho cháu nội, vì ít có cơ hội gần gủi hơn lũ cháu ngoại vây quanh. Con gái xúm xít. Con gái huyên thuyên và con gái thỉnh thoảng còn như...ganh tỵ giống lúc này! Mẹ an tâm lắm và vì gần gủi quá nên không bận lòng mong nhớ.

Rời nghĩa trang cả nhà đến ngôi chùa có gởi thờ di ảnh của Ba My. Nắng tháng năm nóng bỏmg. Chùa năm nay đẹp hơn năm rồi nhờ những hoa và cây kiểng điểm trang thêm. Dù mê chụp hình, nhất là khi có anh chị ở xa về, nhưng mấy chị em chỉ bấm vội vài tấm hình cùng đám cháu đã lâu chưa gặp rồi vô chùa chờ tới giờ làm lễ. Điều làm My mừng thầm là những đứa cháu trở về trong gia đình gẫy đỗ, chừng như khôn lớn, trưởng thành nhanh. Là những cô thiếu nữ dễ thương. Là những chàng trai trẻ cao lớn, hoạt bát, yêu đời và vô cùng gần gũi, ân cần. Lũ cháu hồn nhiên đứng cạnh choàng tay ôm những người cô, chừng như nhỏ lại, bé bỏng bên cạnh đám thanh niên cao lớn chẳng thua dân bản xứ. Một đàn cháu con và Mẹ, đã quấn lên trên tóc vành khăn tang trắng năm nào. Cho đến khi thầy tụng kinh và làm lễ mãn tang xong, những chiếc khăn tang được mở ra để lại chùa thầy sẽ thiêu sau đó. Mẹ vẫn còn khóc thổn thức, mỗi khi tới ngồi tụng kinh cạnh bên di ảnh của Ba.

My đưa mắt nhìn quanh tất cả khuôn mặt thân yêu của người thân. Thương lắm con và cháu không hiểu gì lời kinh Phật nhưng vẫn ngồi ngoan hằng giờ với vành tang trắng. Đứa cháu trai mang trong người hai giòng máu, và người anh rễ mắt màu xanh lơ cũng quỳ lạy nhịp nhàng cùng chị cạnh bên. My có lần thảng thốt vô cùng, bởi câu hỏi bất chợt của con trai nhỏ. Mẹ ơi trong "gia đình ngoại", rồi ai sẽ là người kế tiếp ra đi? Con biết rồi, không phải người nào già nhất thì mới chết. Nói với con chuyện ngày mai làm sao biết được. Mình còn có nhau ngày nào thì chỉ nên vui ngày đó, thôi con. Ngày đưa Ba My tới nghĩa trang, con trai lúc ấy gần 7 tuổi. My như còn nhìn thấy hình ảnh đứa con trai nhỏ đứng thẩn thờ bên huyệt thật lâu. Con trai My và đứa em gái cousin nhỏ hơn chút xíu, đã không ngừng chuyền nhau những bông hoa, đứng lặng yên thả xuống lòng huyệt cho tới khi đất được lấp lại, vun cao. Những vòng hoa tang bắt đầu héo dần bởi nắng hè, đuợc phủ đầy lên trên mộ. Đêm đó con trai My nằm thao thức, khẽ hỏi My. Mẹ ơi, con nghĩ tới ông ngoại nằm đó, đất lấp đầy tăm tối quá phải không? My vuốt tóc con bảo hãy ngủ ngoan. Ông ngoại cũng đang yên ngủ đời đời giấc ngủ an lành. Dù bóng tối hay ánh sáng ông ngoại vẫn ngủ ngon, con ạ. Mẹ ơi, có phải ai già rồi cũng chết hay không? Không hẳn vậy vì con đã biết, đã nhìn thấy và đã có nghe tin tức về chiến tranh, về tai nạn, về những người chết bệnh và thiên tai. Trong đó có em bé, có người trẻ, có người già...Con nhớ rồi. Vì mẹ có nói với con có nhiều đứa trẻ lớn lên không có mẹ hoặc cha. Có khi không bao giờ biết mặt mẹ cha mình nữa. Con không biết rồi con sẽ sống làm sao nếu như không còn mẹ nữa, mẹ ơi!

My thẫn thờ sau câu hỏi ngây thơ của con trai. Sinh, lão, bệnh, tử là con đường ai cũng sẽ phải qua. Nhưng vẫn có nhiều người bỏ cuộc giữa chừng, để lại biết bao nhiêu nỗi tiếc thương. Đời có ngắn, có dài. Duyên đã tận thì xuôi tay nhắm mắt ra đi. Biết thế mà sao mỗi khi nghĩ về ngưòi chị phương xa, lòng My se lại trước nỗi đau của người chị chưa gìa trong những ngày tháng sau này. Mỗi năm chị về thăm gia đình một tuần. Luôn có anh và thỉnh thoảng có các con. Hai đứa con trai rất hiền ngoan. Không nói mà ai cũng cảm nhận được ánh mắt đằm thắm yêu thương, nhẫn nại và cảm thông khiến cho đám anh em cousins dù ít gần nhưng quyến luyến, mến thương tựa như cùng sống một nhà dù cơ hội gặp nhau rất hiếm hoi. Hai đứa cháu trai con của chị, có lẽ thừa hưởng tính thâm trầm, từ tốn bao dung của người cha, và tính nhạy cảm, mộc mạc chan hòa tình thương mến dành cho những người thân thiết trong đời của mẹ. Mấy cha con người anh rễ, lúc nào cũng như chiếc bóng, lặng lẽ đi theo chị ở phía sau. Sẵn sàng giang rộng đôi tay bảo bọc. Dù không nói ra bằng lời nhưng ai cũng nhận ra, trong bầy con gái 5 đứa chị là người như "thâu gom" hết hạnh phúc lứa đôi của những đứa em.

Mẹ sinh 3 đứa con trai rồi sinh chị. Sau chị thêm 2 trai nữa rồi mới tới phần My. Chị là "công chúa” vì một mình là con gái với 5 đứa con trai vây quanh rất nhiều năm. Chị được người anh kế lớn hơn 2 tuổi, nâng niu làm hết chuyện của đứa con gái trong nhà, dù khi ấy chị đã dần qua thời thơ ấu. Mẹ nói nuôi chị khó, được người cậu nhỏ âu yếm gọi bằng hai tiếng mèo con. Mỗi khi cậu đi đâu về, thường cất tiếng gọi chị bằng tiếng kêu meo meo quen thuộc. Càng đưọc thương yêu, cưng chiều hết mực thì chị càng như mong manh, dễ vỡ trong những tháng năm của tuổi thơ. Mẹ nhiều lần tuyệt vọng, vì ngỡ không giữ được đứa con gái yếu, bệnh triền miên từ lúc chào đời. Có lẽ phải đợi đến khi My góp mặt, rồi tiếp theo là một dọc con gái nữa, chị mới bắt đầu lớn nhanh và "dễ nuôi" hơn, vì đã mất dần ngôi vị công chúa bên cạnh đám em gái nhỏ . Mẹ kể thuở nhà còn xài nước giếng. Trong nhà có một cái giếng sâu mười mấy thước và nước được lấy lên bằng cái thùng cột sợi dây thừng, quấn quanh trục gỗ tròn. Người anh lớn hơn chị 2 tuổi mỗi buổi sáng sớm thường lấy nước từ giếng lên trước lúc đến trường. Khi anh quay xong những vòng quay cuối và thùng nước đang lơ lửng gần miệng giếng. Anh gọi đứa em gái đang quẩn quanh chờ cùng anh rão bước tới trường, tới bên giúp anh kéo thùng nước đầy vào bờ giếng trong khi anh trở ngược vòng quay. Chị của My chồm người cố kéo thùng nước nặng vào. Thùng nước đã không ghé nằm yên trên bờ giếng mà kéo ngược chị cùng rơi nhanh xuống giếng sâu. Sức nặng của thùng nước và của đứa em gái nữa, anh My đành buông tay vì không giữ nổi trục quay. Anh kêu tên đứa bạn học chung ở nhà ngay bên cạnh, sang giúp anh "vớt" em gái vừa rơi xuống giếng lên. Chị kể lại dù bị thùng nước kéo theo rơi nhanh rước khi nhận biết, trong vô thức hai tay chị vẫn nắm chặt chiếc quai thùng bằng gỗ. Chị nghe đôi chân khẽ chạm vào đáy giếng, rồi sau đó bỗng nổi lên mặt nước trong lòng giếng hẹp và sâu. Anh My mừng rỡ nhận ra mái tóc đen trồi lên mặt nước, giục đứa bạn thân ráng sức quay nhanh thùng nước có đứa em gái thương yêu đang cố bám chặt tay như bám vào sinh mệnh mong manh. Chị sau cơn chết đi, sống lại vẫn ngây thơ nghe lời anh vào thay quần áo vội vàng để kịp dến trường. Mẹ My đi chợ về ngang đầu dốc. Nghe người láng giềng báo tin con gái vừa rơi xuống giếng sâu. Mẹ hoảng hồn quăng giỏ và bỏ luôn đôi guốc thấp, chạy vào nhà ngơ ngác kiếm tìm. Người hàng xóm trấn an, con bé bình yên. Như có phép lạ, nó rơi xuống đáy giếng rồi nổi lên và được hai thằng anh quay lên cùng thùng nước mà nó cố bám chặt quai từ lúc bị kéo theo rơi xuống đáy. Mẹ mếu máo chùi nhanh nước mắt. Bước thấp, bước cao vừa đi, vừa chạy tới trường. Mẹ xin thầy cho mẹ đón chị về, vì con gái vừa chết đi sống lại nên cần nghỉ ngơi cho tỉnh táo. Chị theo Mẹ về mà không hiểu tại sao mình nghỉ học. Để hôm sau vào trường bị bạn trêu đùa là dám cả gan thám hiểm giếng sâu. Chị về nhà trách Mẹ, nói làm chi để ở trường ai cũng biết.

Khi chị bắt đầu trở thành thiếu nữ, cũng là lúc người anh thêm bận rộn lo bảo vệ đứa em gái tha thướt, mượt mà làm thổn thức nhiều trái tim non của đám con trai. Anh dù hiền lành rất mực, nhưng đã biết chận đường vài đứa con trai mon men theo em gái lúc tan trường. Tới lúc này ba Mẹ My dù bận rộn tối tăm với đàn con 10 đứa , cũng bắt đầu lo lắng khi thấy đứa con gái lớn thật lòng mà nói không hẳn là xinh đẹp, mà sao ong bướm cứ vây quanh. My nhớ Ba My khó lắm. Biết chị có giọng hát hay nên vẫn cấm đóan thật là nghiêm nhặt. Mỗi lần chị sang chơi nhà người bạn gái học chung, ba về nhà hỏi và bảo My sang gọi chị về liền. Bạn của chị có anh trai là bạn của anh My. Anh mê đàn và có đám em mê hát. Nhưng điều mọi người mê hơn hết vẫn là giọng hát của chị My. Khi sang gọi chị về, luôn luôn My không nói vội, mà thủng thẳng chờ nghe một hai bài hát rồi mới báo tin Ba muốn chị về ngay. Ba My sợ chị mê ca hát, rồi vướng nghiệp cầm ca. Thỉnh thoảng khi ngôi trường Trung học tổ chức ngày lễ lớn, Ba chỉ bằng lòng cho chị tham gia hát khi có giáo sư đích thân tới nhà xin phép. Qua những lần tham gia văn nghệ trong trường, tiếng hát chị như lan xa trong vòm trời tỉnh nhỏ. Nỗi lo của Ba My cũng lớn dần theo những lần tiếp vài người khách không mời mà đến. Đó là những chức sắc ở tiểu khu, ở văn phòng hành chánh tỉnh, tìm tới xin phép cho chị tham gia hát giúp vui trong những ngày lễ lớn hoặc đón tiếp những người khách đặc biệt của tỉnh nhà. My nhớ bất cứ lần nào chị đi hát, My cũng được dắt đi theo. Đó là ý của Ba My. My nghiễm nhiên trở thành người vệ sĩ tí hon đi theo ngầm bảo vệ người chị lớn . Có lẽ suốt đời Ba My vẫn không có dịp nào nghe con gái hát, cho nên Ba đâu làm sao biết bởi càng cố sức giam giữ tiếng hát này thì càng ngày tiếng ca của chị càng vuợt ra xa. Chị bí mật nói cho My biết, là mỗi buổi sáng trên đường đi đến trường chị đã ghé ty Thông tin xã hội hát một bài cho khắp tỉnh cùng nghe. Ai cũng biết chỉ là Ba My không biết. Nhưng không vì vậy mà chị đi vào nghiệp cầm ca. My nhớ ngoài những chiếc áo dài trắng mặc thường ngày đi học, mẹ chỉ may thêm cho chị chiếc áo màu xanh da trời để mặc khi không phải là đi hát cho trường. Chị 17 thì My 10 tuổi, là đứa bé gái luôn luôn ngồi ở hàng ghế đầu, để chị vừa hát mà ánh mắt vừa dừng lại chỗ My ngồi. Không biết là My đi theo trông chừng chị, hay là chị bận bịu trông chừng đứa em nhỏ lúc nào cũng ngồi trơ trọi một mình giữa đám đông rất đổi lạ xa. Có lẽ vì vậy mà một đôi lần tan học, trên đường về nhà My và đứa bạn học ngẩn ngơ, bởi có người đón đường tặng quà cho con bé. My bối rối không dám nhận, cho đến khi nghe dặn dò, bé cầm mang về cho chị. Chỉ cần nói tên anh thì chị biết là ai. Khi hát trong những buổi văn nghệ do tiểu khu tổ chức, chị thường hát song ca toàn nhạc lính với một anh mặc bộ đồ lính trận rằn ri. Giọng hát chị ngọt ngào làm rung động nhiều người. Tà áo màu xanh đứng nép bên người lính đã làm nhiều con tim thổn thức. Mẹ gian nan thêm vì chị, bởi ngoài đám hoc trò lẻo đẽo theo sau giờ tan học, bây giờ còn có những người lính gắn hoa mai trên cổ áo lui tới nhà My. Ba bực dọc, mẹ thì lau nước mắt. Chị cũng khóc hoài nói tại người ta theo con chứ con có làm gì đâu! My nghe tiếng người anh trai là em kế chị cằn nhằn. Mặt mày trông "sáng sủa" mà sao ngốc nghếch. Ai bảo chị nói chuyện với đám đàn ông con trai bằng cái giọng ngọt ngào. Không biết tạo khỏang cách , với ai cũng anh và em hết! Tiếng khóc của chị nấc lên thêm cùng với tủi hờn. Phải nhiều năm sau đó My mới hiểu lời anh My nói. Bởi My cũng đâu có khác chị ngày xưa. Chỉ khác là thời thiếu nữ của My không có cảnh trời sầu đất thảm trong nhà. Bởi My xấu xí ra nên đường không ai săn đón. Dường như thật uổng công Ba My đã thầm lo, My rồi đi con đường cũ của chị My. Chị duyên dáng, ngọt ngào và rất đổi chân thành. Có lẽ vì lớn lên bên cạnh những người anh mà ai cũng nâng niu đứa em gái yếu ớt mong manh, cho nên chị không có cách xưng hô nào khác với những người dù lạ hay thân trạc tuổi các anh. Khi gọi ai bằng anh thì chỉ biết xưng em. Không bao giờ xưng tên với bất cứ ai và tiếng xưng tôi thì cho đến ngày này, 5 chị em gái của My dường như không bao giờ dùng tới, khi xưng hô với bất cứ ai. My và mấy đứa em sau đã phải khổ công tập luyện, để biết xưng tên với bạn học chung và với những người còn có khoảng cách trong giao tiếp.

Mặc cho ba mẹ và anh My bảo vệ, giữ gìn, chị ngày càng như bước đi những bước thênh thang. Mùa hè năm đó khi học xong lớp đệ tam, chị bỗng dưng không chịu ở nhà phụ mẹ chăm sóc đám em thơ. Chị nhất định xin vào làm thư ký ở trại Lực lượng đặc biệt của lính Biệt kích do người Mỹ chỉ huy. Ba dĩ nhiên ngăn cấm. Chị vừa khóc vừa van nài bảo rằng con chỉ muốn ra ngoài đi làm dịp hè để luyện thêm tính tự lập thôi. Ba My vốn giòng tự lập, cho nên đã xuôi tai sau nhiều đêm nằm gát tay lên trán thở dài. Hết mùa hè chị trở lại trường, nhưng không chú tâm vào chuyện học, dù là năm thi tú tài phần 1. Chị vừa học ở trường vừa học thêm đánh máy và Anh ngữ ở trường tư, vì sinh ngữ chính chị chọn trước giờ là Pháp văn chứ không phải Anh văn. Chưa tới kỳ thi, chị ngang nhiên bỏ học. Ba buồn rầu tuyệt vọng buông xuôi, bởi chị như không còn sợ chi đến hình phạt thật nghiêm vẫn thường được ba My áp dụng với lũ con . Chị đi làm, mặc những chiếc áo dài tha thướt, dịu dàng. Ngày hai buổi có xe zeep đưa đón nhân viên dừng lại trước sân nhà, do một người lính biệt kích trong trại lái. Hai tiếng nghỉ trưa đều đặn mỗi ngày chị có mặt ở nhà. Ba My có vẽ an tâm dù vẫn thở dài buồn bã mỗi khi nghe những lời mai mỉa xa gần, bởi con gái bỏ học đi làm trong trại lính.

Khi My bắt đầu học năm đầu trường trung Học, thỉnh thoảng nghỉ vì thầy cô vắng mặt bất ngờ, My được chị cho phép dắt đám bạn học chung, đi bộ lang thang đến chỗ chị làm, vì khoảng cách từ trường của My tới đó chẳng bao xa. Ở đây, đám học trò nhóc tì của My có cơ hội ấp úng lo tìm chữ để trả lời vài câu tiếng Anh giản dị, từ một vài người xếp của chị My. Cả bầy con gái nhỏ được tặng cho nhiều viết và những cuốn tập vở mà dù giấy trắng tinh cũng chỉ để dành chơi vì không giống vở học trò. Trong khi người anh học trên My bốn lớp như chợt thêm nhiều bứt rứt, buồn phiền. My chỉ hiểu điều này sau khi chị của My rời miền tỉnh nhỏ, rời quê hương để đi một chuyến thật xa. Anh nhìn My hỏi giọng buồn buồn. Hỏi mà không đợi câu trả lời của đứa em gái nhỏ. Chị đi rồi. Chỉ có hai anh em mình ở lại trường, lâu lâu nghe những tiếng lao xao buồn quá phải không My? Ngày đó My còn ngây thơ quá, khi hiểu thêm thì cũng quên hỏi lại anh , có phải vì mặc cảm mà anh bỏ trường, bỏ bạn bè và cả gia đình làm chuyến phiêu lưu ra tận miền Trung sau khi thi đậu tú tài phần một. Chị vẫn đi làm ngày hai buổi. Những ngày rằm, mùng một chị thuờng nghe lời ba nắm tay dắt My đi vô ngôi chùa ở gần nhà. Có khi là buổi trưa, có khi là buổi tụng kinh đêm nếu như trưa đó chị bận không đi được. Chị còn trẻ mà đến chùa đều đặn, thỉnh thoảng còn tham gia đêm lửa trại, hát những bài đạo ca dù chị không tham gia sinh hoạt trong gia đình Phật tử. My nhớ các vị sư già dường như quý mến chị nhiều, lần nào chị vào chùa quý sư cũng ân cần nhắc nhỡ chị ráng sống theo lời Phật dạy để được nhiều an vui cho mình và cho cả những ngưòi thân. My cũng bắt chước chị ngồi xếp bằng một lúc, lấy cho riêng My một quyển kinh. My đọc, tụng theo một đọan, rồi ngồi ngáp dài cho tới lúc không gượng nổi, bèn nằm gối đầu lên trên đùi chị ngủ ngon lành. Dù ở nhà hay ở chùa, suốt thời thơ ấu dường như My thường đi vào giấc ngủ bằng lời kinh tụng êm đềm mà My quen nghe như nghe những lời ru. Đêm trăng tỉnh nhỏ, ánh sáng dịu dàng tỏa nhẹ khắp trời. Thỉnh thoảng vài cơn gió nghe xào xạc, lẫn trong những bước chân rất chậm của hai chị em My giữa trời đêm. Cho đến sau này My mới hiểu, chị lui tới của chùa chỉ vì ba My muốn, vậy thôi. Cuộc đời dường như đang chào đón và tràn đầy hứa hẹn, với cô thiếu nữ hồn nhiên nhưng dám nghĩ, dám làm theo tiếng nói của con tim. My nghĩ đó chính là những nhát cuốc đầu tiên, xới lên mảnh đất tâm chưa kịp gieo trồng . Phải đợi mấy chục năm sau đó chị mới thơ thẩn đi tìm trở lại đoạn đường bỏ dở.

Mỗi tháng hai lần, chị mặc bộ đồ lính biệt kích, được cắt sửa lại thật khéo, ai bắt gặp hình ảnh này cũng gởi ánh nhìn. Chị đi trực thăng tới những tiền đồn heo hút ven tỉnh lỵ phát lương cho lính- đa số là những người lính biệt kích Thượng, được quân đội Mỹ trả lương. Thỉnh thoảng chị làm không kịp sổ lương, đem về nhà làm thêm buổi tối. My là đứa lúc nào cũng quẩn quanh bên chị, được chị kêu phụ check lại để hai chị em đỡ thức khuya hơn, vì khi chị còn thức là My không bao giờ đi ngủ trước. Dáng chị mặc áo dài thật đẹp, mà sao My vẫn ưa nhìn chị mặc bồ đồ lính rằn ri. Có lẽ ngày đó My chưa biết khám phá ra vẻ hiên ngang và oai hùng của những người lính trận, cho nên khi ngắm nhìn “người lính tóc dài” My thấy dễ thương và xinh đẹp làm sao. Có môt bữa vào ngày rằm trong tháng, cũng là ngày chị đi phát lương ở tiền đồn trong buổi sáng. Trước khi rời nhà đi làm, ba dặn dò chị giờ nghỉ buổi trưa nhớ tới chùa lễ Phật thay ba. Buổi trưa đó ba tự dưng rỗi rãnh ghé qua nhà, vừa lúc chị cũng từ ngôi chùa về lại. Ba My nổi trận lôi đình, khi thấy chị mặc bộ đồ lính đi lễ Phật. My nhìn chị khóc như mưa mà xa xót. Tự dưng có cảm nghĩ ba không thương con gái nhiều như đám con trai. Khi đủ trí khôn rồi My mới hiểu, chỉ vì thuở đó ba không sống cho chính mình, cho người thân và hạnh phúc riêng. Ba bị tiếng đời dị nghị, dèm pha làm tan nát thân tâm, dễ nóng giận thành ra quá đáng, làm khổ chính ba và khổ cả người thân. Ngày mà ba mẹ My lo sợ rồi không tránh khỏi. My đã được chị nói cho nghe quyết định lấy chồng- là người sĩ quan cố vấn có khuôn mặt hiền, dễ mến trong trại lính, My có gặp vài lần khi đến chỗ chị làm. My chưa đủ trí khôn để hiểu, vì đâu chị chọn con đường nhiều gai góc để đi. Bão tố sẽ nổi lên trong căn nhà nhỏ, Mẹ khóc nhiều rồi sao chị đành lòng. Ba My đời nào chấp nhận cho chị lấy người chồng khác chủng tộc màu da, đến từ nơi nào xa lắc không biết đâu nguồn cội. Chưa kể còn bao nhiêu thứ khác, làm khốn khổ cả nhà như “danh dự gia đình”, vì chắc chắn từ một cô bé học trò nề nếp, hiền ngoan trong một sớm một chiều chị bị mọi người coi thường, khinh rẽ. Cha một đời khổ nhọc, không màng chi đến bản thân, chỉ mong nuôi con ăn học, để bớt khổ như cha và một phần nào hữu dụng cho đời. My nghĩ không ra chuyện đời thuở ấy. Cũng là ba mẹ của My không là ai khác, chỉ vì chị My lấy ngưòi chồng khác chủng tộc, mà từ tiếng lành đồn xa hai đấng sinh thành một sớm một chiều trở thành nạn nhân của tiếng thị phi đâu đó sau lưng. Phải lớn hơn My mới hiểu. Ba mẹ My không thay đổi trong cách sống, chỉ có ý nghĩ và sự tưởng tượng thêu dệt của người đời mới đổi thay nhanh. Làm sao có đám cưới, có theo chồng như những người con gái bình thường. Chị gan lì lau nước mắt âm thầm từ biệt mẹ sau khi nghe câu chối từ quyết liệt của ba. Thêm một giọt nước làm tràn ly nưóc đã ngập đầy. My buồn đến thẩn thờ khi chị ra đi. Chợt khám phá ra từ trước đến giờ My dưòng như không gần với đám em nhỏ của My, dù vẫn phụ mẹ chăm sóc bế bồng, hát ru em ngủ. Những ngày mẹ có việc đi xa không về kịp, My phải giăng chiếc võng trong mùng vừa ngủ vừa ru đứa em gái nhỏ, nằm gối đầu trên cánh tay tê mỏi của My. Em thèm hơi mẹ, trở mình khóc gần như suốt cả đêm. Chỉ ngủ những giấc ngắn khi được My ôm em trong tay cùng nhịp võng đong đưa, đệm theo những lời ru mà My nghe hoài đã thuộc từ nơi mẹ. Lớn hơn một chút, chị và My cho em cùng ngủ chung trên bộ đi văng. Em nằm giữa cho an toàn, không lo bị muỗi cắn vì nằm sát mép mùng như chị với My thường bị. Vậy mà chẳng hiểu sao nửa đêm thức giấc, My đưa tay quơ tìm cạnh bên không thấy em đâu. Em đã bị hai người chị không biết bằng cách nào làm cho rơi xuống nền gạch “an toàn”. Em vẫn còn nằm bên trong mùng và ngủ say sưa, dù cánh tay bụ sửa đã bị vài con muỗi đói mon men hút máu. Mẹ nghe chuyện, xa xót cho em và chỉ biết cười trừ. Mẹ biết chị em My - nhất là My chịu cực sớm vì có nhiều em nhỏ. Có một câu mẹ nói đùa mà My còn nhớ tới ngày nay “con gái gì xấu nết ngủ, mai mốt dám đạp chồng văng xuống đất mỗi đêm”! Có một mùa hè hai chị em được giao “công tác lớn”, vừa thú vị cũng vừa mang trách nhiệm nặng nề. Đó là đi nghỉ hè ở quận lỵ Lộc Ninh, đem theo đứa em nhỏ để cho em cai sữa. Mẹ không cho em dứt sữa vì chú nhóc khóc dai, lạì vật vã bỏ ăn, bỏ ngủ khiến mẹ đầu hàng dù đã thử mấy lần. Lộc Ninh cách tỉnh nhỏ của My dường như 20 mấy cây số. Là một quận lỵ nhỏ và buồn. Nhà người dì là chị bà con của mẹ, có vườn trái cây êm ả bao quanh. Ổi, mận, chôm chôm, sầu riêng chỉ hấp dẫn hai chị em My mấy ngày đầu. Những ngày kế tiếp chợt dài lê thê, ảm đạm vì đứa em trai nhớ bầu vú mẹ khóc dai dẵng từng cơn khiến hai chị em khốn đốn ngày đêm. Bên cạnh đó người dì bà con lúc nào cũng ân cần, ngoài chuyện cho chị em My thưởng thức trái cây vườn nhà đến lúc chán chê, dì và người chị con dì trạc tuổi chị. My hầu như ngày nào cũng làm bánh, nấu chè hay những món ăn khoái khẩu để đãi hai người khách đến nghỉ hè vô cùng đăc biệt! Sau gần 10 ngày nương náu ở nhà dì, đứa em trai bắt đầu nhường tiết mục thường trực của em là khóc đủ kiểu, đủ giọng lại bớt cho lũ ve sầu mùa hạ. Giọng hát ru em của My và chị thay nhau trên chiếc võng đong đưa, được đệm theo bản hòa tấu của giàn nhạc công hùng hậu, là những chú ve trong khu vườn mùa hạ êm đềm. Vừa vui chơi, vừa thi hành bổn phận mẹ giao, đó là mùa hè My vẫn nhớ hoài dù ngày ấy My đâu đã lớn bằng ai! Hai chị em an tâm bồng em nhỏ trở về, những tưởng “đại công cáo thành” nhưng hoàn toàn không phải vậy! Vừa thấy dáng mẹ từ xa em trai nhào đến, vừa khóc nỉ non vừa tự động vạch áo tìm bầu sữa mẹ như bị đói khát đã lâu. Mặc thuốc đỏ, mặc dầu nóng, dầu khuynh diệp, dầu cù là và cả ớt xát lên, chú nhóc khóc nhè còn hơn con gái vẫn lao vào vòng tay mẹ không kể chi chướng ngại. Chuyện này mấy mươi năm sau được kể, không thiếu chi tiết nhỏ nào cho vợ chú nghe. Em trai My chống chế yếu xìu. Ai bảo ở VN không có Disney World. Con trai em chỉ dắt đi tới đó 3 ngày là dứt sữa tức thì!

My quẩn quanh theo chị, dường như chỉ biết có chị thôi dù vẫn phụ mẹ chăm lo cho lũ em thơ. Điều này dường như cho thấy, ngay từ khi còn bé, My đã có khuynh hướng ưa gần gủi người lớn tuổi hơn nhiều. Chắc vì vậy mà My già trước tuổi, nhiều người cứ hỏi người anh trai kế với My, ai lớn hơn ai? My nghe hoài đã quen, lại thêm không có bệnh “sợ già”, cho nên trả lời My lớn hơn anh! Bao năm đeo riết bên chị hơn là chơi chung với lũ em thơ, để rồi My chới với, cảm nghe nổi mất mát chừng như làm tê dại cỏi lòng. Có nhiều đêm My khóc vì nhớ chị, mà chị như chim xoãi cánh bay trong trời rộng, chắc gì chị nhớ và hiểu được nổi buồn của My, của mẹ lúc chia xa. Chị đi rồi, gia tài để lại là cuốn vỡ chép lại những bài thơ của nhiều thi sĩ thành danh. Nét chữ của chị đều , nhỏ nhắn ,không một nét nào lệch lạc từ đầu đến cuối, đẹp và tươm tất như từ máy in ra. My nghĩ là biểu lộ cho cá tính ngăn nắp, kỹ lưỡng và khéo tay chị vốn có từ lâu. Nghĩ cũng lạ, dù vui, dù buồn dù thảnh thơi hay vội vã, nếu đem hết những lá thư chị viết trong thời gian mấy mươi năm, sẽ không tìm được một nét chữ nào hơi khác. Chị cũng mê văn chương và viết truyện ngắn đôi khi. Có truyện đang báo ở trường, có truyện còn giữ lại. My chịu thua khi khám phá ra rằng, My không có khả năng để tưởng tượng để tạo ra câu chuyện hư cấu như trong tiểu thuyết. Câu chuyện làm My cảm động, chị viết về những đứa trẻ mồ côi trong Viện dục anh. Mê thơ, ưa ca hát, viết văn…là chị của thời thiếu nữ mộng mơ thuở đó Nổi buồn của My, của mẹ nguôi dần, để rồi như không còn chỗ để hiện diện chẳng bao lâu sau lúc chị ra đi. Chiến tranh như cơn sóng thần cuồng nộ kéo về, tiêu hủy không để lại dấu vết sản nghiệp ba mẹ khổ công gầy dựng suốt bao năm. Lúc này tất cả gia đình mơi nhận ra rằng, còn sống sót bình yên là may mắn, so với biết bao máu xương đỗ xuống trở thành phân bón cho mảnh đất tan hoang thành bình địa trong bom đạn ngút trời. Sự chọn lựa của chị ngày đó, là nhịp cầu nối sau này cho ba mẹ và đám chị em My có mặt ở đây.

(còn tiếp)
quỳnh my