Monday, May 23, 2005

Bước vào cửa đạo

Ngày thứ bảy trong tuần luôn là ngày bận rộn riêng My. Buổi sáng My thức dậy khi đồng hồ gọi. Buổi chiều My dành thời giờ vui với cỏ hoa trước nhà và sau vườn. Dường như duy nhất chiều thứ bảy, My mới thật sự hòa mình vào cùng thiên nhiên. Những ngày khác vội vã. Nhiều khi không ơ hờ, nhưng có vẻ như không được thêm vài phút để ngắm chùm hoa vừa hé trên cành. Đêm thứ bảy của My không dài nhưng My cặm cụi lau dọn cho xong để có một ngày chủ nhật rảnh rang. Đêm bao giờ cũng lặng lẽ và sâu. My đưa mình vào giấc ngủ đôi khi bằng giọng hát quen thuộc, đôi khi bằng lời thơ thanh thoát nhẹ ngâm trong khoảnh không gian riêng My.

"Anh ôm giấc mộng đi hoang
Biết đâu mà kiếm trăng ngàn cho em"


Hai câu thơ của thầy Tuệ Sĩ, mở đầu cho CD thơ "Giấc Mơ Trường Sơn" mà thầy Nguyên Tạng bên Tu viện Quảng Đức gởi tặng cho My. My mỉm cười khi nghe lời dẫn đọc. “Em trong thơ không phải là em gái. Và tình trong thơ không phải tình yêu. Là em trai đó các cô ơi!” Thầy Tuệ Sĩ trả lời như thế, khi nhiều người thắc mắc, là cô em nào trong thơ vậy hở thầy? Tâm hồn nhà sư đầy ắp thơ ca. Có bờ tóc rối, có áo bay, có cả những băn khoăn thao thức lẫn trong những tháng năm tù đày giữa rừng sâu.

Sáng chủ nhật My thức dậy theo tiếng chim rộn rã. Rằm tháng tư âm lịch năm nay đúng vào ngày chủ nhật. My ưa những sáng chủ nhật lái xe qua từng đường vắng như trong buổi sáng ngày đầu năm ở quê nhà. My hẹn cùng em gái vào chùa lễ Phật rồi thăm Ba ở tổ linh đường. Lễ mừng Phật Đản tổ chức vào buổi chiều. Buổi trưa dành cho các em thiếu nhi và gia đình Phật tử. Mấy đứa con và cháu của My, sau khoá học Việt ngữ mấy tháng trong chùa như để cho vui lòng mẹ, đã không còn theo chị em My tới chùa nữa. Những đứa trẻ như lạc lõng mỗi khi góp mặt vào sinh hoạt người mình. Hai chị em My hiểu, các con sẽ dễ dàng hội nhập hơn nhiều nếu như chúng có cơ hội tham gia sinh hoạt ở chùa khi còn bé. Chọn ngày nghỉ cuối tuần duy nhất dành để quẩn quanh bên cạnh mẹ, cho nên chị em My không thể nào thêm chọn lựa thứ hai.

Bi, Trí, Dũng trong nhà Phật, là hành trang vững vàng đẹp đẽ nhất để vào đời. My thường nghe ấm áp và an lòng, khi chia với những người bạn có con đến với cửa chùa ngay khi còn thơ dại, dành hai ngày nghỉ cuối tuần sinh hoạt bên những bạn bè đồng trang lứa. Học nói và viết ngôn ngữ mẹ. Học hiểu và thương với tâm từ, nơi những người huynh trưởng của GĐPT, hết lòng với thế hệ măng non suốt bao năm tháng, cho dù vẫn vai nợ áo cơm và trách nhiệm với người thân.

My ưa đến chùa thật sớm. Bước những bước nhẹ nhàng trong không khí tĩnh lặng êm đềm. Cảm nghe thoáng hương hoa nhìn từ tia nắng sớm diụ dàng trên lá cây. Chùa trong những ngày lễ lớn không còn là của riêng My. Hai chị em vào lễ Phật rồi ra lạy thăm Ba. Cả hai không trở lại ngồi khép mắt lặng lẽ nơi chánh điện, đợi tới giờ hành lễ giống mọi khi. My và em gái thường không đốt nhang mỗi lúc vào chùa, chỉ vì nhìn thấy nhiều người đốt rồi chốc lại có người lo dập tắt. Hai chị em cũng không hề nói chuyện khi đang ở trong chùa. Có lẽ nhờ thói quen bỗng có sau một thời gian đi vào thiền viện. Bước xuống xe là rũ bỏ hết trói buộc, nghĩ suy, lo lắng, buồn vui.

Sân chùa thênh thang như thu hẹp lại, với khán đài trang trọng và nhiều hàng ghế xếp dài phía dưới. Những căn lều vải được dựng lên vội vã . Là nơi bán nước giải khát và những món ăn chay cho Phật Tử và khách thập phương. Ngân quỹ giúp chùa có thể duy trì sinh hoạt suốt bao năm là nhờ phần đóng góp của bao người trong ban trai soạn. Thỉnh thoảng My vào trai đường, nhìn những giọt mồ hôi lấm tấm rịn ra bên những cái chão khổng lồ trong nhà bếp, và biết bao bàn tay thoăn thoắt cắt, gọt, nhồi bột, làm bánh, cuốn chả, nhặt rau…My hiểu tấm lòng của rất nhiều người mà My biết, đã có mặt và góp tay từ khi còn rất trẻ cho đến ngày tóc bạc lưa thưa. Chùa bây giờ là nơi thu hút khách thập phương. Không riêng gì PT mà ngay cả đến những người bạn không theo đạo Phật của My, cũng hỏi thăm giờ giấc để vào chùa mua thức ăn chay, đổi bữa cuối tuần. Bên cạnh đó, ngày chủ nhật sau khóa lễ ở chùa hay trong những ngày lễ hội, ngoài gian hàng bán thức ăn tại chỗ hoặc đem về, chùa vẫn luôn luôn dành sẵn bữa cơm chay để khoản đãi hàng ngàn người tham dự. Chị em My và Mẹ chỉ ăn cơm chùa thỉnh thoảng, lúc đầu xuân hay dạo cuối mùa thu. Mùa đông Mẹ ngồi bên ngoài sẽ lạnh nhiều. Mùa hè ở xứ mặt trời bên kia mùa hạ của My sẽ rát mặt cháy da khi ngồi ăn nơi những chiếc ghế đá sau vườn chùa, vào những buổi trưa mặt trời đang đứng bóng. Phật tử đông, trai đường lại nhỏ, cho nên không chứa nổi nhiều người. Mọi người tự tìm chỗ ngồi rải rác trên những chiếc băng dài. Với My chùa là nơi dễ gặp người quen hơn bất cứ đâu. Lại cũng dễ “xích lại gần nhau thêm chút nữa”, vì không hẹn mà có lúc cả hai gia đình đều cùng quấn trên đầu vành khăn tang vì đã mất đi một người thân cùng thời điểm với nhau. Người ở lại gặp nhau tụng chung hồi kinh siêu độ. Người ra đi cũng gặp nhau nơi khung ảnh lớn thờ chung những hương linh.


Mẹ My sau lần bị ngã, phải mổ xương đầu gối năm rồi, đã bắt đầu vắng mặt ở chùa trong những ngày lễ hội. Khi đi vào chùa với chị em My, Mẹ ngồi riêng một mình trên hàng ghế dài dành cho những cụ già mà trước đây Mẹ không bao giờ nghĩ tới sẽ ngồi ở chỗ này. Chỗ ngồi mà Mẹ muốn, luôn luôn là chỗ ngồi dưới thấp, hai chân xếp bằng, bên cạnh chị em My. Bây giờ dù là ngồi trên ghế, Mẹ cũng không thể nào ngồi được lâu .Không thể quỳ lạy Phật như đã từng quỳ suốt cả đời, Mẹ buồn đến nỗi My phải kêu gọi người hiền huynh xa khuyên giải. Không có Mẹ chị em My không dự lễ. Thầy đang tất bật trước sân chùa vẫy hai đứa lại gần. Thầy cần hai chị em con tiếp một tay nâng cây cọc cắm lều lên. Em gái nhìn My ái ngại, vì biết My không thể làm việc gì hơi nặng từ lâu. My cười, trấn an đứa em mà từ thuở nhỏ đã luôn đỡ đần cho My. Cộc lều vải nhẹ hơn My nghĩ. Khi đã dời xong hai chị em tới chắp tay lại chào thầy. Câu đầu tiên bao giờ thầy cũng hỏi Mẹ các con có khỏe không? Chiều nay nhớ đưa Mẹ tới chùa dự lễ. My và em gái chỉ cười thay cho câu trả lời. Bởi nói đi là không đúng, còn nói không thì thầy lại hỏi thêm dạo này vì sao thầy ít thấy các con.

Mẹ lúc trước cũng băn khoăn. Mẹ nói càng ngày My và em như càng xa cách cửa chùa. My trêu hỏi Mẹ rằng, xưa giờ con có tu ở chùa đâu mà Mẹ băn khoăn? Thật ra thời gian đến chùa đâu có bao nhiêu, so với khoảng thời gian thật dài bên ngoài. Con luôn luôn dùng đời sống chung quanh để luyện công, Mẹ hãy an tâm. Hiểu My trên đời không ai bằng Mẹ. My biết Mẹ nói vì lo cho đứa em gái kế của My. Em chân thật thiện lành nhưng khó tính. Không dễ dàng chấp nhận những bất toàn trong cuộc sống, cho nên thường bứt rứt, bất an đôi khi ảnh hưởng đến người thân. Có dạo My dắt em vào thiền viện. Người sư cô trẻ trụ trì ngay phút gặp mặt đầu tiên đã thu phục được em.
My nhớ dường như là sáng mùa xuân. Hai chị em vì không biết giờ sinh hoạt nên đến trễ. My nhìn thấy nụ cười ấp áp, trên khuôn mặt trong sáng hiền từ và dáng khoan thai mảnh khảnh ưa nhìn của Sư cô. Sư cô đang đứng giảng bài pháp thoại ngoài hiên chùa. Tà áo nâu bay trong gió chớm xuân. Giò lan tím treo trên cao với những cánh mong manh đong đưa gần khuôn mặt của sư cô. Chẳng hiểu sao lúc đó My tưởng tượng, giống như My đang nhìn thấy mái tóc dài bay bay theo tà áo màu nâu… My tự biết tâm mình đang chạy rong. Quay nhìn lại dù không có mái tóc mượt mà tưởng tượng, thì hình ảnh người sư cô trẻ trước mắt My vẫn đẹp làm sao. Sau lần sinh hoạt có vẻ hoàn toàn mới lạ, em gái My thích thú như đã tìm được cổng để bước vào cửa đạo-điều mà em luôn thắc mắc từ khi nhận ra My có phần nào sự chuyển đổi trong cách sống. My không cần rủ, gợi ý, mà em chính là người rủ My đều đặn theo em tới thiền viện, từ sáng sớm cho đến buổi trưa vào những ngày chủ nhật hằng tuần. Em gái My trở nên đằm thắm dịu dàng. Không trách người, không than van ,và thu mình với đám đông, với cảnh khổ chung quanh. Mẹ mừng ghê lắm khi nghe My nhắc, ngày đó Ba không tin là con sẽ cảm hoá được đứa em này cùng đi vào cửa đạo mai này. Mẹ ở hơi xa. Đôi khi không muốn chị em My vướng bận trong một ngày nghỉ cuối tuần. Mẹ kêu em gái nhỏ chở Mẹ về với đám “Nga Mi”, rồi dù đôi chân yếu, Mẹ vẫn theo vô thiền viện. Ở đây Mẹ ngồi trên chiếc ghế, dưới tàng cây bóng mát, nhìn nhóm thiền sinh trong đó có các con, bắt đầu buổi sinh hoạt bằng bài thể dục dưỡng sinh trong ánh nắng ban mai. Những động tác chậm, đều, lồng trong hơi thở của thiền, nhóm thiền sinh có lúc nằm trên bờ cỏ được phủ lên bằng tấm bạt đủ chỗ nằm của từng người. My nằm vắt một chân lên đầu gối, nghe tiếng gió rì rào thổi qua khuôn mặt. My ngắm nhìn những chiếc lá đầu xuân xanh ngát. Hình ảnh đẹp nhất vẫn là hình ảnh Mẹ. Mẹ My ngồi niệm Phật một mình dưới bóng cây cao, có những tóc bạc theo gió nhẹ bay, lấp lánh trong nắng sớm. Mẹ đã quên đôi chân yếu. Quên nỗi buồn ở lại một mình sau khi Ba My đã ra đi. Quên nổi lo nặng bờ vai, nhói đau lòng Mẹ khi nghĩ đến cuộc đời của những đứa con gái tội tình, sao mãi hoài không có được cái gọi là hạnh phúc gia đình.

Bây giờ, chị em My thong dong lúc vào ra cửa Phật. Không vướng mắc băn khoăn về những lời kinh. Lời kinh tụng hoài mà không hiểu dù tụng suốt bao năm. Thỉnh thoảng em My vẫn còn có những cơn sân ngủ ngầm đâu đó chợt bùng lên. Em luôn tìm My để nói cho nghe. Có khi My lẳng lặng đưa cho em một bài viết, hay một CD bảo đem về để đọc hoặc nghe. Sau đó em tìm My nói em nhận ra chỗ nào là bệnh của em rồi. Em đã khóc khi thấy mình sao tàn nhẫn quá, dù chỉ là trong ý nghĩ. My đã một mình tìm bệnh và chữa bệnh cho My, để còn sống sót trải qua những mùa trăng buồn của đời My. Cho nên cửa chùa với My không là nơi để tìm vui hoặc tìm quên. Bởi cửa đạo trong My đã mở, kể từ khi My biết nở những nụ cười có thật trong lòng.

Quỳnh My
Viết trong ngày rằm tháng tư

Wednesday, May 18, 2005

Làm sao gặp Phật?

Viết trong mùa Phật Đản

Hằng năm, cứ đến rằm tháng Tư âm lịch tất cả các chùa, thiền viện khắp nơi đều chọn ngày chủ nhật, trong tuần lễ trước hoặc sau ngày này để tổ chức lễ mừng ngày Đức Phật đản sanh, thường được gọi ngắn lại thành Phật Đản.

Xin mời tất cả các bạn cùng đọc bài viết của thầy Thích Chân Tuệ trong mùa Phật Đản năm nay. Đây là một trong nhiều bài viết trích từ quyển Cư Trần Lạc Đạo mà Thầy Chân Tuệ viết trong thời gian còn là cư sĩ.

Thầy Thích Chân Tuệ nguyên là giáo sư Đại Học Kiến Trúc Saigon. Thầy vượt biển, định cư tại Canada năm 1981. Tốt nghiệp ngành kiến trúc và làm việc tại thành phố Toronto, Canada. Mùa Phật Đản năm 2002 Thầy đã làm lễ thế phát xuất gia với Hoà Thượng Thích Tâm Châu.

Mong rằng sau khi đọc, bạn cũng như My, tìm thấy nhiều an lạc, nhẹ nhàng khi khám phá ra mình đôi khi đã gặp Phật, nhưng mà không hề biết!

QM


*************************************************************

Làm sao gặp Phật?

Qua hình tướng tìm Phật
Qua âm thanh tìm Phật
Làm vậy là sai đường
Làm sao gặp được Phật?

Trong mùa Phật Ðản năm nay, nhân dịp làm lễ kỷ niệm Ðức Phật Thích Ca sinh ra trên thế gian này, để cứu độ chúng sanh, hãy thử suy nghĩ: chúng ta đã từng gặp Phật chưa? Nếu chưa, chúng ta làm sao gặp Phật? Có phải đợi sau khi chết rồi, vãng sanh tây phương cực lạc, mới gặp được Phật chăng? Có phải chỉ có Phật Tử mới gặp được Phật chăng?

Hoặc có phải chăng: tất cả chúng ta có thể gặp Phật, ngay trên thế gian này, ngay trong cõi đời này, bất luận người đó là Phật Tử, hay không là Phật Tử, bất luận người đó tại gia hay xuất gia? Dường như ai ai cũng có các thắc mắc này, vậy chúng ta hãy lần lượt cùng nhau tìm cách trả lời dựa theo giáo lý của đạo Phật.

Hầu như mọi người Phật Tử đều biết lịch sử Ðức Phật Thích Ca: Ngài đản sinh ở vườn Lâm Tỳ Ni, được gọi là Thái Tử Tất Ðạt Ða, con của Vua Tịnh Phạn và Hoàng Hậu Ma Gia, trị vì vương quốc Ca Tỳ La Vệ, thuộc nước Ấn Ðộ bây giờ. Ngài lớn lên, cưới vợ, sinh con, cũng như bao nhiêu con người khác trên thế gian. Rồi nhân những chuyến ra khỏi hoàng cung, nhận thấy các cảnh: sanh, lão, bệnh, tử, của kiếp con người, cho nên Ngài quyết tâm xuất gia tu hành, tìm đường giải thoát và thành đạo dưới cội bồ đề. Sau đó, Ngài chuyển pháp luân, thuyết pháp cứu độ chúng sanh trong 50 năm, cuối cùng nhập niết bàn ở vườn Ta La. Như vậy, Ðức Phật Thích Ca đã nhập niết bàn, chúng ta đi tìm Phật ở đâu, làm sao chúng ta gặp được Phật?

Thực ra, chúng ta chẳng cần đi tìm Phật ở đâu xa, chẳng cần phải qua Ấn Ðộ, hay vào chùa mới gặp Phật. Phật luôn luôn ở trong cuộc đời, ngay trên thế gian này, hiện hữu khắp nơi, nhưng chúng ta không thấy, vì chúng ta chỉ nhìn đời bằng đôi mắt thịt, mà quên xử dụng con mắt trí tuệ, để quan sát những gì tiềm ẩn bên trong, hoặc ý nghĩa của những việc làm. Nơi các tôn tượng chư Phật, con mắt trí tuệ được tượng trưng bởi viên ngọc quí ở giữa chặn mày, luôn luôn chiếu sáng, mang ý nghĩa: tuệ đăng thường chiếu, tức là ngọn đèn trí tuệ thường chiếu sáng, còn đôi mắt thịt, luôn luôn khép lại, không duyên theo cảnh trần. Tuệ đăng thường chiếu nghĩa là con người sống luôn luôn tỉnh thức, không bị mê mờ, không bị dục lạc thế gian lôi cuốn, sống trong thế gian, nhưng không phiền lụy, cũng chẳng khổ đau. Chúng ta có thể tìm thấy Phật qua sự sống trong tất cả mọi loài chúng sanh. Sự sống đó bàng bạc trong khắp không gian và thời gian, không hạn hẹp trong trăm năm của một kiếp con người.

* * *

Trong cuộc sống hằng ngày, khi tiếp xúc giao thiệp với mọi người chung quanh, chúng ta thường nhìn người đời bằng cặp mắt thịt, trong kinh sách gọi là nhục nhãn, cho nên chỉ nhìn thấy được hình tướng bên ngoài của con người, phân biệt nam nữ, cao thấp, đẹp xấu, già trẻ, lớn bé, giàu nghèo, mập ốm. Chính vì con người có cái nhìn phân biệt như vậy, cho nên cảm thấy phiền não và khổ đau nhiều hơn là an lạc và hạnh phúc. Tại sao vậy?

Bởi vì, khi có cái nhìn phân biệt như vậy, con người chỉ thấy chung quanh toàn là chúng sanh, cho nên khởi tâm thương ghét, làm cho cuộc sống đảo điên, tâm trí bất an. Chẳng hạn như khi gặp người nào đẹp đẽ, hạp nhãn, hay gặp vật gì quí giá, hiếm hoi, thì sanh lòng tham lam, ưa thích ngắm nhìn, muốn chiếm hữu làm của riêng. Toại nguyện thì hả hê, thích thú, bằng không được như ý, thì sanh tâm oán thù, ghét bỏ, bực dọc, tức tối. Chẳng hạn như gặp người nghèo hèn, ít học, thì sanh tâm khinh khi, kỳ thị, rẻ rúng, còn gặp người giàu sang, học thức, thì thèm muốn, ước mơ, nịnh bợ. Chẳng hạn như gặp người mập ú thì cười, gặp người gầy ốm thì chê. Con người thường có ước mơ muốn được bình yên, nhưng tâm trí cứ chạy theo cảnh trần đời như vậy, lăng xăng lộn xộn cả ngày, suốt tháng, quanh năm, làm sao cuộc sống bình yên, an vui cho được?

Trong Kinh Kim Cang, Ðức Phật có dạy: "Ly nhứt thiết thướng, thị danh thực tướng".

Nghĩa là: Khi nào lìa bỏ được tất cả các hình tướng bên ngoài, không chấp vào nhân dáng thế này thế khác, chúng ta mới có thể nhận ra thực tướng của tất cả mọi người. Thực tướng đó là gì? Thực tướng đó chính là con người chân thật của tất cả mọi người trên thế gian này. Con người chân thật đó đồng nhất, không khác, không phân biệt nam nữ, già trẻ, lớn bé, màu da, sắc tộc, quốc gia, ngôn ngữ, tôn giáo, văn hóa, giai cấp, xuất xứ, kiến thức, học lực, bằng cấp.

Mọi người đều có thực tướng đồng như nhau, chỉ vì mê ngộ không đồng, nghiệp chướng khác nhau, cho nên hình tướng bên ngoài có khác.

Chẳng hạn như: Người tham gian thì cặp mắt láo liên, đảo điên, đảo qua, đảo lại. Người sân hận thì cặp mắt trợn trừng, tóe lửa, dữ dằn. Người si mê thì cặp mắt lờ đờ, khờ khạo.

* Tu theo đạo Phật, không phải chỉ có, cúng kiến lễ lạy, van xin cầu nguyện, cầu an cầu siêu, cầu được bình an, cầu sang cực lạc, cầu đủ thứ chuyện, cầu cho sung sướng, biểu diễn hình tướng, không còn gì khác! Không phải như vậy!

* Tu theo đạo Phật là phải thúc liễm thân tâm, chuyên cần chăn trâu, con trâu tâm ý, đừng để chạy rong, ngông cuồng phá phách, giẫm đạp ruộng người, húc đàng đông xông đàng tây, từng giây từng phút.

* Tu theo đạo Phật là phải tìm ra con người chân thật, hay giác ngộ thực tướng của chính mình. Thực tướng đó bất sanh bất diệt. Ngộ được thực tướng thì thoát ly sanh tử luân hồi, theo đúng lời dạy của tam thế thập phương chư Phật. Còn con người bằng xương bằng thịt, trong kinh sách gọi là tấm thân tứ đại, chỉ tồn tại hơn kém trăm năm là nhiều!

Trong khi bình thường, hai người tánh tình giống nhau, hòa đồng, nhã nhặn, vui vẻ, lịch sự, không khác. Khi có biến cố xảy đến, người biết tu tâm dưỡng tánh, giữ gìn được sự bình tĩnh thản nhiên, không khởi tâm tham lam, không khởi tâm sân hận, không khởi tâm si mê. Nếu người nào hoàn toàn giữ gìn được bản tâm thanh tịnh, trong mọi hoàn cảnh trên thế gian, trước những bát phong của cuộc đời, dù được hay mất, dù khen hay chê, dù vinh hay nhục, dù sướng hay khổ, tâm tánh vẫn luôn luôn bình tĩnh thản nhiên, luôn luôn mỉm nụ cười an nhiên tự tại, người đó chính là một vị Phật.

Một vị Phật không phải từ trên trời giáng xuống, không phải từ lòng đất chui lên. Một vị Phật tùng địa dũng xuất, như trong Kinh Pháp Hoa dạy, nghĩa là từ nơi tâm địa của mỗi con người chuyển hóa mà thành, chuyển hóa từ xấu xa thành tốt đẹp, chuyển hóa từ tâm tham sân si ô nhiểm, trở về bản tâm vốn thanh tịnh. Một vị Phật thành đạo từ nơi con người biết tu tâm dưỡng tánh, đi đúng Chánh Ðạo, hành đúng Chánh Pháp. Người nào chưa đạt được hoàn toàn như vậy, chính là những người đang trên bước đường tu tập, công phu được bao nhiêu, người đó được an lạc và hạnh phúc bấy nhiêu. Chứ không phải van xin cầu nguyện mà đặng đâu!

Theo truyền thuyết, khi Thái Tử Tất Ðạt Ða đản sanh, có hai vị long vương đến phun nước tắm cho ngài. Một vị phun dòng nước nóng. Một vị phun dòng nước lạnh. Ðiều này có ý nghĩa thâm sâu như sau: cũng như Thái Tử Tất Ðạt Ða, người nào trên thế gian này, chịu đựng nổi sức mạnh của hai dòng nước, kham nhẫn nổi sức nóng lạnh, tượng trưng cho những áp lực thường xuyên và sự đối nghịch của cuộc đời, chẳng hạn như: thịnh suy, hủy dự, xưng cơ, khổ lạc, nói chung là bát phong, thì người đó chính là một vị Phật trong tương lai.

Còn đại đa số người đời, khi có biến cố xảy ra, tâm tham lam liền khởi lên, không thể dừng được, luôn luôn nghĩ đến những việc tranh giành quyền lực, lợi mình hại người, xúi người hại nhau, bất chấp thủ đoạn, thưa gửi kiện tụng, sang đoạt tài sản, chiếm hữu bản quyền, giựt hụi quịt nợ. Nếu mục tiêu là bạc triệu đô la, con người càng đối xử với nhau ghê rợn hơn, khủng khiếp hơn, chẳng còn kể quan hệ cha con, chồng vợ, bè bạn, thầy trò, anh em, thân bằng quyến thuộc gì hết, mạng sống của con người, của chính bản thân bị coi rẻ như bèo! Ðồng bào, đồng bạn, đồng chí, đồng đội, đồng đạo, đồng hương, đồng nghiệp, đồng ngũ, chẳng có giá trị gì cả, chẳng có nghĩa lý gì cả. Chỉ có đồng tiền là trên hết, là vạn năng, có đủ năng lực xô đẩy, sai khiến con người vào vòng tội lỗi hết sức dễ dàng. Cửa thiên đàng khép lại, cửa địa ngục mở rộng kể từ đây!

Khi có biến cố xảy ra, dù chỉ một lời nói vô thưởng vô phạt, vô ý vô tứ, hay một cử chỉ nhỏ nhặt, nhưng va chạm tự ái, tổn thương mặt mũi của con người, tâm sân hận liền khởi lên, không thể dừng được, con người liền nghĩ đến chuyện trả thù, báo oán, làm đủ mọi cách, khiến cho kẻ thù, người mình không ưa, sống không được yên, chết cũng không xong, ngả nghiêng điêu đứng, tạo dựng chuyện ác, khiến người tội oan, tiêu tan danh dự, te tua tơi tả, thì mới hả dạ, mới thỏa tấc lòng, tâm địa chúng sanh, phàm phu tục tử, sâu hiểm ác độc, của một con người. Khi tam bành lục tặc nổi cơn lên, dù có phải đại náo thiên cung, lật tung nhà người, con người cũng dám làm, không cần biết hậu quả ra sao! Bởi vậy cho nên, có nhiều người đánh mất hạnh phúc trong tầm tay, hay đánh mất người cộng tác tài năng đáng tin cậy, chỉ vì những cơn sân không kềm chế được như vậy.

Khi có biến cố xảy ra, người ta không còn hợp tác, không còn qua lại với mình, mình liền ngậm máu phun sau lưng người, không kể người cười miệng mình dơ, đâm bị thóc thọc bị gạo, bêu riếu đàm tiếu đủ điều, vạch lá tìm sâu, bới bèo ra bọ, chứng nào tật nấy, không bao giờ chừa! Cũng do tâm si mê xui khiến, con người tin chuyện nhảm nhí, mê tín dị đoan, van xin thượng đế, cầu nguyện thần linh, tìm sông lội suối, nước kém vệ sinh, cho là nước thánh, trị được bá bệnh, cầu gì được nấy, cũng mang về uống, dù cho người đó, có nhiều bằng cấp, dù thấp hay cao, ở ngoài thế gian, hay trong nhà đạo!

Trong Kinh Hoa Nghiêm, Ðức Phật có dạy: "Nhứt thiết chúng sanh giai hữu Phật Tánh". Nghĩa là: "Tất cả mọi chúng sanh đều có tánh giác".

Tất cả mọi người đều có tánh giác, sáng suốt đồng nhau, không khác, trong kinh sách gọi là Chân Tâm hay Phật Tánh, nhưng chỉ vì nghiệp lực khác nhau, tâm tham sân si khác nhau, cho nên bị phiền não khổ đau cũng khác nhau, hình tướng bên ngoài cũng khác nhau.

Chẳng hạn như mặt trăng lúc nào cũng sáng tỏ, không khác, nhưng đêm nào có nhiều mây đen, chúng ta trông thấy mặt trăng mờ nhạt nhiều hơn. Chẳng hạn như mặt biển lúc sóng yên gió lặng, thanh bình, rộng rãi, bao la, trông xa, thấy rộng, mênh mông, bát ngát, nhưng lúc cuồng phong nổi lên, sóng to gió lớn, bầu trời đen kịt, không còn trông thấy được gì cả. Mặt trăng sáng tỏ, mặt biển thanh bình, tượng trưng cho bản tâm thanh tịnh của tất cả mọi người. Ðó cũng chính là con người chân thật hay Chân Tâm Phật Tánh của tất cả mọi người. Mây đen hay sóng to gió lớn, tượng trưng cho những phiền não khổ đau, che lấp từng phần, hay che khuất hoàn toàn, tâm trí con người không còn sáng suốt trọn vẹn nữa.

Như vậy, câu hỏi tìm Phật ở đâu, làm sao gặp Phật, thật là quá dễ, ai cũng có thể trả lời được. Trước hết, Phật có nghĩa là Ðức Phật Thích Ca, vị Phật có thực trong lịch sử, sinh ra ở Ấn Ðộ, tu hành và thành đạo, cách đây hơn 2500 năm, ngay trên thế gian này, ở ngay cõi ta bà này, không phải cõi nào khác, không phải tây phương cực lạc. Ðó là câu trả lời gần nhứt, đơn giản nhứt, rõ ràng nhứt.

Tuy nhiên, trong kinh sách có câu: "Phật biến nhứt thiết xứ", nghĩa là Phật có ở khắp mọi nơi, Phật ở chung quanh chúng ta, nhưng chúng ta không hiểu biết, không nhận ra đó thôi. Ðó là nghĩa lý cao siêu mầu nhiệm của chữ "Phật". Ðó là con đường thực tế, giúp đỡ cuộc đời được nhiều ánh sáng giác ngộ và giải thoát, cuộc sống được nhiều an lạc và hạnh phúc, con người được nhiều an nhiên và tự tại, giảm bớt phiền não và khổ đau.

Trong kinh sách cũng có câu: "Tâm, Phật, chúng sanh, tam vô sai biệt". Nghĩa là: "Tâm, Phật và chúng sanh, cả ba không khác, không sai biệt".

Phật và chúng sanh bổn nguyên tánh thường rỗng lặng, trong kinh sách gọi là không tịch. Tâm của người nào không chất chứa bất cứ hình ảnh của chúng sanh trong ba cõi, sáu đường, hoàn toàn trống rỗng, tĩnh lặng, tâm người đó chính là tâm Phật.

Chư Tổ cũng có dạy: "Phật tức Tâm, Tâm tức Phật", chính là nghĩa đó vậy.

Khi thấy người nào vào chùa, van xin cầu khẩn chư Phật ban cho điều này điều kia, chư Tổ thường dạy: Ngươi cõng Phật đi tìm Phật! Nghĩa là chư Phật đã bỏ những điều phiền não, chỉ dạy chúng ta pháp môn tu tập để giải thoát, để thành Phật, chúng ta không chịu tu học, để tự mình thoát ly phiền não khổ đau, trái lại chúng ta van xin cầu khẩn những điều phiền não, chẳng hạn như: tiền tài, danh vọng, ước gì được nấy, nhứt bổn triệu lợi, buôn may bán đắt, thi đâu đậu đó, bình yên vô sự, nhà cao cửa rộng, điều cuối cùng là: cầu vãng sanh cực lạc quốc! Cầu không được, khổ là cái chắc! Cầu bất đắc, tức khổ không sai!

Chúng ta có thể tìm thấy hình ảnh Phật, qua các vị chân tu thực học, giới đức tròn đầy, là điểm tựa, là chỗ quy ngưỡng, để chúng sanh tìm được sự an lạc khi gần gũi. Chúng ta có thể tìm thấy Phật ở khắp nơi trên thế gian này, chỗ nào có tình thương ngự trị, có từ bi hỷ xả hiện tiền, là có Phật ở ngay nơi đó. Bất cứ người nào, dù không là Phật Tử, dù là Phật Tử tại gia hay xuất gia, mà trong một khoảng thời gian nào đó, phát tâm bồ đề, khai mở Chân Tâm, thực hành hạnh lợi tha, vì người quên mình, thể hiện bốn tâm lượng rộng lớn: từ bi hỷ xả, thì ngay trong giây phút đó, người ấy đang sống với tâm Phật, như một vị Phật. Nhưng sau phút giây giác ngộ đó, người ấy trở lại cuộc sống tầm thường, thì tâm Phật lại tiềm ẩn, chờ cơ hội khác để phát huy. Phật là con người giác ngộ trọn vẹn và vĩnh viễn, lúc nào cũng tỉnh thức và sáng suốt. Chúng sanh khác Phật ở chỗ: chỉ lóe sáng trong giây phút, rồi lại chìm đắm trong bóng tối vô minh. Tại sao vậy? Bởi vì, con người không đủ sức vượt khỏi tam giới, không đủ sức ra khỏi căn nhà lửa, không đủ sức chống cự sức mạnh của con trâu tâm ý, nghĩa là con người bị "nghiệp thức che đậy" và thường hay "biết mà cố phạm"!

Ðể có cái nhìn thực tiển và có phương pháp thực hành, trong cuộc sống hằng ngày của người Phật Tử, tại gia hay xuất gia, Chư Tổ có dạy:

"Chúng sanh nhìn Chư Phật như chúng sanh, cho nên phiền não khổ đau.
Chư Phật nhìn chúng sanh như Chư Phật, cho nên Niết bàn tự tại"
.

Nếu hiểu biết một cách thấu đáo, một cách tường tận lời dạy này, chúng ta liền biết làm sao gặp Phật, hay tìm Phật ở đâu? Chúng ta thường hay nghĩ rằng: Phật ở Tây phương cực lạc, Phật ở trong chùa, Phật ở trong kinh sách, Phật ở trong các bức tượng bằng gổ, bằng đồng, bằng bạc, bằng vàng, hay bằng tranh vẽ. Còn chung quanh toàn là chúng sanh tất cả! Chính bởi cái nhìn, cái hiểu biết, cái suy nghĩ, cái quan niệm như vậy, cho nên con người gặp nhiều phiền não khổ đau, không sao tránh khỏi, không bao giờ dứt.

Con người không biết rằng: chính mình có Chân Tâm, Phật Tánh, và mọi người chung quanh cũng y như vậy, không khác. Con người đeo cặp mắt kính chúng sanh, tức nhìn đời qua tâm vọng động, cho nên nhìn ai cũng thấy chỉ là chúng sanh, nhìn ai cũng chỉ thấy tật xấu của họ, nhìn ai cũng thấy đáng ghét, nhìn ai cũng thấy đáng đề phòng, nhìn ai cũng thấy muốn xa lánh, nhưng không bao giờ, nhìn lại chính mình, xem tốt hay xấu, cho nên gặp nhiều, phiền não khổ đau, rồi chờ khi chết, lết về tây phương, nương về cực lạc, để tìm gặp Phật, làm sao gặp được?

Còn chư Phật và những người giác ngộ, biết tu tâm dưỡng tánh, đeo cặp mắt kính thanh tịnh, nhìn đời bằng bản tâm thanh tịnh, nhìn ai ai chung quanh cũng thấy được họ có Chân Tâm, Phật Tánh, nhìn ai ai chung quanh cũng hiểu biết họ là vị Phật sẽ thành trong tương lai, gần hay xa tùy theo công phu tu tập của mỗi người, nhìn ai ai chung quanh cũng hiểu biết họ có những điều hơn mình, đáng cho mình học hỏi, nhìn ai ai chung quanh cũng thấy được con người chân thật, không phải con người hiện tướng tham đáng ghét, không phải con người hiện tướng sân dữ dằn dễ sợ, không phải con người hiện tướng si khờ khạo ngu ngơ.

Cho nên chư Phật và những người giác ngộ, biết tu tâm dưỡng tánh, luôn luôn an nhiên tự tại, bình tĩnh thản nhiên, chứng được cảnh giới niết bàn hiện tiền. Chúng ta có giác ngộ, mới có cuộc sống an lạc và hạnh phúc như vậy, mới giải thoát khỏi phiền não và khổ đau.

Cuộc đời có ý nghĩa, cuộc đời đáng sống, kể từ đây!

* * *

Tóm lại, trong Kinh Kim Cang, Ðức Phật có dạy:

"Phàm sở hữu tướng, giai thị hư vọng.
Nhược kiến chư tướng phi tướng tức kiến Như Lai".

Nghĩa là: Phàm ở trên thế gian này, tất cả những gì có hình tướng đều hư vọng, có ngày cũng phải bị hư hao, hoại diệt, kể cả những bức tượng Phật, dù làm bằng vật liệu gì đi nữa cũng vậy, kể cả tấm thân tứ đại, sau trăm năm cũng phải bỏ lại. Nếu chúng ta nhìn mọi người, không qua hình tướng bên ngoài, không phân biệt kỳ thị, không thành kiến bất công, lúc đó chúng ta sẽ nhìn thấy được Như Lai, tức là thấy được Chân Tâm Phật Tánh, của mình và của mọi người, đồng nhất không khác! Ðó chính là con người chân thật, bất sanh bất diệt. Kiến Như Lai tức là ngộ đạo, tức là thoát ly sanh tử luân hồi.

Cũng trong Kinh Kim Cang, Ðức Phật có dạy:

Nhược dĩ sắc kiến ngã.
Dĩ âm thanh cầu ngã.
Thị nhơn hành tà đạo.
Bất năng kiến Như Lai
.

Nghĩa là: Nếu người nào nhìn qua sắc tướng, diện mạo, hoặc do âm thanh, mà cầu Phật, hoặc cho rằng có hình tướng như vậy, có âm thanh như vậy, mới phải là Phật, thì người đó đang đi sai đường, lạc lối, không thể nào gặp được Phật, không thể nào thấy Như Lai. Nói một cách khác, những người cứ tưởng: lạy tượng Phật nhiều, tức là hình tướng, tụng kinh Phật nhiều, tức là âm thanh, thì được gặp Phật, nằm mơ thấy Phật, những người như vậy, chẳng hiểu biết gì, đang hành tà đạo, làm sao hiểu được Như Lai? Tại sao vậy?

Bởi vì, Phật hay Như Lai chỉ về tâm tánh, vô hình vô tướng, không có hình tướng có thể thấy được bằng đôi mắt thịt của con người. Bởi vậy cho nên, muốn thấy được Như Lai, muốn gặp được Phật, con người phải phát huy trí tuệ bát nhã, phải nhận ra con người chân thật, nhận ra Chân Tâm Phật Tánh của chính mình và của mọi người chung quanh chúng ta.

Trong Kinh Thủ Lăng Nghiêm, và trong Kinh Ðại Bát Niết Bàn, Ðức Phật có dạy:

"Sanh diệt ký diệt, tịch diệt hiện tiền".
"Sanh diệt diệt dĩ, tịch diệt vi lạc".

Nghĩa là: Khi nào trong tâm con người, những niệm lăng xăng lộn xộn không còn khởi lên, chẳng hạn như niệm tham, niệm sân, niệm si, khởi lên rồi lắng xuống nên gọi là: sanh diệt, ngay lúc sanh diệt chấm dứt, không còn đó, tâm trí bình yên lặng lẽ, không xáo trộn, chẳng bất an, bình tĩnh thản nhiên, an nhiên tự tại, cho nên gọi là: tịch diệt hiện tiền, hay tịch diệt vi lạc, tức là cảnh giới an lạc, niết bàn tự tại, hiện ngay trước mặt.

Tâm trạng bất an vì những niệm sanh diệt, gọi là tâm chúng sanh. Tâm sanh diệt diệt rồi, không còn lăng xăng lộn xộn nữa, trở nên tâm không tịch, trống không và tịch tịnh, hoàn toàn thanh tịnh, gọi là: bản tâm thanh tịnh hay Tâm Phật.

Như vậy muốn tìm gặp được Phật, chúng ta chỉ cần hành trì các pháp môn, dù thiền tông, tịnh độ tông, hay mật tông, tức là: thiền quán, tọa thiền, thiền hành, tứ oai nghi thiền, tụng kinh, niệm Phật, trì chú, cho đến mức rốt ráo, đạt được trạng thái "nhứt tâm bất loạn". Lúc đó, chẳng những chúng ta gặp được Phật, mà chính chúng ta vừa trọn thành Phật Ðạo đó vậy.

Monday, May 16, 2005

Góc phố ngày xưa


Buổi chiều...

Nàng bước ra chỗ đậu xe mang tia nắng mong manh trên vai. Những sợi tóc bay trong làn gió dịu dàng. Cầu mong tai nạn đừng xẩy ra trên xa lộ. Nàng đang nghĩ đến những đứa con chưa lớn lắm nhưng cũng không còn bé lắm. Những đứa con chờ mẹ về lo bữa ăn chiều, dù mọi thứ đã sẵn sàng trong buổi sáng. Trong thâm tâm nàng cũng mong, như lời chúc trong chương trình của đài phát thanh: mọi người đều an lành đến nhà hưởng cuối ngày êm đềm bên mái ấm.

Bỗng dưng, chân nàng khựng lại khi nghe chuỗi cười giòn sau lưng. Những âm thanh gần gũi thân thương. Tiếng lao xao quen thuộc quá!. Đúng là ngôn ngữ thân yêu xứ mẹ. Nhưng sao lại ở đây?. Con phố nhỏ chỉ toàn người bản xứ mà nàng tiếp xúc mỗi ngày từ khi đến làm ở nơi này. Nàng bước chậm và như ngừng hẳn, ngoảnh nhìn nơi phát ra tiếng xôn xao. Nàng bắt gặp nhiều khuôn mặt trẻ, đang chụm vào nhau vui vẻ. Nàng ngẩn ngơ tự hỏi, bao lâu nay mình ở nơi đâu? Trước mắt nàng là quán cà phê một nửa lộ thiên có dãy bàn nhỏ xếp dài. Quán cà phê giống như những quán bên vỉa hè của nơi chốn mà nàng để lại. Nàng biết thật lâu đời mình thiếu vắng. Vụt mất khoảnh khắc êm đềm tạm quên ưu phiền. Một ly cafe hay ly kem mát lạnh, bên cạnh bạn thời niên thiếu hay bên tri kỷ bây giờ, cùng nhau ngắm chiều lên góc phố. Nàng không tiếc khoảnh đời đã qua. Chỉ biết cho đi mà không cần nhận lại được gì ngoài từng nỗi buồn phiền tiếp nối. Đứa em gái ra trường vẫn gắn liền trong khuôn viên đại học, vẫn nói cho nàng nghe về quán cafe nàng chợt qua chiều nay. Chủ quán là ngưòi đàn bà đến từ nước Đức, nhưng khách hàng hầu như toàn Việt Nam. Bên trong quán treo nhiều poster thật đẹp của ca sĩ Việt. Trong đó có poster chụp lại hình người nữ ca sĩ với tiếng hát ru đời mong manh, mang đôi mắt buồn bao la như đợt sóng Nha Trang. Cho dẫu quán đông hay vắng người bản xứ, chủ quán lúc nào cũng chen vào nhiều những bản nhạc Việt. Từ khi biết rõ hơn về cái quán cafe bên góc phố dễ thương này, nàng thấy buổi chiều nắng ngã bên thềm làm chiếc bóng dài theo bước đi không còn buồn nữa. Đâu đó tiếng cười hồn nhiên một thuở bỗng vang vang. Nàng cảm thấy như có lời của gió vỗ về, có ánh nắng ấm dịu dàng rớt trên bờ tóc cuối ngày. Tưởng như nàng đang chia niềm vui của một thời xa, thật xa...

Buổi sáng...

Nàng chào hai khách đầu tiên bằng một nụ cười ấm áp. Sau khi nghe nàng giới thiệu, người đàn bà trẻ cũng ân cần giới thiệu tên mình là Pam. Rồi trân trọng diụ dàng, chỉ sang người đàn bà lớn tuổi. Còn đây Jul, bạn học ngày xưa. Nàng ít khi để ý đến bề ngoài nhưng nàng luôn nhạy khi thoáng nhìn nét buồn, dẫu nét buồn che đậy. Hơn nữa, có điều thật ân cần, thật nâng niu từ người trẻ dành cho người lớn tuổi. Nhìn chiếc áo màu nắng vàng, chiếc khăn cột hờ trên mái tóc, dường như tương phản với ánh mắt đăm chiêu. Nàng buột miệng khen màu khăn và màu áo thật hợp. Pam không giấu nỗi vui sau câu khen của nàng. Jul, bạn thấy tôi nói đúng chưa?

Cho đến bây giờ nàng mới nhận biết điều đã khiến ngay phút chạm mặt lòng nàng băn khoăn. Phải rồi! Chiếc khăn lụa cột hờ trên đầu của Jul là để che lại mái tóc không còn. Nàng đang loay hoay tìm câu chia sẻ thì Pam nói tiếp .. Tôi ở đây. Jul ở Louisiana, Jul về Houston chữa bệnh ung thư máu nơi bệnh viện lớn ngoài phố. Jul giờ chỉ một mình với đứa con trai mới bảy tuổi. Bạn bè của Jul và tôi thay nhau chăm sóc. Chúng tôi luân phiên đưa Jul đến bệnh viện. Ngày ở bệnh viện rất dài. Trị liệu hơn 10 tiếng mỗi ngày là thường. Sau đó là đưa về nhà cho Jul hưởng không khí gia đình. Nhất là cùng chia với Jul những đêm dài.

Nàng xiết nhẹ bàn tay mềm xanh xao, khẽ hỏi Jul có biết bà may mắn khi chung quanh có những người bạn hết lòng thương yêu, chia sẻ những buồn vui. Bây giờ nàng mới thấy nụ cười khá rạng rỡ. Rạng rỡ trên bờ môi khô và trong ánh mắt long lanh sắp ướt của Jul. Tôi biết, tôi biết chứ .. Tôi biết tôi có người mẹ bị breast cancer còn sống và mỗi ngày lo lắng cho tôi. Mẹ chỉ bị cancer một bên mà đòi cắt bỏ hết hai bên, để không bận lòng về nó nữa, vì bệnh của tôi đã lấp đầy cuộc sống của bà. Tôi biết tôi có người em không lập gia đình, đem con trai tôi về nuôi thay tôi. Tôi biết tôi có những ngưòi bạn thân quý nhất đời, luôn hiện diện bên tôi chia những cơn đau. Tôi vui với những gì đang có ở quanh mình, vì vậy mà hai đứa rủ nhau làm hẹn đến đây, sau đó sẽ qua ngồi bên quán cafe ở bên kia. Nàng cười .. Thấy chưa! bà hạnh phúc hơn tôi .. Từ khi nhìn thấy quán cafe đó tôi chợt nhớ ra mình không có người bạn nào. Không còn người bạn nào thật lâu rồi .. Cho nên, thỉnh thoảng nhìn niềm vui của người ta rồi thầm chia với họ thôi.

Với thoáng ngạc nhiên Jul hỏi nếu được hai người sẽ mời Nàng đi uống cafe một chiều trong tuần lễ tới. Bây giờ thì nàng có thể đoán ra tuổi của Jul. Jul trẻ lắm, trẻ hơn mấy em của Nàng. Bệnh ung thư máu mới phát mà đã khiến hai kẻ đòng tuổi trông như một trẻ một già. Nhìn đôi mắt mệt mỏi, nàng hỏi mỗi đêm Jul ngủ có được không? Được. Giấc ngủ đến dễ dàng sau một ngày trị liệu thật dài. Nhưng còn phải vặn đồng hồ để thức dậy nhiều lần uống thuốc và chuyền hoá chất. Vừa nói Jul vừa móc trong người ra một cái ống nhựa nhỏ cắm sẵn. Cái ống này dùng cho người bệnh tự chuyền nước biển và hoá chất theo giờ ấn định. Pam góp lời, đó chính là nguyên nhân mà các bạn muốn cùng chia với Jul những đêm dài, một mình trong hẩm hiu. Càng nghe Nàng càng cảm động. Tình bạn.. Họ dành cho nhau, thật đẹp.


Cách đây không lâu, Nàng cũng từng khóc. Khóc qua lần nhận phone từ người bạn xa. Nhỏ ơi! Là nhỏ phải không? Nàng ngẩn ngơ trước giọng nói nửa quen nửa lạ .. Có lẽ tháng năm đã làm giọng nói ngày xưa nhuốm bụi thời gian? Nàng cười. Dạ! Chắc là nhỏ đây rồi, chứ không thể nào là lộn số! Nhỏ ơi, đừng dạ nữa. Giọng người từ nơi thật xa lập lại .. Cún con phải không? Đúng là Cún con rồi. Cho dẫu hơn 30 năm chưa gặp lại nhau! Cô bạn khen vậy là nàng vẫn chưa ...lẩm cẩm khi còn nhận ra giọng của người xưa. Nhỏ đang ở đâu? Làm gì vậy? Đang ở đây .. Ở chờ thử nghiệm thêm và chờ ngày ra tòa lãnh án. Chẳng biết án treo hay án chung thân nữa. Nhỏ ơi, dù bệnh có thế nào thì cũng ráng về đi. Ở bên này có người tình nguyện đợi nhỏ về nuôi bệnh mỗi ngày, lo lắng thuốc thang cho nhỏ cho tới khi lành bệnh. Bây giờ ở đây có bệnh viện trang bị không thiếu thứ gì để trị cho người ngoại quốc và Việt kiều về nước. Nàng bồi hồi nhưng vẫn trêu đùa hỏi lại rằng .. Bộ bạn bè định rủ nhau xây cho ta ngôi mộ cạnh Yên? Yên là một bạn gái thời niên thiếu, đã mất sớm vì vướng bệnh cancer. Mộ của Yên là ngôi mộ mà nàng xin với mẹ Yên cho phép nàng và mẹ bên này nhờ người bạn làm thầu xây cất lo cho Yên, lần sau cuối. Nhỏ ơi, bao nhiêu người lo lắng từng ngày, nguyện cầu cho nhỏ đừng vướng vào căn bệnh nan y, mà sao nhỏ cứ đùa vui. Mà lạ, vẫn tiếng cười đó bao năm rồi không đổi. Nàng còn biết nói gì đây nữa, trước ân tình quá đậm và quá sâu. Ân tình của những người gắn bó dẫu trong khoảnh đời ngắn ngủi, rồi xa nhau khi tuổi mới 15 cho đến hôm nay. Trong khoảnh khắc, không gian như lắng đọng.

Nàng nghe tiếng Pam hỏi dịu dàng. Jul, âm nhạc ở đây thật tuyệt phải không?. Tôi thấy mình dễ chịu, nhẹ nhàng. Jul gật đầu. Tôi nghe như gió lộng. Tiếng sấm và tiếng mưa lúc càng nặng hạt. Rồi gió lướt qua nhẹ hơn, mưa từ từ nhẹ hạt. Tất cả chìm vào sâu lắng... Hình như ngày mới bắt đầu. Có những âm thanh rộn ràng và tiếng chim kêu mừng nắng... Nàng cười, thú nhận. Lần đầu tiên nghe tiếng mưa rơi, nàng đã đi ra khỏi phòng để nhìn qua khung cửa sổ, xem có phải là trời đang mưa ở ngoài kia. Jul nói vậy là tụi mình cùng có chung cảm nhận giống nhau qua âm nhạc. Còn một điều làm tôi thích thú. Đó là bức tranh này. Đẹp làm sao hình ảnh đêm trăng ở đại dương. . Có những con sóng dâng cao cuồng nộ, bên vài đợt sóng nhẹ nhàng vỗ bờ. Ánh trăng nghiêng rọi xuống. Một nửa ánh sáng lấp lánh trên đầu ngọn sóng. Một nửa gềnh đá chìm trong vũng tối mênh mông... Nàng nhìn Jul bằng tia nhìn ấm áp. Hỏi Jul có thấy kiếp sống của mình như những đợt sóng hay không? Lúc cuồng nộ, lúc êm đềm. Cũng như vẫn một ánh trăng, nhưng một nửa lấp lánh trên đầu ngọn sóng và nửa kia chìm vào bóng tối. Rồi ngày sẽ đến, rồi đời sẽ còn nắng còn mưa. Tôi luôn nghĩ mình như hạt cát nhỏ nhoi giữa đại dương trong cuộc sống này đây. Như bóng tối và ánh sáng, như nắng và mưa sẽ đến rồi đi . Tôi mừng khi thấy Jul vẫn sống hết lòng với những gì đang đến với mình. Nghe bản nhạc hay, thưởng thức nét đẹp trong tranh như tự nãy giờ, và biết hạnh phúc khi quanh mình là những người bạn, hết lòng tiếp sức giúp Jul vượt qua những bước gian nan...

Nàng mở cửa tiễn hai người khách khó quên. Jul dừng lại đưa đôi tay ôm nàng trước lúc giả từ. Mong rằng còn dip gặp lại lần sau. Cô đã làm một ngày của chúng tôi ngập đầy an lành. Pam ơi, cafe hôm nay uống sẽ tuyệt hơn những lần trước. Bạn nghĩ vậy không? Nàng cũng siết vòng tay thật sâu cho người mới quen, ngỡ như ôm đứa em gái khù khờ đang trên đường ra biển một mình. Nàng nguyện cầu cho Jul được bình an trong cuộc sống mong manh. Quán cafe bên góc phố, ngoài tiếng cười rộn rã, nàng biết giờ đây còn có những nụ cười nồng ấm cho nhau, cho tình bạn giữa dẫu phù du trên kiếp người quá ngắn.

Quỳnh My

Monday, May 09, 2005

Mẹ

My thường như quên mất tuổi, chỉ vì ngày nào My cũng được làm đứa con gái được mẹ ân cần nhắc nhỡ đủ điều.

Mẹ My có 11 đứa con. Anh trai đầu mất sớm nên còn lại thật đều 5 gái, 5 trai. Chị lớn My bỏ đi lấy chồng thật sớm như là đi chạy giặc, để rời bỏ mái gia đình có đàn em nhỏ thật đông và người cha vô cùng nghiêm khắc. My chưa kịp lớn đã lãnh đủ gia tài chị ra đi bỏ lại cho My. Ngỡ là chiụ không thấu nổi cực nhọc và luật lệ quá đổi khắc khe, trái lại My là đứa ở lì với ba mẹ lâu hơn ai hết, sau luôn mấy đứa em ở phía sau My. Có lẽ nhờ vậy mà My gần gủi mẹ hơn bất cứ chị em nào, cho dù My giờ cũng đã trở thành người mẹ của hai đứa con trai. My nhớ khi cả nhà vừa tới Mỹ không lâu. My rã đàn theo chị đi về miền Bắc. Khi My tới miền tỉnh nhỏ này, gom góp lại có chừng mười gia đình VN và đều là bạn bè thân của chị My, mọi người kéo đến welcome My rồi thắc mắc, hỏi em về làm chi cái xứ hẩm hiu này. Các chị báo tin buồn cho em biết là ở đây không có một người đàn ông VN độc thân nào hết đó nha cưng! Chị My cười nói khỏi phải lo. Người ta có mối tình lớn, đang chờ nối lại lời ước hẹn. My tới vào mùa thu. Nhà của chị My ở trên đồi, chung quanh bao boc bởi rừng hoa dogwood. Nhìn mùa thu miền bắc, My ước gì My biết vẽ hoặc làm thơ. Mỗi ngày đi về qua những dốc đồi, nhìn lá đổi màu đẹp và nên thơ như bức tranh khổng lồ trãi dài theo những con đường quạnh vắng. Rồi mùa đông tới, là mùa đông đầu tiên của riêng My. Chưa bao giờ My cảm thấy lạnh, cô đơn và buồn bã đến độ này. Chỉ mong mau đến hè để được về thăm lại gia đình ở một nơi có nắng ấm quanh năm. My đã bắt đầu thấy sợ, những buổi tối mùa đông ngồi thẩn thờ nhìn tuyết rơi trắng xoá bên ngoài. My nhớ VN, nhớ căn nhà nhỏ đầu tiên trên đất Mỹ mà My vừa mới rời xa. Nhớ ba mẹ và lũ em chưa bao giờ xa quá mấy ngày và nhớ làm sao hình bóng của người xưa. Giữa muôn ngàn nổi nhớ, My chợt nhìn vô cuốn lịch nhỏ xíu mang theo, ngơ ngẩn, bàng hoàng vì đang là đêm 30 tết. Chuông điện thoại reo vào lúc sắp nửa đêm. My vội vàng chụp lấy vì thường là phone từ gia đình gọi đến, chị lúc nào cũng dành cho My nói chuyện trước tiên. Đầu dây bên kia không là giọng nói thương yêu quen thuộc của mẹ My. Là tiếng nức nở của đứa em gái kế. Chị ơi, nếu như má bỏ tụi mình, chắc là em sẽ đi tu. My lặng người chết điếng trong lòng. Mẹ trở bệnh nặng mà mọi người cố giấu không cho My biết. Ôi đêm giao thừa đầu tiên nơi xứ lạ, có lẽ nào chị em My trở thành đám mồ côi. Ngày mùng một My tới hãng, với khuôn mặt u sầu, và đôi mắt đỏ sưng to, vì khóc và vì thức trắng. Chị My xa xót, nói thôi em về đi, nếu như má không qua khỏi thì chị sẽ về sau. Chiều mùng một tết anh chị chở My ra phi trường vội vã bay về. Đêm đó My đã ngồi đợi nhiều giờ nơi phi trường xa lạ. Chuyến bay dừng lại bất ngờ vì bão tuyết không thể nào tiếp tuc.My đã không ngừng chùi nước mắt, nghĩ cuộc đời sao có quá nhiều những nổi bấp bênh, đầy bất trắc vây quanh.. Trời ơi nếu như mẹ ra đi, thì có sống ở nơi đâu cuộc đời cũng sẽ chỉ toàn là bóng tối với riêng My. My chưa kịp chia với mẹ, những nổi niềm riêng mẹ chất chứa trong lòng, khi bắt đầu rời xa nơi chốn thân quen, tới đất trời xa lạ mà ngay cả đám em mới vừa chớm lớn của My cũng còn cảm thấy lạc lỏng và như hụt hẫng, bởi chưa biết làm sao để bắt kịp theo nhịp sống chung quanh. Cuối cùng rồi My cũng có mặt tại bệnh viện cùng với người anh từ Atlanta về. Hai anh em gặp nhau trong khuôn viên bệnh viện. Ngưòi anh thân thiết thời tuổi nhỏ lặng lẽ khoát tay lên vai My cùng bước vào phòng bệnh, nơi có mẹ đang nằm thiêm thiếp, không hay hai đứa con xa vừa mới trở về. Cả anh và My cùng đưa tay chùi nước mắt, bởi không nhìn ra là mẹ nữa rồi. Trên giường bệnh là một bộ xương, với hai hố mắt sâu, gầy yếu nhăn nheo như cái xác đã cạn khô sự sống. Người bác sĩ kiên nhẫn ngồi hỏi tỉ mỉ chuyện gia đình, vì theo chuẩn đoán mẹ My mang tâm bệnh. Nổi buồn đã làm cạn dần sinh lực mỗi ngày, bởi không có sự trục trặc nào tìm thấy sau khi tìm bệnh qua nhiều đợt test. Vậy mà trong những ngày suy sụp kéo dài, mỗi tuần My gọi về, mẹ có bao giờ tỏ lộ ra cho My biết chút gì đâu. Mẹ chỉ hỏi My đã bớt buồn chưa, quần áo mặc có đủ ấm trong mùa lạnh? Mẹ nhắc My phải mua thêm, vì mẹ biết từ xứ nóng ra đi My làm sao có sẵn, đừng gởi hết tiền lương về nhà nữa, mẹ làm sao an lòng mỗi khi nghĩ đến My, dù vẫn biết chị lo cho My mọi thứ. My và người anh xa từ dạo 75 ngày nào cũng quẩn quanh nơi giường bệnh, có lẽ đây là liều thuốc mẹ My cần. My hiểu hơn ai hết nổi buồn bã âm thầm của mẹ và cha, khi thấy mình bất lực nhìn con lao vội vã vào giòng sống hoàn toàn xa lạ để tự lực, không làm vưóng bận các chị anh sang trước. Ba đứa con gái là My và hai em kế, cùng đi làm sau khi tập lái xe chớp nhoáng và làm tơi tả chiếc xe của anh chàng hàng xóm VN tốt bụng, bị em gái My đuổi về hoài, kèm theo câu ráng lo kiếm vợ đi, đừng theo tui nữa làm chi!. My hiểu hơn ai hết nổi buồn của mẹ, khi biết ra ở bên này cuộc sống lúc nào cũng như giòng thác chảy không ngừng. Chị em My bị tách rời ra, không có đủ giờ để kịp buồn hay nghĩ về nơi đã lìa xa, về những người thân khốn khó bên nhà đang cần giúp, hay ngồi kể cho nhau nghe chuyện cười ra nước mắt phút đầu tiên lớ ngớ ở nơi đây. Mẹ qua khỏi cơn bạo bệnh. Anh em My lại chia tay lần nữa với gia đình, My trở lại miền bắc đi làm tiếp tục.Anh về Atlanta với vợ con anh. Những đêm cùng ngủ một nhà, hai anh em thức thật khuya nhắc chuyện ngày xưa. Anh nhớ nhiều đến nổi, tưởng chừng như chuyện xãy ra mới hôm qua. Trong khi anh chợt biết, đứa em gái tỉ mỉ ngày nào đã quên thật nhiều chi tiết về những người thân lẫn tình thân anh bỏ lại ngày xưa. My thấy tội cho anh My quá đổi. Anh làm sao biết giữa những khốn khó vây quanh và môi trường sống vô cùng khắc nghiệt, người xưa lẫn tình xưa cũng đổi thay theo ít nhiều để sống còn với nhiều nghiệt ngã quanh đời.

Vượt qua cơn bệnh hiểm nghèo lần đó. Mẹ My dường như chợt nhận ra nếu chỉ thương con bằng nổi xa xót buồn phiền, chỉ hao mòn thân xác, làm vướng víu, nặng lòng thêm không giúp được gì con. Mẹ bắt đầu tập thích nghi với mọi thứ ở quanh mình. Tập nghe và trả lời điện thoại khi con vắng mặt, tập nhớ nằm lòng số phone của những đứa con xa, bằng lòng với những gì mình có được bây giờ, và không cảm thấy buồn khổ nhiều vì khả năng giới hạn, bởi chỉ có một vòng tay làm sao mẹ ôm thấu cả hai miền Nam Bắc ở bên kia. Mùa hè tới My có vacation và chạy bay về ở luôn bên cạnh mẹ. Những đứa em ai cũng muốn gần My. Chị đành gom góp những gì My bỏ lại xếp vô thùng để gởi về nhà. Coi như My biến mất luôn không kịp giả từ ai, dù ở đó My được các chị thương và quý, vẫn còn nhắc My hoài cho mãi tới bây giờ. My trở về. Mấy chị em đi làm dành dụm mua cho ba mẹ căn nhà nhỏ. Phòng ngủ lớn dành cho 4 chị em gái của My với hai chiếc giường queen size để cạnh nhau. Sau này thêm đứa em gái bà con vượt biên từ đảo mới qua, căn phòng coi như phải chứa tới 5 cô con gái, trừ đứa em bà con đang tuổi lớn, chị em My 4 đứa mảnh mai, giống như thời “ốm đói” ở VN mặc dù chưa từng bị đói bao giờ. Phòng không chật, nhưng đôi khi khiến mẹ ngại ngùng cho đám 4 đứa con gái nằm trong nhóm tuổi tứ hành xung (THX)! Hai cô em kế của My thỉnh thoảng làm mẹ lắc đầu than, giống như “hai gái lấy một chồng” vì khắc khẩu hoài hoài, tuy rằng rất đổi mau quên. My và em gái út tính ra cũng một cặp THX. Nhưng cặp của My không có trục trặc gì, bởi có đám loạn nào nổi lên thì My chính là người dàn xếp nhẹ nhàng. Chuyện lớn trở nên chuyện nhỏ, và chuyện nhỏ trở thành những nụ cười không tươi lắm dành cho nhau liền sau đó, vì hai đứa em biết phục thiện luôn luôn lắng nghe My. Mỗi buổi tối, sau khi mấy đứa em còn đi học đã làm bài xong, căn phòng vốn đã chật của chị em My càng thêm chật, vì cả 4 chị em gái và em trai vẫn có thói quen tụ tập nghe My kể chuyện, nói về một quyển sách hay vừa mới đọc, một bài viết ý nghĩa vừa xem trong báo, hay cùng nhắc chuyện xưa để mà vui chứ không để buồn phiền. My hiểu hơn ai hết, mọi người cần những nụ cười, để có thêm năng lực vượt qua những đoạn quá gập ghềnh trong cuộc sống ở xứ người. Ba My vẫn như hồi còn ở bên nhà, tối nào cũng mặc vào chiếc áo tràng, một mình với những câu kinh và tiếng chuông mõ ngân nga. Mẹ luôn luôn có mặt, bên cạnh bầy con gái quanh năm không thấy bạn bè, chỉ một đám chị em xúm xít cùng nhau. Mẹ My thường góp mặt bằng những nụ cười hiền. Một đôi khi My thoáng nhìn thấy mẹ hơi nhăn mặt, vì không ngờ con nhỏ thâm trầm chững chạc như My đã kể chuyện tiếu lâm và lập lại nguyên văn khiến ai nấy bò lăn, cười đến chảy nước mắt ra. Còn đứa em trai nhỏ của My, hiền như đất vì ra đời gần sau cuối bị 4 chị em gái vây quanh, đồng hoá đến nổi hiền em như con gái. Ai làm gì mích lòng, em chỉ biết giận bằng cách im lìm không nói năng gì. Như vậy cũng không yên, vì trừ My ra, đám chị và em lại lo em trai hiền quá mai này bị vợ ăn hiếp làm sao chịu thấu! Thỉnh thoảng em cũng nói từ từ rỉ rả đôi ba câu chuyện. Mọi người đều yên lặng chú tâm để cuối cùng biết ra đứa em trai cũng đâu có thua My. Có lẽ còn trên My một bậc, vì em nói tĩnh bơ trong khi ngườI nghe không nhịn nổi, cười vang! Có điều My dễ quên còn em hay nhớ. Vì dễ quên cho nên khi My vừa đọc quyển sách nào xong là bị các em nắm áo liền thôi. My bảo đọc nhưng tất cả đều từ chối. Nói có đọc xong chưa chắc thú vị bằng khi nghe chị trích ra những đoạn hay kể cho một đám cùng nghe.. My vui với niềm vui nhỏ, giấu đi nổi buồn lớn âm thầm, chỉ vì vẫn mong thấy mẹ, còn có những nụ cười trong khoảnh khắc hiện diện ngay bên cạnh chị em My. My hiểu rõ hơn ai tuổi nhỏ của chị em My và tuổi xuân của mẹ, là những tháng ngày binh lữa vây quanh, cho nên mẹ đâu biết tới mùa xuân thì nói chi tới tuổi xuân. Nụ cười của mẹ ngày càng hiếm hoi quá đổi, khi những đứa con trai lớn đi vào nơi khói lửa mịt mù xa, đám còn nhỏ dại ngày mỗi ngày sống trong nổi sợ lo vì sinh mạng quá mong manh. My nhớ có nhiều đêm tỉnh nhỏ, My giật mình nghe tiếng mẹ gọi tên. My tĩnh ngủ nhanh từ ngày nhỏ, vì lo phụ mẹ dìu các em chạy vào hầm trú đạn trong nhà. My đã quen với âm thanh tiếng đạn pháo trong đêm. Tiếng máy bay vần vũ trên cao và nhìn ánh hỏa châu sáng rực một góc trời tỉnh nhỏ. Một đôi khi mẹ chợt hốt hoảng nhận ra, vì còn thiếu một đứa em đang say ngủ mà cả mẹ và My quên chưa gọi dậy nắm tay dắt em đi vào hầm trú ẩn. My vẫn còn nhớ căn hầm không rộng, do chính tay My đỗ cát vào những bao nhỏ màu xanh rêu, xong may lại bằng sợi chỉ nhợ và cây kim thật lớn. Anh My đã xếp chồng những bao cát lên nhau, thành căn hầm tránh đạn trong nhà, giống như những lô cốt ngoài trại lính. My sợ nhất là đã vào hầm trú xong phải quay trở lại, không biết khi có điều gì xãy ra thì mẹ sẽ ra sao, cho dù hầm trú không là chỗ an toàn, vì đã có rất nhiều gia đình cùng chết với nhau khi đạn pháo rớt ngay trên căn hầm đó. Nước mắt mẹ My đã đỗ,ngập tràn trên những dặm đường máu lữa chiến chinh. Năm đó em gái út mới hơn 5 tuổI, đã lủi thủi chạy mấy mươi cây số theo đoàn người tìm sự sống trong nổi chết cận kề….Tất cả đều qua như một giấc mơ. Cho nên My vẫn hết sức trân quý những nụ cười mình còn có thể mang đến được cho những người My yêu thương ở chung quanh.

Khi bắt đầu nguôi ngoai nổi buồn thương, mẹ rũ reng ba tập trồng trọt, làm vườn chung với mẹ. Căn nhà ở vùng ngoại ô thành phố, bên cạnh ngay shop làm cửa sắt của anh My, bây giờ có thêm vườn trồng toàn cây bạc hà thật lớn ở phía sau. Anh chở về cho ba mẹ, nhiều xe đất tốt và phân bón. Ba mẹ cùng nhau chăm sóc mỗi ngày. Cây bạc hà lớn mau và cây lớn nở thêm cây con. Áo quần ba mẹ dính đầy mũ bạc hà khi cắt dù đã vô cùng cẩn thận. Ba mẹ trồng nhiều, em gái My lo tìm kiếm người quen có whole sale chuyên cung cấp rau cải, trái cây cho các siêu thị VN để tiêu thụ vườn bạc hà xanh mướt tốt tươi, được chăm sóc bởi hai người chưa từng trồng trọt bao gìơ là ba mẹ của My. Anh em My an tâm nhìn ba mẹ như đã hồi sinh. Biến nổi nhớ thương, xa xót người ở lại thành việc làm mang lại niềm vui và ý nghĩa biết bao. Với số tiền kiếm được từ vườn bạc hà ba mẹ đã trãi tấm lòng đến những người đang khốn khó ở bên nhà, từ các dì, ông ngoại của My, cho đến những đứa cháu từ quê nội xa xôi nơi đất Bắc. Nơi My ở là miền nắng ấm chan hoà, cho nên Ba mẹ chỉ "thất nghiệp" mấy tháng dạo mùa đông.

Niềm vui vừa thoáng đến, mẹ đã phải lau nước mắt lặng thầm khi nhìn cảnh gia đình đỗ vỡ của anh My. Người anh ngày nào cùng vợ và con gian nan vượt biển, giờ đành bất lực buông xuôi nhìn chị dắt đứa con gái 6 tuổi và con trai chưa đầy hai tuổi bỏ ra đi. Chị đem các con đi về sống cùng thành phố với người họ hàng xa, anh cứ mỗi tháng tìm thăm con và van xin chị trở về. Sau 2 năm đợi chờ và hy vọng, chị không trở về và kêu anh ký vào giấy ly hôn. Anh bồng đứa con trai giờ gần 4 tuổi trở về. Thằng bé vốn không có sức khỏe bình thường từ lúc mới lọt lòng. Mẹ muốn nuôi nấng đứa cháu nội nhiều bất hạnh, nhưng cuối cùng thì cháu trai My trở thành đứa con nuôi của người anh kế, vừa sang đoàn tụ với gia đình My chưa có bao lâu. Anh chị có ba đứa con gái nhỏ. Chị ao ước và xin anh trai lớn cho chị được làm người mẹ thứ hai. Đứa con trai nhỏ cần được sống trong một gia đình có tiếng cười rộn rã của trẻ thơ, cần có bàn tay chăm sóc dịu dàng của mẹ. Anh My bằng lòng vì nghĩ căn nhà nhỏ một mình anh thường đi về lặng lẽ, ngồi trong bóng tối và khói thuốc ngập đầy không phải là nơi đứa con trai yêu thương sẽ phải sống cùng anh. Hơn nữa nhà các anh bao quanh nhà ba mẹ, không dưng mà những đứa con trai đều cùng chọn ở nơi những căn nhà cũ kỹ, già nua để gần mẹ và cha. Mẹ bây giờ vừa làm vườn vừa mở "quán ăn". Chị dâu My từng sống một nhà khi anh đi làm xa ngày trước cho nên đã ghiền món ăn mẹ nấu từ xưa. Chị vốn tính tự nhiên giống trẻ thơ, lấy chồng năm 18 tuổi khi đang còn đi học. Chị vào làm con dâu ba mẹ, nhưng khó ai biết được chị là con dâu vì đứa con dâu trẻ của ba mẹ còn tự nhiên hơn đám con gái trong nhà nữa. Chị xin mẹ được mỗi ngày kéo cả nhà qua nhà mẹ ăn cơm. Mẹ bắt đầu cực thêm chút nữa nhưng niềm vui dường như cũng tăng thêm, vì có thể đem tình thương san sẻ cho những người đang bất hạnh ở quê nhà.

Khi đứa em gái kế của My đi lấy chồng, ngày đám cưới em là một ngày lạnh và mưa ảm đạm, lê thê. Mẹ khóc và em cũng khóc, cho dù em vẫn ở lại, không theo chồng mà bắt chồng bỏ việc làm từ miền bắc để theo em về sống ở nơi đây. Năm sau thêm một đứa em tiếp tục khăn áo sang sông. Mẹ thôi không khóc nữa nhưng căn nhà ngày càng quạnh vắng, dù có thêm mấy đứa em bà con xa của My từ đảo mới được anh My bảo trợ sang, cho nương náu với anh trong căn nhà quạnh quẽ từ sau chị bỏ ra đi. Ba đứa em này tuổi còn đi học, quán ăn của mẹ xem ra phát đạt thêm vì có ba khách hàng thường trực nữa. Mỗi buổi tối không còn tiếng cười rộn rã. Em trai cũng đóng cửa phòng không tìm sang góp chuyện vui giống trước đây, vì em đã bắt đầu có người để mà bận rộn rồi. Đá là một cô bé xinh đẹp đã theo anh chị vượt biên khi còn rất nhỏ, mà em trai My gặp trong chùa, khi cô bé đến làm lễ thọ tang cho người cha mới mất ở VN. Chỉ còn mẹ buổi tối nào cũng sang phòng My, hai mẹ con nằm cạnh nhau thủ thỉ chuyện buồn vui. Mẹ thường lắng nghe mà không nói gì nhiều. Cũng không trách móc hay hỏi tại sao như thế khi My lầm lỗi. Mẹ chỉ thuần lắng nghe để chia sẻ cùng My. Bệnh phong thấp của mẹ từ ngày còn trẻ, cho nên chị em My đứa nào cũng trở thành chuyên viên đấm bóp nhà nghề. Em gái út thường ấn định thờI giờ như thi hành bổn phận công dân, trước hoặc sau khi học bài buổI tối. Còn My thì vừa đấm bóp vừa rỉ rã hỏi han và kể chuyện, để mẹ quên không nhắc My ngừng dù đau nhức vẫn còn. Những lần mẹ bệnh, My thường ngủ chung để khi nào mẹ trở mình, My chợt biết mà chổi dậy. Dù hai con mắt có mở không ra, My vẫn có thể ngồi đấm bóp hàng giờ. Mẹ thường ái ngại bảo My ngừng, nói rằng đã bớt đau nhức nhiều rồi. My giả bộ không nghe, cho tớI khi buồn ngủ không chiụ nổi mới buông tay ngủ tiếp. Năm năm hai mẹ con quanh quẩn cạnh nhau, như bù đắp lại thời thơ ấu lúc nào My cũng thầm ao ước, giá mẹ dẹp hết bao vướng bận, để dành cho riêng My một chút thời gian. Bây giờ niềm ước mơ giấu kín ngày xưa, không dưng mà trở thành điều có thật với My. Hai mẹ con có nhiều thời gian ở bên nhau. My chở mẹ đi mua vải về may áo, vì mẹ vẫn ưa mặc những chiếc áo do My tự tay may cắt. Từ hồi còn ở bên nhà ,sau khi nghe mẹ thở than về bờ vai mẹ xuôi xuống nhiều quá mức bình thường, cho nên ít khi có được chiếc áo nào vừa ý từ những người thợ may quen thuộc ở gần nhà. My cũng không ngờ cô thợ may tài tử như My. lại làm mẹ hài lòng sau vài lần có những "tác phẩm để đời" vì chẳng giống như chiếc áo! Thỉnh thoảng mẹ cũng kêu My chở mẹ đi shopping, để mẹ có dịp tự tay mua tặng cho My những chiếc áo mà mẹ nghĩ My đã không có được trong thời tuổi nhỏ. Mẹ chọn, ngắm nhìn My thử áo, hài lòng. Mẹ lúc này đã sáu mươi mấy tuổi rồi, mà sao chiếc áo nào mẹ chọn cho My cũng đều hợp như ý thích của My.


Rồi My đi lấy chồng. Ba mẹ dường như ái ngại cho My. Trong đôi mắt ngườI thân, My lúc nào cũng yếu đuốI, nhỏ nhoi. Ba không che dấu cảm nghĩ và linh cảm đời My sẽ khổ. My biết mẹ âm thầm lo lắng, nhưng mẹ vốn hay giữ trong lòng những điều mẹ nghĩ, sợ làm My sẽ buồn hơn khi sắp xa rời vòng tay và bóng mát êm đềm trong tình mẹ. Bữa ăn cuối của My trước ngày đám cưới, mẹ cười thật buồn nói vớI các anh. Con nhỏ này đi rồi mai mốt món ăn nào bị chê không còn ai tiếp sức hết lòng. My cũng gượng cười theo mà con mắt đỏ hoe. My nói thì ra không phải má thương hay tiếc gì con. Má chỉ ngại không còn đứa thay con lu ngày trước, ráng ăn những thứ sắp đỗ đi, có phảI không? Mẹ My là người nấu ăn ngon. Nhưng ai đã từng nấu ăn thì biết, một đôi khi vẫn không ưng ý món ăn mình vừa nấu. Nó dường như thiếu hoặc dư một chút xiú gia vị nào đó mà ngườI ăn đã quen sẽ dễ nhận ra. Các anh My thường hết sức tự nhiên. Mẹ nấu ngon chẳng nghe khen một tiếng, nhưng khi ăn hơi khác thì buông lờI trêu chọc. Má ơi tuần này họ đang sale muối phảI không? Má xài muối rộng tay dữ cho nên thức ăn bị ế. My thường chẳng nói năng gì, chỉ nháy mắt các anh nhắc đừng trêu chọc mẹ, rồi My lặng lẽ ăn duy nhất món nào bị mọi người chê mà không màng đến dỡ ngon. Bởi My nghĩ còn được mẹ nấu cho ăn là còn hạnh phúc lớn trong đời.

My đi rồi nhà còn lại hai đứa em còn đi học. Đứa em trai thương mẹ và tỉ mỉ hơn nhưng không còn có thời gian để ý tớI mẹ nhiều vì vừa học, vừa làm, vừa lo cho bạn gái . Em gái nhỏ vẫn như không bao giờ lớn, tỏ vẻ ngạc nhiên hỏi mấy chị theo chồng hết rồi mẹ còn qua phòng này nữa nữa làm chi? Mẹ lẳng lặng bước ra không nói một câu. Phải chi em My hiểu mẹ luôn luôn muốn gần con khi còn có thể gần. Người anh kế của My mỗI lúc ghé qua, anh than với chị dâu rằng mấy đứa kia đi lấy chồng anh thấy bình thường. Chỉ khi không còn My nữa thấy nhà sao vắng lạnh. Cũng may, còn có đứa em gái bà con, hay để ý những buồn vui của mẹ và hết sức đỡ đần khi thấy mẹ nhọc nhằn. Đứa em này những lúc My về, vẫn thường nói với My em nhìn dì lủi thủi một mình khi không còn chị nữa thấy mà thương, mà xót làm sao! My thầm cảm ơn đứa em gái nhỏ này, đã thay My ở bên cạnh mẹ. Mẹ là giòng suối mát êm đềm. Không riêng với một mình My, mà bất cứ ai ở gần bên cũng cảm nhận được điều này. My không ngạc nhiên khi thấy vài năm sau, khi mẹ của đứa em bà con sang, tình em dành cho người mẹ ruột không ấm áp ngọt ngào như đã dành cho mẹ của My suốt bao năm.

Bây gìờ, sau 22 năm ở Mỹ mẹ có mấy mươi đứa cháu nội ngoại gần xa, nhưng hẩm hiu hơn vì ba My đã ra đi gần đúng ba năm. Anh em My không nói ra mà cùng e ngại, sợ mẹ sẽ không chiụ nổi sự lẻ loi trong đoạn cuối đời làm người ở lại buồn. My biết My phải làm gì để giúp mẹ vượt qua nổi buồn đau quá lớn này đây. Sau khi ba mất, My mỗi tuần về với mẹ trong một ngày không phải cuối tuần. My vào nhà thấy im vắng buồn hiu. Đi ra ngôi chùa nhỏ trưóc nhà, thấy mẹ đang ngồi lần chuỗi niệm Phật trước bàn thờ ba nghi ngút khói nhang. Lẫn trong câu niệm Phật là tiếng nấc cố kềm giữ lại trong lòng, và đôi mắt đang ngập đầy giọt lệ. My lạy Phật, lạy ba xong ôm đôi bờ vai đang run run xúc cảm, rồi ngồi xuống nhẹ nhàng bên cạnh mẹ. My thỉnh một hồi chuông và bắt đầu giở những trang kinh. My biết tụng kinh cầu siêu từ dạo đó. My đã làm mẹ ấm lòng khi mỗi tuần bỏ hết để về ngồi bên mẹ, tự mình tụng những hồi kinh sìêu độ cho ba cho đến hết thất tuần.

Bây giờ, mẹ đã biến nổi buồn thưong của người ở lại, thành một chút niềm vui san sẻ rộng xa thêm đến những đứa bé mồ côi ở VN. Đứa cháu gái ở bên nhà có một tấm lòng nhưng rất đổi nghèo. Mẹ là người tạo phương tiện cho em hành thiện bằng những đồng tiền già của mẹ và kêu gọi nhắc nhỡ thêm đàn con 10 đứa vẫn luôn tha thiết với buồn vui của mẹ quanh đời. Quán ăn của mẹ giờ đóng cửa, chỉ còm quám cà phê của mẹ thôi. Không biết từ bao giờ, ba người anh trai của My bất kể ngày nắng hay mưa, mỗi buổi sáng đều ghé sang nhà mẹ cùng uống ly cà phê đầu ngày trước lúc đi làm. Đám con gái tự dưng lấy chồng rồi ở tụ lại chung một hướng phía tây nam thành phố, trừ mẹ con đứa em gái út hiện đang sống cùng mẹ một nhà. Các anh My vẫn quanh quẩn chung quanh khu xóm buồn tênh từ mấy mươi năm. Người anh kế thường gọi bầy con gái là đám Nga Mi còn các anh là phái Võ Đang. Mỗi khi mẹ về thăm đám Nga Mi và ở lại cả tuần, thì ở quán cà phê ven núi Võ Đang, các anh vẫn mỗi ngày đến đó dù không có mẹ. Đôi khi nhớ quá, anh trai gọi hỏi bao giờ quán chủ trở về, sao cứ đóng cửa đi hoài cho khách lâu năm cứ ngóng trông?

Cũng bây giờ, những đứa con đã lớn như My không còn ngần ngại khi bày tỏ lòng thương với mẹ. Ngày xưa chị em My ao ước, được mẹ vuốt ve để ý tới mình hơn. Bây giờ mẹ rãnh rang nhiều, cho nên đứa con gái nào cũng ráng tìm cho mình những phút giây có thể để tận hưởng những yêu dấu ngọt ngào còn diễm phúc trên đời. My và các em thường ưa được ghé nằm cạnh mẹ trên chiếc sô pha. Ôm và hôn nhẹ nhàng lên khuôn mặt một đời nhẫn nhục, thương con và cháu thương luôn cả những đứa trẻ mồ côi mà mẹ chưa lần nào gặp trong đời. Mẹ bây giờ cũng đã biết ôm hôn trở lại, những đứa con gái ngày xưa mà mẹ không có thời gian để ve vuốt nâng niu. Tuổi 82 của mẹ vừa mới qua rồi. Niềm ao ước cuối là được cùng bầy con gái một lần trở lại, đi khắp Bắc Nam để chia sẻ tình thương đến người thân lẫn người xa. Ước mơ của mẹ bình thường có vậy, mà sao My vẫn ngậm ngùi vì chưa biết đến bao giờ ,chị em My có thể vứt bỏ hết bao trói buộc chung quanh, để cùng mẹ một lần đi trở về trên những dặm đường được trãi bằng tình thương của mẹ, không phải chỉ dành cho các con thôi mà còn cho tới cả những đứa con tội nghiệp mồ côi, sống đâu đó nơi mọi miền đất nước.

"Mẹ ơi, con thương mẹ", là những câu mà chị em My không ngại ngùng bày tỏ hoài hoài. Xin đừng bao giờ ngập ngừng ngăn lại lời nói yêu thương, nếu như bạn vẫn còn cơ hội để nói với người mình thương đến muôn đời...

Quỳnh My
Mother 's Day, 2005

Sunday, May 01, 2005

Những tháng Tư buồn

Chiều nay trời bỗng dưng ũ rũ. Những vạt nắng cuối ngày tàn úa, mong manh che khuất trong mây. My lẫn chìm trong giòng xe cộ ngập đầy, nối đuôi nhau hàng hàng lớp lớp đang chậm trườn mình trên xa lộ. Dõi mắt nhìn ra phía trước, xa hun hút cuối con dốc dài trước những giòng xe là mây xám giăng đầy. Xứ mặt trời bên kia mùa hạ của My, cả tuần nay mặt trời như lánh mặt. Chắc muốn chia cùng My, cùng những người lưu lạc tha phương, nổi ngậm ngùi tiếc nhớ âm thầm, và nổi đau chung của những người ra đi mang theo một quê hương. My đưa tay vặn radio, thói quen bỗng có trong những buổi chiều về trên xa lộ đông người.

My buồn đến thẩn thờ khi nghe giọng hát Khánh Hà thổn thức ngân dài "Saigon ơi, tôi đã mất người trong cuộc đời. Saigon ơi, thôi đã hết thời gian tuyệt vời..." . Ngày đó làm người ra đi trong những đợt bảo lãnh đầu tiên, dù không âm thầm, sợ hãi như khi ra biển nhưng My không nghĩ mình còn có đường về. My biết My sẽ khóc, dù người My thương không còn ở lại để tiển đưa. Làm sao không cảm thấy đớn đau, khi chợt nghĩ không bao giờ còn gặp lại những khuôn mặt thân thương ngày đó. Ngoài người thân  còn ở lại, My chỉ có vài đứa bạn từ thời tỉnh nhỏ ngày xưa, vài đứa bạn của 10 năm sau cuối ở Saigon. My đành âm thầm tạ lỗi với những người đã nặng lòng khó thể quên My. Không phải My quên hay tiếc gì một lần giã biệt. Chỉ vì ngày ấy không ai nghĩ là tạm biệt, mà coi như vĩnh biệt nhau. Trong lòng, My chỉ muốn cho những người quý thương dẫu có buồn, trách My quá vô tình, như vậy càng giúp cho mọi người quên My dễ dàng hơn. Cho đến bây giờ, người ra đilũ lượt quay về. Riêng My đã 22 năm còn mãi nơi đây. My vẫn thường nghe hỏi . Nghe tiếng thở dài và câu trách nhẹ nhàng. Có bao giờ My trở lại? Hay là cho đến một ngày nào đó sau naỳ, My sẽ tới thăm tôi ở nghĩa trang. Sẽ thắp vội mấy nén nhang tưởng nhớ, gửi cho người không đợi nổi lần về.

My đã từng làm người ở lại. Cảm nghe lạc lỏng bơ vơ trên chính quê hương trong ngày cuối tháng Tư. Lúc đó My chưa có ai để mất, ngoài một người anh vội vã xuống chiếc tàu sau cuối trong ngày tóc tang của tháng Tư xưa. My ngơ ngác nhìn giòng người hổn độn. Nghe những giọng nói lạ xa, sắc tựa lưỡi dao như cứa nát tương lai được phát đi từ làn sóng phát thanh, lan toả khắp những nẻo đường trong thành phố. Người anh lớn lành lặn trở về từ nơi đóng quân bên này bờ vĩ tuyến, đã nắm tay đứa em trai còn đang lui tới giảng đường, đến trước mặt người mẹ già đang thờ thẩn buồn lo để từ tạ ra đi. Mẹ My mắt tràn giòng lệ, hỏi anh My con đành lòng ra đi bỏ lại đàn em nhỏ sao con? Anh My khựng lại, buông xuôi. Thôi thì con ở lại , chỉ đưa em con ra bến. Căn nhà My ở gần ghê lắm nơi bến đậu con tàu sau cuối khởi hành. Nếu như ngày đó ba mẹ My không bối rối, hoang mang, cả nhà My có thể đi bộ ra bến cảng để có mặt trong đoàn người di tản sau cùng.

Khi anh My đi rồi, My bỗng đâu trở thành cô nhỏ tiếp những người khách mới gặp lần đầu tiên mà ngỡ quen lâu. Khi nghe My giới thiệu tên, người con gái có mái tóc dài xinh đẹp dịu dàng đã ân cần. Chị nghe anh P nhắc tên My hoài, vậy mà cho đến khi anh ra đi rồi mới gặp được My. Không ngờ anh P có nhiều em gái mà làm như chỉ có một đứa em duy nhất là My. My chỉ biết cười chứ đâu làm sao giải thích được tại sao. Có lẽ My tốt số, được người anh có tiếng là "hung thần" đối với đàn em nhỏ, đã luôn nhẹ nhàng ưu ái với riêng My. Ngay cả những cô hàng xóm ở chung quanh, khi My mới về Saigon sống một nhà cùng với anh sau mấy năm xa cách, cũng đã tới làm quen và "coi mắt" My luôn. Ai cũng biết là anh có một đàn em gái, vậy mà khi xa anh chỉ nhắc một mình My và mẹ mà thôi. Lòng My như cũng nhói đau theo, khi nghe những lời buồn bã rưng rưng từ người bạn gái của anh My. Chị lên trường Vạn Hạnh. Mỏi mắt tìm trong đám đông thiểu não, xôn xao không thấy anh đâu. Hỏi người bạn thân nhất của anh thì được trả lời "Em làm sao giữ gió?. Gió bay, gió bay xa, còn biết tìm đâu?". Chị hốt hoảng không dám tin điều vừa suy đóan. Có lẽ nào anh P ra đi mà không nói với chị một câu. My nhìn chị mà nghe lòng xa xót. Không biết anh ra đi có biết người bạn gái cùng trường đã khóc vì mình, chứ không riêng gì người yêu từ thuở xa xưa mà My đã biết từ lâu. My chạnh nghĩ nếu là My ngơ ngác, đi kiếm tìm bóng dáng người thương đã ra đi, không biết rồi My có giống y như chị, dò hỏi lang thang để tìm ra sự thật buồn đau. My đã tập làm người lớn, thầm mong nổi buồn thương của chị sẽ nhỏ đi, qua những lời an ủi vỗ về. My biết nổi buồn chị có bây giờ, cũng là nổi buồn to lớn của nhiều người chung cảnh ngộ. Nhiều lắm, không làm sao biết hết, có bao nhiêu người thương bỏ người thương ở lại. Có bao nhiêu người vợ, người chồng, người mẹ người cha lạc dấu mất nhau trong cảnh chia ly...Rồi mai đây, không biết đời sẽ về đâu khi mọi thứ đổi thay. Những ngày sau đó My tiếp thêm người khách, mà nước mắt không ngừng rơi từ sau lúc vào nhà. Chị đến và ôm mặt khóc, càng khóc nhiều hơn sau khi lên căn gác nhỏ, là giang sơn của riêng anh. My ơi, anh đâu nghĩ gì đến chị sau bao năm hai đứa yêu nhau. Hình và thư anh bỏ lại nhà, như vậy đủ biết tình anh dành cho chị đâu có bao nhiêu lúc mất nhau. My ái ngại tìm lời chống chế, thư chị gửi bao năm nếu mang hết cả theo chắc phải bỏ lại chiếc va ly nhỏ. Điều này My nói đúng, vì nhiều năm sau gặp lại, anh cười nói nếu mang theo hết chắc chìm tàu!

Người anh lớn của My sau khi tiển em trai, đã bỏ lên rừng như bỏ quên đời. Anh lặng lẽ, miệt mài kiếm sống để thay cho ba My nuôi nấng đàn em tuổi còn đi học. Lâu lâu anh về Saigon, đi ra, đi vào con hẻm nhỏ thở dài. Một đôi lần My thấy anh uống rượu say và cười héo hắt như trách khẽ. Má ơi, chỉ vì những giọt nước mắt ngày nào, mà đời con tan nát giống ngày nay. Anh nói xong lại cười, như thầm tạ lỗi đã khơi dậy nổi ray rứt trong lòng người mẹ, sau những năm tháng nhìn con sống buồn bã lặng thầm, trên chính quê hương đã biến dạng thay hình, đến nổi không ai muốn nghĩ là nơi mình sẽ gắn chặt với cuộc đời đen tối, âm u còn lại . Một lần từ xứ núi rừng về lại Saigon, anh cười cười nói với mẹ My, con vẫn còn đây chờ má đi cưới vợ cho con. Cưới ai? là câu hỏi mà cả nhà muốn hỏi anh liền khi đó. Tưởng như đùa. Nhưng anh cưới vợ là chuyện thật. Anh cưới một cô từ đất Qui Nhơn vào sinh sống ở Saigon, sau thời gian quen biết không lâu. Một đám cưới giản dị được tổ chức liền sau đó. My nghe nhiều câu trách móc, tiếc than từ mấy cô bạn gái của My và bạn của nhỏ em. Trời ơi, sao lui tới nhà My mấy năm dài, ta có lúc như chết ngợp vì đôi mắt đẹp và buồn thăm thẳm đó. Vậy mà cuối cùng không được đoái hoài. Anh My thà lấy người xa lạ chứ không để mắt tới đứa bạn thân của nhỏ em ! My chỉ còn biết cười trừ, vì không phải lần đầu My nghe những lời thú nhận rất đổi tự nhiên của đám bạn Saigon- khác với vẻ sâu kín, e dè như đám bạn tỉnh nhỏ của My. Chao ơi, My có ông anh sao quá dễ thương. Ta ước gì được lọt vào đôi mắt chứa cả một trời mơ ấy, để có một ngày trở thành chị dâu của My đó My ơi! My có tới 4 người anh. Anh nào cũng rất thâm trầm, cũng có nụ cười dễ dãi,hiền lành . Nghĩ cũng lạ! My thấy các anh thường không nói gì nhiều, nhưng thừơng hay có trái tim nào đó đang xôn xao rung động. Riêng với người anh này, đám em nhỏ từ My trở xuống còn xem anh như là người cha thứ hai trong đời, đã thay ba My bảo bọc, thương yêu và lo lắng cho đám chị em My mãi đến ngày nay. Cho tới tuổi này, mà My vẫn đôi khi cảm động rưng rưng. Anh vốn không hay nói nhưng một đôi lần chếch choáng men say, anh đến bên ôm nhẹ vai My, nói bất cứ lúc nào em cần anh giúp, cứ nói ra. Anh thương em lắm biết không? Tình thương này không chỉ ở một thời, vì My bây giờ không còn là đứa em gái nhỏ giống ngày xưa, nhưng sự chăm sóc ân cần, để ý đến My từng hoạn nạn, buồn vui trong cuộc sống vẫn không bao giờ khác ngày xưa.

My đã thôi không còn đi học, qua một năm sau lúc tháng Tư. My nhớ tâm trạng hoang mang sợ hãi, khi mỗi ngày chứng kiến nhiều gia đình trong thành phố bị cuỡng bách đi vùng kinh tế mới. Người chú ruột của mẹ mà chị em My gọi bằng ông ngoại, từ đất Bắc trở về đã nói với My rằng. Với cái lý lịch gia đình có anh trong quân đội, có anh di tản ngày cuối tháng Tư, có chị đã sống trên đất Mỹ nhiều năm...ông ngoại nghĩ con nên ngừng đi học. Con phải vào làm nhân viên nhà nước, để gia đình còn ở lại Saigon, không có tên trong danh sách đi vùng kinh tế mới. Có học thêm thật với lý lịch của con cũng không hy vọng có tương lai. Điều này My dư biết, sau bao nhiêu lần viết tờ khai lý lịch tới lui. My đi học chỉ vì tuổi còn đi học, lại được các anh lo cho nên không bị lăn lóc ra chốn chợ trời mưa nắng dãi dầu, như rất nhiều người cùng trang lứa với My khi cảnh sống êm đềm cũ không còn. Thật không có điều gì khủng hoảng bằng khi chứng kiến những gia đình lếch thếch, lang thang bị ép buộc đi về phương trời vô định. My nghe lời ông ngoại, tới tìm ông ở một công sở cũ ngày xưa . Nhìn My vẫn với tà áo dài tha thướt, đứng ngơ ngác trước cửa phòng, ông ngoại đưa tay ngoắc bảo vào đây. Rồi ông cắm cúi viết đôi giòng ngắn, kêu My cầm lá thư này trao tay cho người bạn ở sở công nghiệp thành phố- là nơi ông gửi gắm My. Lúc My nói cám ơn và chào ông ngoại, ông gật đầu kèm theo câu nhắc nhẹ nhàng. My ơi, ông ngoại nghĩ từ giờ trở đi không ai còn mặc áo dài để đi học hay đi làm việc đâu con. My đã thấy và đã biết, sau một năm còn ở lại Saigon. Vậy mà chẳng hiểu sao ngày hôm đó, My vẫn bướng, vẫn mặc áo dài đến tìm ông ngoại ở nơi làm, mặc cho những đôi mắt chung quanh đầy vẻ ngạc nhiên, khó chiụ cũng có mà mỉm cười thoáng hiện nổi buồn vui cũng có. Những tà áo tiểu thư của Saigon ngày nọ, đã biến mất, chìm sâu trong bóng tối buồn đau. Có bao người lang thang nơi đất trời xứ lạ, thương nhớ quê nhà bỏ lại sau lưng. Vậy mà những người còn ở lại như My, cảm thấy lạc lỏng như đang bị lưu đày trên chính quê hương mình. My đi làm cũng chỉ để tìm một chỗ dung thân. Tiền lương mỗi tháng không đủ mua quà sáng. Dù không tiêu xài bất cứ thứ gì, thì lương của My cũng chỉ đủ đổ xăng vào chiếc PC, My chạy đi làm được vài ngày trong tháng. Trong thời gian đầu có việc làm, My chẳng làm gì ngoài mỗi ngày có mặt ở số 91 đường Nguyễn Du, con đường êm ả dưới hàng me dài rợp bóng. Ở đó My nghe và biết được nhiều hơn về những chuyến vượt biên bình yên tới đảo, hoặc tù tội hay mất tích trong cơn bão dữ, trong đói khát, hay trôi giạt vào nơi hoang đảo... Và kinh hoàng nhất vẫn là trở thành nạn nhân của hải tặc Thái Lan. Những căn nhà bị niêm phong. Những người bạn đồng nghiệp vắng mặt bất ngờ, có khi trở lại rồi mất hút không bao giờ gặp nữa. My chỉ biết thiết tha cầu nguyện, mong cho người đi trên biển được bình an. Mong cho người vượt đoạn đường dài trên bộ xuyên qua đất Miên còn man rợ đôi khi, được toàn vẹn xác thân trước khi qua đất Thái. Cũng ở đây lần đầu tiên My gặp, những người tù cải tạo trở về trong những đợt đầu tiên. My tò mò nhìn anh như thầm hỏi, điều gì đã xảy ra ở một nơi gọi là điạ ngục trần gian? Anh cười buồn nhẫn nhục như thói quen đã tập, nói xin miễn cho anh kể lại chuyện đã qua. My biết trường hợp anh là ngoại lệ, vì có người thân nhận lãnh trở về. Kẻ Bắc, người Nam nhà My cũng có, và dám nhận lãnh cho người cựu sĩ quan cải tạo trở về, là một việc mà đa số người của phe kia đều tránh né. My thôi không thấy cần phải hỏi, vì anh chính là người mỗi tháng ngầm kêu gọi sự tiếp tay của những người đồng nghiệp trẻ không vướng bận chuyện áo cơm giống như My. Phần nhu yếu phẩm là mì gói, bột ngọt, đường, My thường không đem về mà trao tay cho anh gom góp lại để thăm nuôi người bạn tù còn cải tạo chưa về. Một thời gian sau My được gặp, người tù cải tạo mà bọn My thường tiếp tế thăm nuôi mà chẳng biết là ai. Anh còn trẻ lắm có đôi mắt nâu và nụ cười hiền. Cả hai cùng ở Biên Hòa cho nên nhỏ bạn thân thời đi học và cả đi làm chung một chỗ vẫn gọi đùa là "người cỏi Biên Hoà" mỗi khi bị chọc ghẹo và chiụ thua không biết trả lời sao. Nhờ có thêm chiến hữu ở cạnh bên, hai người tù cải tạo không đến nổi sống khép chặt như tách rời ra hẳn mọi người vì tờ lý lịch được xếp tận cùng ngôi thứ. Nhỏ bạn My nghe nói nhà thơ Nguyễn Tất Nhiên là bạn của anh, cho nên nôn nao mong được nhìn tạng mặt một lần. Anh cười, nói thơ hay đã đành, nhưng gặp làm chi tên Hải bạn anh đang ở xa xôi . Anh cũng biết làm thơ nữa. Cho anh làm thơ tặng nhỏ được không? Nhỏ bạn My lắc đầu lia liạ, bởi đã từng biết tài làm thơ trêu đùa của anh rồi. Người mắt nâu rồi trở thành người thương của đứa bạn còn thân mãi đến ngày nay, dù hai đứa chưa bao giờ gặp lại sau mấy mươi năm đã cách xa. Không phải cô nhỏ lí lắc hay trêu đùa dù đang trong cảnh khổ đến tận cùng. Là Tường Vi, cô bé xinh xắn, thâm trầm có nụ cười rất đổi hiền, cùng chung đám bỏ học lang thang tìm chỗ dung thân giống như My. Cuộc tình đó là "5 năm tình lận đận". Bởi bầy con gái xinh đẹp trong nhà Tường Vi chọn sự ra đi đã từ lâu. Người anh mắt nâu không cùng một hướng đi, bởi đâu phải ai cũng có khả năng và không bị trói buộc vào hoàn cảnh không cách gì trút bỏ.

Cho tới lúc này, My vẫn chưa có thương ai, bên cạnh đó Ba My vẫn không ngừng nhắc nhỡ đám chị em My. Đừng vội thương ai hết nghe con. Tương lai còn thăm thẳm, mịt mờ. Càng thương thì càng khổ đau nhiều khi phải xa nhau vì ngày mai có lắm đổi thay. My nhìn thấy người lính hải quân trong khu xóm, thường cúi mặt bước ngang nhà. Người yêu của anh là chị Lan, cô sinh viên y khoa đã cùng gia đình di tản vội vàng, như đã từng xuống tàu rời đất Bắc váo năm 1954. Khi anh My cưới vợ, chị dâu My cũng là chị họ của anh. Thuở đó My hay nhìn thấy anh lính hải quân và chị Lan sóng bước cùng nhau ra vào con hẻm nhỏ. My biết mặt, biết tên nhưng không quen ai hết. My còn biết chị Lan quanh năm chỉ mặc áo dài màu trắng và không bao giờ thấy chị điểm trang. Đến nổi đám bạn bè cùng trường trêu chọc, hỏi có phải chị muốn là một người đặc biệt để thu hút sự chú ý của mọi người trong khuôn viên đại học? Khi chị dâu My về sống chung nhà, My quên mất cách nào đó, anh trở thành người quen của My luôn. Vào những lúc ba mẹ My đi về Định Quán, nơi có 2 người anh đang dầu dãi nắng mưa. Những buổi tối trời mưa và cúp điện, anh thường xách đàn qua nhà My ngồi đến nửa đêm. Mấy cô nhỏ Gia Long, Trưng Vương cùng xóm, rỉ tai nhau kéo qua nhà My nghe lén "nhạc vàng". Ngày đó anh thường hay kêu My hát " Một ngày như mọi ngày em trả lại đời tôi. Một ngày như mọi ngày ta nhận lời tình cuối....Những sông trôi âm thầm. Đám rong rêu xếp hàng. Những mặt đường nằm nghiêng. Những mặt người lặng câm..".Bài hát viết lâu rồi mà nghe sao như tâm sự người ở lại. Cúi mặt lầm lũi bước một mình không biết sẽ về đâu?. Người lính biển dường như nhớ biển. Nhớ thời chưa ngã ngựa giống bây giờ. My nghe anh hát mãi, rồi cũng thuộc nằm lòng bài hát thật buồn."Nha Trang ngày về. Mình tôi trên bãi khuya...." Cứ thế rồi Biển nhớ, Trả lại em yêu, Chiều một mình qua phố..."N đàn, My hát" chứ không phải "Sơn đàn, Ly hát", mấy cô nhỏ láng giềng vẫn hay đuà như thế, và quên luôn nổi sợ bị rình mò báo cáo hát nhạc vàng. My nhớ mình đã biết mê nhạc TCS từ hồi còn nhỏ xíu, mỗi khi qua nhà bạn của chị My, nhìn thấy chị ôm đàn mái tóc xoã dài, vừa đàn vừa hát một mình khiến My như quên mất thời gian, không gian ở chung quanh. My nghĩ giá mà TCS được tự do viết nhạc- viết bằng trái tim, bằng sự cảm nhận có thật không che đậy khi làm người ở lại, thì bây giờ đã để lại cho đời thêm nhiều bài hát cuả đoạn đời không dễ gì quên trong nhiều triệu trái tim. Thỉnh thoảng anh rũ My ra phố lang thang, kèm theo câu dặn dò My ơi, chiều nay em có thể mặc áo dài khi ra phố với anh không? My biết không có con đường nào cho anh bước tới gần My. Ngoài hình bóng cũ không mong gì phai nhạt ở trong anh, thì với riêng My chưa có bóng hình nào để My "yêu cho biết sao đêm dài. Cho quen với nồng cay" lúc đó. Một đôi khi anh dừng lại ở số 91 Nguyễn Du, hỏi My đã về chưa, anh chở. Đám bạn My xôn xao hỏi, phải chàng của My không mà lâu nay chẳng hở môi. My cười. Nếu có là đã khoe rồi. Đâu có chuyện quanh năm My cứ tủi thân dù không phải tuổi Thân vì không ai thèm ngó tới. Không phải ! My đang săn sóc thương binh! Nhỏ bạn lắc đầu tỏ vẽ hoài nghi, nói tin cũng khó, mà không tin cũng khó. Bởi vẫn còn những "cột đèn" đứng đợi chờ My trên đường hai đứa về chung. Nếu My đã là của riêng ai thì nhỏ chắc sẽ là người biết rõ hơn ai hết, vì có đâu My vẫn tự nhiên mỉm cười thay một câu chào, rồi cùng nhỏ đạp xe đi tiếp tục.

Nhìn cuộc sống , cuộc đời vui ít khổ nhiều trước mặt, My nghĩ chắc My đã nhập tâm câu kinh nhật tụng của Ba My, sẽ không vương vấn hình bóng nào trong tim hết. Nghĩ thế nhưng My chưa bao giờ hứa, như thói quen My không hề hứa với ai. Có thể làm được điều gì đó cho ai, My luôn cố gắng và lẳng lặng làm. Nhưng có lẽ Ba My cũng khômh trông mong lời hứa, của bầy con gái đang tuổi lớn bị đẩy vào hoàn cảnh thật buồn. Ở lại dường như không được dung chứa. Còn ra đi tương lai có thể là mất hút chìm sâu trong lòng biển cả mênh mông trước khi tìm thấy thiên đường mơ ước như nhiều người vẫn nghĩ. Sau khi dùng đám nhân viên nhiều vô kể như My, chở từng đoàn người đến bất ngờ những hãng xưỡng khắp nơi trong thành phố để kiểm kê tài sản, niêm phong. Lúc đó My mới biết vì đâu họ tuyển dụng nhân viên ồ ạt, đa số là sinh viên không còn tiếp tục đến giảng đường và đám học sinh vừa rời trường trung học, chưa kịp bước vào khuôn viên đại học như My. Nghĩ là chuyện lạ, vì đám nhân viên ăn lương nhà nước mà sao được ưu ái ngồi không, chẳng làm gì hết ngoài việc tập họp, điểm danh trong nhiều tháng. Bây giờ thì bọn My đã hiểu ra. Nhà nước đã âm thầm có kế hoạch gọi là "đánh tư sản mại bản" còn lại sau ngày "giải phóng". My chán ngán và buồn nhiều hơn nữa bởi ngày càng hiểu thêm tình dân tộc, tình người như không còn nhìn thấy ở quanh đây. Thảm họa, tai ương chừng đang rình rập bũa vây. Những ánh mắt hãi hùng, tuyệt vọng và đôi khi hờn oán của những người bị tước đoạt tất cả tài sản và sinh mệnh cũng mong manh bởi bị mang bản án như có sẵn đâu từ tiền kiếp! My nghĩ thà thản nhiên tước đoạt, để người ta lặng lẽ dắt dìu nhau đi thật mau ra khỏi nơi chốn đã tạo nên bằng nước mắt, mồ hôi và đôi khi bằng cả cuộc đời. Tàn nhẫn quá khi cô lập và đối xử như tên tử tù trước giờ ra pháp đình trong thời nào xa xưa cũ. Mấy đứa bạn My được đưa đi quanh vùng Gia Định, còn My là vùng Chợ Lớn, Phú Lâm. Sau mấy tháng kinh hoàng, đen tối đó, bọn My biết số phận của nhiều người giờ đã có rồi. Bị đuổi đi vùng kinh tế mới hay lang thang trú ngụ bất hợp pháp đâu đó trong thành phố. Tệ hơn hết là một vài người đã tự chấm dứt cuộc đời mình. Nơi cuối cùng My đến, cũng là nơi mỗi người dừng lại làm việc luôn vì khắp nơi quanh thành phố không còn ai làm chủ sản nghiệp của mình. My bấy giờ mỗi ngày đạp xe từ Khánh Hội đến Cầu Tre. Dù có thể đỗ xăng, đi làm bằng chiếc PC nhẹ nhàng như sức vóc của mình, nhưng My không dám dùng thường, bởi với đồng lương chết đói, có thể My sẽ bị thắc mắc, bị xếp vào hàng con nhà tư sản thì càng thêm khó sống. Nhờ đạp xe và cũng nhờ mỗi buổi trưa vào lúc giờ cơm, My đóng cửa phòng lại leo lên bàn làm việc, nằm chợp mắt bỏ quên đời, cho nên My càng ngày càng ốm trơ xương. Mẹ vẫn nấu cho gia đình những bữa ăn tươm tất hằng ngày, nhưng My không mang theo gì hết sau khi chứng kiến những người công nhân trong hãng ngày mỗi ngày được chế độ ưu ái lo cho những bữa ăn. Là mì sợi, là bo bo thay cho cơm nhiều bữa. Là vài cọng rau lễnh lãng làm canh. Mỗi tháng có một , hai ngày trong bữa cơm có thịt. Là những lát thịt hiếm hoi gọi là bồi dưỡng súc khoẻ của nhân viên. My có lúc cũng tò mò, bảo một cô nhỏ nhân viên trong hãng cho My nhai thử cơm độn bo bo mùi vị ra sao. Giám đốc cũa My là một ông cán bộ, đã lầm đường lạc lối vì lòng yêu nước bị lợi dụng thuở chống giặc Tây. Khi biết My có người ông ngoại cũng một xuồng lạc lối, và nhất là cùng quê ngoại với ông, My trở thành "con gái cưng giám đốc", như đám đồng nghiệp của My vẫn nói sau lưng. My trẻ nhất đã đành. Không son phấn, không làm dáng, lại nhanh tay thảo công văn, thư từ giao dịch khắp nơi, làm thay phần việc của ông cán bộ đảng viên vừa nói ngọng cả luôn "viết ngọng". Công việc của My nhàn hạ, là tuyển dụng nhân viên dựa trên lý lịch của người xin việc. My thường lướt đọc nhanh và chọn thật nhanh. Có lần giám đốc hỏi My rằng, My chọn sao toàn là thành phần không bảo đảm cho an ninh nhà nước. My vờ hỏi lại và kêu ông giải thích vì sao? Thì là thành phần "lính ngụy", là đám sinh viên con nhà tư sản, có tư tưởng bất mãn đó thôi. My cười nói rằng My chiụ thua sẽ không thể nhận ai, vì những người ở lại hầu hết đã ra chợ trời hay đi vùng kinh tế mới. Đáng lẽ ông phải mừng và tạo cơ hội cho những người có lòng muốn làm nhân viên nhà nước với đồng lương không đủ sống này đây. Tuy nói thế nhưng My không gặp trở ngại gì khi tuyển toàn "phe ta" trong ý nghĩ lặng thầm. My đôi khi còn loáng thoáng nghe các anh chị làm chung gọi đùa My là "giám xúi", chỉ đứng sau giám đốc mà thôi. My có cơ hội âm thầm giúp được nhiều người. Đó là những tờ giấy phép không phải thật, mà My tự đóng dấu, ký tên cán bộ trưởng phòng, lặng lẽ rao tay cho những người sắp sữa vượt biên. Lẽ giản dị, nếu không có tờ giấy nghỉ phép về thăm gia đình thì sẽ khó lòng qua trạm kiểm soát của những vùng ven biển. My còn có bổn phận nữa là gởi báo cáo về công an phường, cho họ biết nhân viên nào vắng mặt không có lý do 3 ngày, vì coi như là tình nghi đã vượt biên. Những tờ công văn có sẵn, My chi ghi tên và địa chỉ , dán tem để gởi đi. My thường là không gởi, hay chỉ gởi khi nào nhận được tin mừng "phe ta" đã bình yên thoát khỏi thiên đường XHCN rồi! Có lẽ nhờ vậy mà người đi hụt bao lần vẫn được bình yên quay lại cuộc sống tối tăm như cũ. Khai đủ thứ lý do, vì chưa bị CA phưòng bắt thì coi như tin được. My làm sao biết được dường như My đã đến, đã có mặt ở chỗ này, chỉ để gặp người có duyên mà không nợ với My. Xin vào làm để có điểm tựa tạm yên lành, để miệt mài tìm đường vượt thoát sau bao lần thất bại, đó là nguyên do khiến xui hai đứa gặp nhau.

My bắt đầu vật vã, ngày càng gầy guộc xanh xao vì không đếm hết những lần từ biệt vội vàng. Đã biết trước cuộc tình bắt đầu trong nổi bấp bênh và đầy bất trắc của tương lai, cả hai cùng cố tránh nhưng Saigon buồn quá đổi, có gì đâu nữa ngoài những tấm lòng nghĩ về nhau và cùng đau xót cho nhau trong nghiệt ngã thương đau. My vẫn còn có những buổi chiều tay trong tay mà ngỡ như xa, trên con đường Duy Tân cây dài bóng mát một thời. Ly nước dừa ngọt ngào trước mặt đôi khi có pha thêm vài giọt nước mắt của My bỗng đâu rớt xuống, khi nghe tin đêm nay người ra biển một mình. Một đôi khi My bàng hoàng vì tiếng gỏ cửa trong đêm. My mở vội cánh cửa để nhìn thấy cái dáng thân quen sừng sững hiện ra trong bóng tối của những đêm cúp điện. Khuya nay anh đi rồi, chỉ kịp ghé qua đây để chào ba mẹ và em...Đó là điệp khúc mà My nghe thường lắm. Sau vòng tay ôm vội vã và cái vuốt tóc nhẹ nhàng, dặn dò My cố gắng đừng làm mẹ buồn hơn nưã khi nhìn thấy My vật vã hao gầy . Có lẽ vì My quá nặng lòng, cho nên lần giả từ nào cũng chưa phải là lần cuối. Biết đâu tuần sau anh lại trở về nắm tay My lang thang khắp Saigon như hai đứa từng lang thang không biết đời sẽ về đâu mấy năm nay. My đứng tựa vào cánh cửa, nhìn chiếc bóng người My thương khuất dần nơi đầu ngỏ tối mờ. My chỉ còn biết chùi nhanh giòng nước mắt. Không muốn khóc mà sao nước mắt cứ tràn ra. My cầu nguyện sóng yên , gió lặng cho người đi ra biển bình yên tới bến bờ xa. Nhưng sao tận sâu thẳm trong lòng, My vẫn còn mong có lần nhìn thấy người sừng sững hiện ra nơi đầu con dốc đường Công Hòa mà My vẫn về ngang qua đó mỗi ngày.

Có lẽ không cam tâm nhìn My sầu khổ héo hon. Ngưòi cha già đầy nghiêm khắc ngày nào đã lẳng lặng gật đầu cho My và đứa em gái kế cùng theo chàng trong chuyến ra khơi không biết là lần thứ bao nhiêu. My đã đi và My trở lại. Chuyến đi thất bại coi như mất trắng mà không kết quả chi. My nhớ khi nhìn hai chị em My trở lại nhà, mẹ My như được hồi sinh. Những giọt nước mắt mừng vui vì còn gặp lại con, khiến My đau xót cảm nghe như mình mang tội lớn. Sao có thể đành lòng bỏ mẹ mà đi? My thầm nhũ sẽ không bao giờ nữa, My làm cho mẹ buồn thêm khi chỉ nghĩ đến My và hạnh phúc riêng. Thôi có lẽ My đành tiếp tục, mỗi ngày nhìn cuộc sống trôi qua trong ảm đạm buồn tênh. Hình ảnh những người xếp hàng dài bán máu đổi cơm , là hình ảnh làm lòng My quặn lại trong từng buổi sáng đạp xe qua con đường Hùng Vương quen thuộc. Một lần cũng chính trên đoạn đường này, My ghé lại để tìm thăm một người đang dưỡng bệnh trong bệnh viện lao Hồng Bàng. Người My thăm chính là người thương còn ở lại của anh My, ngưòi anh như gió đã bay đi mất dấu.

Biết mẹ cha đã vì tình thương con vô bờ bến, mà không bịn rịn níu kéo con ở lại giống ngày naò. Người anh lớn của My sau khi lập gia đình, vẫn không thể nào cam tâm ở lại một nơi mà cột đèn cũng mơ có chân đi! Anh quyết định đem chị và đứa con gái nhỏ mới 18 tháng, âm thầm dò đường rời khỏi quê hương. Mẹ biết cuối cùng là như vậy, bởi trong thâm tâm anh có bao giờ muốn giam hãm cuộc đời vô vị, sống mà như đã chết tận bên trong, có mắt mà chẳng muốn nhìn, có nhiều lời để nói mà quanh năm yên lặng. Ngó chung quanh thấy người thân lẫn không thân cơ cực, lầm than mặc dù anh may mắn giữ được gia đình không đến nổi nào. Đứa cháu nhỏ đã bị mẹ cho uống liều thuốc ngủ, để không có tiếng khóc trẻ thơ trên dặm đường ra biển gian nan. Cả ba mẹ và anh em còn lại của My, như hụt hẫng muốn buông trôi tất cả trong những ngày anh chị ra khơi với đứa con thơ. Ngưòi anh cao cả của My, bao giờ cũng muốn đưa vai ra hứng trọn những mưa nắng cuộc đời, để dọn đường cho ba mẹ và các em ở mai sau. Cuối cùng nởi khắc khoải chờ mong chấm dứt, vào một buổi chiều cả nhà nhận điện tín từ người chị xa xôi bên Mỹ của My, báo tin những đứa con xa của ba mẹ đã biết được tin nhau . Sau đó là lá thư anh viết, kể chuyện chuyến đi không nghĩ sẽ đến nơi vì quá nhiều bất trắc, tai ương. Đói khát, hết xăng và máy tàu hư...Hơn nửa năm sau anh qua Mỹ. Lá thư đầu tiên gởi về là những lời tha thiết dặn dò My. Anh muốn My phải hứa không bao giờ tìm cách ra đi giống như anh. Người chị ở Mỹ từ lâu đang hoàn thành thủ tục để bảo lãnh cả gia đình cùng chính thức ra đi. My vẫn còn hy vọng dù có phải đợi chờ nhiều năm nữa. Anh sợ My sẽ chìm sâu trong lòng biển cả, sợ My sẽ trở thành nạn nhân của hải tặc Thái Lan như anh đã từng gặp những người con gái trạc tuổi em mình, còn sống mà chừng như đã chết trên vùng đảo tạm dừng, chờ đợi định cư nơi vùng đất mới.

Một buổi tối không có điện, bé Ngọc - "cô bắc kỳ nho nhỏ" mà cả nhà My xem như một người thân chợt ghé qua. Bé Ngọc là bạn học của đứa em gái kế, có giọng nói líu lo giống như chim. Mỗi lúc bé tới chơi và cất tiếng chào, tất cả mọi người đều tức khắc quay mặt lại nhìn cô bé vì giọng nói rộn ràng và rất đổi dễ thương này. Lần này sau câu chào bé Ngọc lặng lẽ tới ôm vai mẹ cuả My, mắt rưng rưng nói con tới chào từ biệt gia đình lần cuối. Mai con sẽ vượt biên. Mẹ My thẩn thờ như nghe tin dữ, bởi làm sao có thể an lòng khi nghĩ đến bao nhiêu thảm nạn, tai ương ở biển khơi. Bé Ngọc mồ côi mẹ sớm. Bố là nhà baó, là phóng viên chiến trường đang bị tù đày. Nhà chỉ có 3 chị em gái hẩm hiu đùm bọc cùng nhau. Chị Kim là chị lớn đã từ cô sinh viên rạng rỡ, yêu đời , bỏ lớp, bỏ trường ra bán thuốc tây ở chợ trời để thay cha nuôi nấng các em. Bé Ngọc cho biết người bạn chị Kim tổ chức vượt biên và được dành cho 2 chỗ trên tàu. Người bạn dành chỗ còn lại cho một trong ba chị em bé Ngọc. Chị Kim chọn ngay bé Ngọc, vì cô bé cứng cỏi, thông minh và sau hết cũng vì tình thương dành cho đứa em sớm mồ côi, mong em có tương lai ở nước tạm dung. Mẹ ôm bé Ngọc như vỗ về đứa con gái nhỏ, trước lúc ra đi may ít, rủi nhiều. Rồi dúi vào bàn tay nhỏ nhắn gầy gò, những đồng tiền đô mà mẹ luôn có sẵn, dành làm lộ phí kèm theo câu dặn dò con giữ để có xài trong thời gian vừa tới đảo, cũng như để gởi điện tín về liền khi tới bến bình yên. Bé Ngọc khởi hành từ sông Saigon và bình yên tới đảo qua tờ điện tín em gởi về sau đó. Những lá thư được gởi về từ bên đảo cuả bé Ngọc vô cùng đều đặn . Sau đó thưa dần, cho đến một ngày. Lá thư cuối cùng nhận được, là lá thư mang tin dữ của một người xa lạ. Bé Ngọc đã tự chấm dứt cuộc sống của em rồi, cùng với bào thai đã lớn trong em. Xác bé được chôn cất sơ sài ngay trên đảo, sau gần một năm em sống ở đây. Nổi đau này làm sao tả xiết. Chị Kim như chết lần thứ hai sau lần người mẹ trẻ sớm ra đi bỏ lại ba đứa con gái bơ vơ. Chị cùng bà ngoại và em gái đem gởi bé Ngọc vào chùa. Tội cho bà ngoại già còn sống, đau xót nhìn trên bàn thờ hai bức ảnh của con và cháu cạnh nhau. Khi sang tới Mỹ, hai chị em My cũng mang gởi hình bé Ngọc trong chùa, mỗi năm cúng giỗ và nguyện cầu cho em siêu thoát. My thường chảy nước mắt ra mỗi lúc vào chùa tới thắp nhang, nhìn tấm hình cô Bắc kỳ nho nhỏ ngày xưa, với mái tóc thật ngắn và nụ cười rạng rỡ của năm 17 tuổi. Khi em gái My có đứa con gái đầu tiên cũng là đứa con duy nhất, em lấy tên bé Ngọc ghép vào tên con gái của mình.

Bố bé Ngọc trở về với tấm thân tàn tạ sau mấy năm đi cải tạo xa xôi. Người đàn ông luống tuổi lần đầu biết khóc, đã gào to lên mong thấu tận trời xanh, khi nhìn thấy trên bàn thờ có thêm tấm ảnh đứa con gái út yêu thương bên cạnh tấm ảnh thờ người vợ đã lìa đời quá sớm. Những ngày sau đó bố bé Ngọc tìm sang nhà My lần đầu tiên. Ông tự giới thiệu là người cha bất hạnh, xin được gọi ba mẹ My bằng anh hai với chị hai, giống như người dì của My đã gọi. Ông bày tỏ lòng biết ơn trước tình thương mà ba mẹ và gia đình My đã dành cho con gái trong thời gian ông bị cảnh lao tù không biết có ngày về. Bố bé Ngọc mong được ba mẹ My xem ông như một người em. Từ đó thỉnh thoảng ông ghé lại, mẹ My nhìn thân xác ngày một tàn tạ, hao gầy của ông lòng ngập xót xa. Giống như người chị xót em mình, mẹ thường lặng lẽ dúi tiền vào túi áo sơ mi cũ kỹ , nói để mua thuốc hút. Ông bắt đầu uống rượu nhiều hơn. Không những hút thuốc mà ông còn quay trở lại bàn đèn - căn bệnh có sẵn thời làm báo, tưởng đã dứt hẳn lâu rồi trong thời gian cải tạo mấy năm. Dù biết nổi đau đã quật ông ngã xuống vũng lầy, nhưng mẹ không đành lòng làm ngơ dù biết mình đang vô tình tiếp tay tàn phá đời ông. Rồi một ngày cả nhà My bàng hoàng, nghe tin dữ, thêm một cái tang phũ xuống trong gia đình bé Ngọc. Người bố tội nghiệp của em đã quyên sinh , bằng sợi dây oan nghiệt - như cuộc đời lắm nghiệt oan của riêng ông với các con.

Khi nghe hỏi "Saigon bây giờ trời mưa hay nắng?" Người ở lại như My biết trả lời sao? Có chăng là câu hát buồn này "Saigon ơi! Ta mất người như người đã mất tên. Như mộ bia đá lạnh hương nguyền. Như trời xanh đã bỏ đất liền. Còn gì đâu!...". Vẫn đất này, trời nọ. Mà sao My quá bơ vơ ở nơi đây. Người My thương với lần đi không kịp giả từ, đã xa My mãi mãi không bao giờ gặp lại, sau 6 năm buồn bã qua đi, nước mắt nhiều hơn những nụ cười héo hắt, u sầu.. Với người anh thân thiết ngày xưa, My đành chọn cách lặng yên khi nhận những lá thư anh viết thưa dần theo năm tháng. My làm sao có thể líu lo như chim sáo ở cạnh anh. Làm sao My dám kể chuyện của Saigon . Thôi thì cứ để anh ra đi mang theo một quê hương- là quê hương thật đẹp của những tháng ngày hoa mộng. Dẫu nổi tiếc nhớ, ngậm ngùi có trộn lẫn nhiều đau xót, trước những phân ly làm lạc mất đời nhau. Nhưng thời hoa mộng cũ, những con đường như còn in dấu chân qua, những hàng cây bóng mát êm đềm , những tà áo quấn quýt dập dìu thời hoa bướm...My không có diễm phúc được làm người cất giữ, những yêu dấu êm đềm như giòng sông có con nước phẳng lờ trôi. Tuổi của My như nụ hoa chưa kịp hé , đã héo rũ trong cuồng nộ phong ba với bao thảm cảnh vây quanh. Tường Vi cũng khép lại chuyện tình buồn sau 5 năm tình lận đận chẳng về đâu. Chuyến ra khơi bình yên đưa Vi về đất Úc, không là nơi mơ ước của Vi. Vi lấy chồng và vẫn tiếp tục với đêm dài. Không phải đêm dài như khi vừa biết yêu đã biết sợ xa nhau. Hai đường sắt song song không có điểm gặp nhau. Người mẹ trẻ lau nước mắt để dạy con biết mỉm cười với mọi người, với cuộc đời. Mấy mươi năm chôn chặt tình xưa. Người mẹ trẻ giờ thành người mẹ ngậm ngùi, hỏi tóc có còn xanh? My đã có lần ôm phone mà khóc, khi nghe Tường Vi kể chuyện lần về VN gặp lại người anh mắt nâu xưa. Vi đã chạy trốn như lần lánh mặt, lau nước mắt ra đi vì sợ yếu lòng trong giờ sắp sửa khởi hành. Dẫu biết hạnh phúc chỉ là ảo ảnh, nhưng My ơi nếu là My My sẽ phải làm sao? Người anh mắt nâu đã gẫy đỗ một lần và làm kẻ độc hành. Còn Vi sống cho qua hết một đời buồn như Vi thầm nhũ từ lâu. My có biết là Vi như người đang vượt sóng, cố gắng lao đi không cho giòng nước cuốn trôi. Ôi hạnh phúc riêng và mối tình xưa, cuối cùng vẫn không thắng nổi ý tưởng mình là người bất hạnh, cho nên làm sao nếm được mùi vị của ấm êm, hạnh phúc hở My? Vi nuốt nước mắt, chọn con đường xa nhau mãi, như ngày xưa Vi đã chọn vậy thôi

Tám năm dài ở lại, Saigon trong My và Saigon trong những người di tản buồn dạo tháng Tư chắc là không giống như nhau, dù có cùng một nơi để nghĩ về, để ngậm ngùi thương nhớ muôn đời. My nhớ năm đầu tiên đón tháng Tư nơi xứ sở lạ xa, My lau nhanh đôi mắt ướt khi nghe câu hát "Thời gian tựa cánh chim bay. Qua dần những tháng cùng ngày. Còn đâu mùa cũ yên vui. Nhớ nhung biết bao giờ nguôi..." Nhiều rất nhiều người còn có mùa cũ yên vui để nhớ. Còn My, My có gì đâu ngoài những tháng năm chợt lớn lên để cùng đau nổi đau chung của một quê hương vẫn chưa xa nhưng như đã mất từ lâu. Thật lòng My không hối tiếc điều gì. My thầm nghĩ không có điều gì tự nhiên đưa đến trong đời, mà là những nhân và duyên có sẵn từ lâu. My ở lại để càng thấy thưong hơn người chung giòng máu, màu da. My ra đi để thấu hiểu thêm nổi lòng người xa xứ, lạc loài.

Đêm nay, My ngồi đây nhắc chuyện xa xưa. Có một chỗ ngồi bị bỏ trống nơi khuôn viên siêu thị lớn- là nơi My có mặt mỗi năm để nghe nhắc nhỡ, để nhìn lại những hình ảnh đau thương cuả những người cùng có một quê hương quá đau khổ, lầm than. My đã hiểu My có chung công nghiệp, với người Việt nam máu dỏ, da vàng. Cho nên My không còn đôi khi thẩn thờ hỏi riêng mình: vì sao My có mặt ở nơi đây?

Quỳnh My
30 năm, ngày cuối tháng Tư