Sunday, October 30, 2005

Ngày cuối tháng Mười

"Tháng Mười chưa cười đã tối". Tháng Mười bóng tối kéo về nhanh hơn, khi đồng hồ được vặn lui lại một giờ. Dù sao, sáng nay My có quyền lười biếng, không dậy vội vàng khi bóng tối còn vây quanh. Thôi thì hãy vui với buổi sáng chẳng tất bật chạy theo kim giờ trên chiếc đồng hồ, để không nghĩ tới những chiều vội tối, như đi sáng- về đêm trong chừng đó giờ, làm việc.

Tháng Mười, sau cơn bão đi qua để lại riêng My những cơn gió đời thổi mạnh. Việc làm an nhàn bên cạnh toàn người dễ mến, dễ thương đã trở thành quá khứ. My chật vật với những ngày nắng mưa nhòa lang thang dong ruỗi. Để rồi nhìn ngày của tháng Mười ngắn, ngắn hơn, bên giờ làm mới của My dài hơn. "đừng để Blog héo khô, tàn tạ,cho đến khi em tưới tẩm, nâng niu chãm sóc lại thì cũng muộn màng rồi. Làm sao vực dậy, ban sự sống cho thân cây đã mục rã tự bên trong..". Biết thế, vẫn đành như thế. My không khô héo, lụi tàn là may! Mỗi buổi sáng không còn nhàn nhã, pha ly cà phê nóng đầu ngày, ngồi, viết, đọc thảnh thơi. Buổi trưa không còn ngồi lặng lẽ một mình, nghe nhạc, thiền hay viết một vài đoạn ngắn. Đoạn đường đi về của My hai buổi cũng kéo xa hơn. My đếm được 17 ngọn đèn ở mỗi ngã đường. Đã thử đi thêm hai con đường khác, nhưng không đường nào rút ngắn lại thời gian. My chọn đi "đường làng", vừa đi vừa đếm những ngọn đèn, tựa như vài người My biết dù bao năm sống ở hải ngoại vẫn chưa lần nào dám lái xe ra xa lộ. HH nghe My kể đã cười. Thong dong như My mà cũng muốn đi nhanh nữa sao? Nghĩ tới đêm về vội khi My ra khỏi nơi làm và hai đứa trẻ vẫn đợi mẹ về lo bữa tối làm sao không vội.

Cũng tháng Mười, gia đình cậu mợ dọn đi qua nơi ở mới. Không xa nhưng My cảm nghe như trống vắng nhiều. Căn nhà quen My thường đi bộ tới, và lái xe ngang mỗi buổi đi về suốt nhiều năm, bây giờ trở thành dĩ vãng. Những khuôn mặt lạ sẽ làm đầy căn nhà cũ. My không còn bao giờ ghé lại để mang cho mợ những món ăn mẹ nấu gởi cầm về. Hàn huyên với mợ và những cô em gái, chuyện đạo, chuyện đời trong cuộc sống hằng ngày. Những loại hoa bốn mùa thay nhau khoe sắc, chắc cũng sẽ theo về nơi mới của mợ từ đây. Sẽ không còn nghe tiếng chuông cửa gọi My vào sáng sớm, vào giờ My có thể mời mợ cùng ngồi uống ly cà phê pha vội cho hai mợ cháu trước lúc đi làm, để nghe Mợ nói một vài điều vướng mắc trong lòng, hay hỏi thăm mẹ và từng người thân của gia đình. Một đôi khi mợ tìm sang để check email, khi máy ở nhà bị trục trặc. Còn nhiều lắm những buổi sáng My ghé, ngồi ngắm hoa và trái mợ trồng ở vườn nhà. Một đóa hoa vừa nở, một chồi non từ nhánh ngắn mợ cắt và ươm thành cây con...My được chỉ cho xem và được một phần từ những chăm sóc, nâng niu đó. Đôi khi mợ còn mang qua trồng xuống cho My những cội hoa, vì biết My ngại làm nặng. Bên dãy hàng rào ở khu thương mại VN, có hàng cây palm lớn nhanh, là những cây palm mợ ươm từ hạt khô rụng xuống tặng My. Cội hoa vàng My không biết tên gì, cho những chùm rực rỡ bằng những cánh hoa mai ghép lại trước sân nhà My mỗi độ thu về, cũng là những cội hoa mợ lượm hột ở sân chùa, về uơm chờ cây lớn mang sang trồng xuống cho My. Hoa ở khắp nơi và nhìn đâu đâu My cũng thấy bóng dáng của mợ quanh My. Không dưng mà cảm thấy buồn khi mợ báo tin dọn đi qua nơi khác.

Chủ nhật rồi My đi bộ lang thang qua nhà mợ. Cánh cửa bên hiên nhà vẫn mở như tự thuở nào giờ. Giàn hoa ti gôn vẫn tươi thắm một màu. Những cánh hoa tim nhỏ xíu nở từng chùm mong manh đẹp kiêu sa. My chụp vội vài tấm hình trước khi hoa tàn, và người lạ sẽ có mặt trưóc khi mùa Thu hết. Dưới giàn hoa ti gôn mát rượi bên hiên nhà mợ, My còn nhìn thấy những ly và phê đã khô, cạnh chiếc băng dài My thường ngồi. Mợ có lẽ lo dọn vội vã bên trong, nên còn để lại dấu tích khiến My gợi nhớ. Mợ đi rồi, giàn hoa ti gôn chỉ còn là kỷ niệm. Băng ghế dài và chỗ ngồi quen thuộc sẽ không bao giờ còn có My hiện diện. Tấm hình chụp hoa ti gôn sẽ gởi cho người anh xa ngắm. My lặng lẽ đi về duy nhất một lần không gặp người nào.

Tháng Mười hết, con trai theo hỏi. Mẹ ơi, mình sẽ đi đâu bữa hôm nay? Đi thăm bà ngoại rồi mẹ có đi mua kẹo hay không? My nhìn con lắc đầu. Mai mẹ về muộn chắc không kịp mở cửa ra cho kẹo đám trẻ con giống mọi năm. Con trai nhìn My thất vọng. Rồi mẹ cũng không dắt con xin kẹo nữa sao? Nhìn mắt con ngó xuống buồn hiu. My bảo con nói bố ráng về sớm may ra kịp. My không nhớ đã có bao nhiêu lần dẫn con đi vòng quanh khu xóm. Năm dẫn con đi lần đầu, nhiều người lầm tưởng là My cùng đi kiếm kẹo với em trai, bảo My sao không bước lại gần hơn đưa giỏ kẹo ra cho họ bỏ vô. My cười, nói chỉ cần cho con trai là đủ. Khi con trai lớn chưa kịp chán ngày Halloween theo tuổi lớn, My tiếp tục mỗi năm dẫn đứa em đi. Nhìn kẹo ê hề sau một vòng đi qua khu xóm quanh nhà, rồi sau đó phần nhiều là đem bỏ vì ngại chẳng an toàn khi ăn, chợt nhớ thời tuổi nhỏ và thương cho những đứa trẻ nơi quê nghèo bên đó. Mẹ ơi, nhiều kẹo ngon con thích. Không phải kẹo rời mà từng thỏi nhỏ riêng. Mẹ cho con giữ lại, đừng quăng nha mẹ! My không hiểu mọi người đã tiêu biết bao nhiêu cho lễ hội này. Quần aó hoá trang, kẹo và đồ dùng trang trí trong ngoài những ngôi nhà. Chưa kể tiệc tùng cho ngưòi lớn rủ nhau vui ké...Nhìn kẹo bày bán ê hề và được tiêu thụ gần như ít khi ế ẩm, My chợt thấy vô lý làm sao vì mua về để cho đi, như trao tặng chút niềm vui trong khoảnh khắc thôi, vì ngưòi nhận rồi đem vứt bỏ.

My đang cười nhận ra My lẩn thẩn nhiều. Sống bao năm nơi xứ người sao còn bơi ngược giòng. Không thấy My đã từng dừng lại trước sân nhà thờ trên con đường có cây cao bóng mát êm đềm. Cũng chỉ để chụp vội tấm hình những trái bí ngập đầy sân, trong một buổi sáng tình cờ ngang qua từ tháng trước.

Quỳnh My

Saturday, October 08, 2005

Tìm nhau

Đêm khó ngủ, có lẽ vì My ăn tối muộn. My chợt nghĩ về Tường Vi. Quá nửa đêm ở bên này mà ở nơi kia, chỗ Vi ở, là chiều dần đến. Cách nhau 15 múi giờ vẫn là khoảnh nhớ của không gian đùa dai. My không giật mình khi thỉnh thoảng nhận phone của nửa đêm về sáng từ Vi. Đang buổi chiều bên kia, vậy mà Vi thảng thốt. Trời ơi, My làm Vi mừng đứng tim luôn, vì đang lo, lo không biết My về đâu trong cơn bão. Vi vừa định gọi thì bất ngờ nghe tiếng của My, hỏi làm sao không khỏi rộn vui.

Xa nhau hơn 23 năm. Hai trẻ xưa giờ là hai bà mẹ, với nhiều trăn trở về con. Ngày thơ, tình thơ đã thành chuyện cổ tích, phủ nhiều lớp bụi mờ. Chỉ hai đứa hiểu, người cùng đi bên cạnh cuộc đời dường như không đủ thời giờ, hay dường như không sót lại những cố gắng; để hiểu. Qua câu tình cờ gợi lại, chợt nhận ra nỗi trùng hợp, bởi cả hai cùng vướng vào oan khiên, khó giải thích được bằng lời. "Đời con gái, cũng cần dĩ vãng, mà tôi em chỉ còn ..." Vi ơi, dĩ vãng của riêng hai đứa mình là trời xanh, mây trắng. Là những ước mơ và gìn giữ cho mai sau, dẫu đời chưa biết về đâu. Ai bảo mình như trang sách. Mở ra cho tha nhân đọc. Chuyện tình khép, thật sự khép sau khi đời qua bến lạ. Hai đứa chống, hai đứa chèo, hai đứa mỏi sức, mòn hơi trên giòng nước ngược. Cách nào để nói những điều không dễ?. Mà cũng không có sẵn ngôn từ dành cho những người trong cảnh huống giống tụi mình. My thương Vi đời như chiếc lá, cuốn xoay trong cơn gió nghiệp giống My. Thật ra, My không khốn đốn, bận lòng nhiều. Hãy nghĩ mình vẫn như mây trắng, lúc hợp lúc tan trong khoảng không gian lồng lộng. Mặt trời đôi khi sẽ bị mây che khuất nhưng mây trắng vẫn có đó và sẽ còn bay mãi cho dù trời làm giông bão.

My có "bùa hộ mạng" là pháp Phật. Thương cho Vi khép kín, sống thầm nơi tỉnh nhỏ xa xôi của xứ tạm dung. Phải chi hai đứa về gần nhau, My sẽ nắm tay Vi cùng bước vào cửa đạo. Đừng để hai đứa con "giành" độc quyền hai máy. Đừng nghĩ Vi không có chút thời giờ cho riêng mình. Làm việc, làm vợ và làm mẹ... không chỉ riêng hai đứa mình bận rộn vậy đâu. Chưa kể trong thời khóa biểu hằng tuần, hai đứa không hề có khoảng giờ nào dành cho việc giải trí, cho bạn bè. Hãy nhớ giữ cho riêng Vi một khoảng không gian. Ở đó chắc chắn không có bóng dáng một khuôn mặt lạ. Như hai đứa mình đã đồng ý với nhau trong nửa đêm về sáng vừa rồi.

Con tim đã khép, không có nhịp đập nào đi lạc, dù hạnh phúc từ lâu vẫn là hư ảo, mong manh; không nhìn thấy, không nắm bắt. Vi làm My vui lẫn ngạc nhiên, khi nói ra ý nghĩ : Nếu như được làm thêm lần chọn lựa, Vi chọn có trong đời một tri kỷ, đủ rồi. Không xôn xao mê đắm yêu thương, để bám, để sợ mất và đòi hỏi được thương yêu đáp lại. Rồi thất vọng, buồn đau theo những tháng của năm... Mừng cho Vi đã thoát ra vòng tham đắm, yêu mê. My ước gì Vi mạnh dạn bước vào ngôi nhà Phật pháp, để thấy đoạn đường đời còn lại mình không bước đi như kẻ mộng du, chẳng biết về đâu. Sống cho qua hết đời chỉ vì con, nghe sao buồn quá. Con rồi lớn, rồi có đời riêng. Chưa kể kéo theo những khổ đau, hạnh phúc; nước mắt và tiếng cười khiến lòng người làm mẹ tơi bời, giống như mẹ của tụi mình. My muốn nhắc Vi chút này thôi. Mình tưới nước, bón phân, cần mẫn, siêng năng lên hạt giống là con. Nhắc nhở, dạy dỗ, dìu con đứng dậy khi vấp ngã, nhưng ráng đừng để bị ngã theo dù hạt giống có trổ hoa rồi đơm trái hay không? Tất cả đều là nghiệp, là duyên trùng trùng bất tận. Phải có duyên và nợ buộc ràng sẵn tự xưa rồi cho nên mới có nhau trong cõi tạm. Cuộc sống, cuộc đời còn lại, sẽ có ý nghĩa hơn, giúp mình khao khát sống, bớt buồn chán bi quan hơn khi biết đâu là mục đích, là điểm cuối cùng để dựa lấy tìm về.

Nghe Vi hẹn có thể sang năm mình gặp nhau, My mừng lắm. Đừng đợi cho đến lúc tạng mặt nhau bạn hiền xưa mới "thực tập" theo những chuyển đổi từ My . Dù hai đứa ở xa, My vẫn nghĩ có nhiều cách để chung đường. Chỉ cần Vi đừng để phai giòng mực địa chỉ email của My là được. Ngày đó thư viết bằng nét chữ lên trên mặt giấy, vậy mà hai đứa không để lạc nhau trong khoảng thời gian dài. Tại sao ngày nay chỉ vài phút là đọc được nhau, cũng như có cơ hội học và nghe nhiều điều rất đổi diệu kỳ, Vi còn e dè gì nữa mà lòng vòng, thơ thẩn? Đừng buông một tiếng than "tóc ngày xưa" chẳng còn xanh! Rồi lại hỏi My vì sao lại thong dong, cứ mãi cười tươi để chàng lo! My thật sự gần như xóa sạch trong cỏi riêng dấu vết ngày xưa. Cho đến khi cơn bão từ xa nhắn gởi lời đe dọa... Thành phố lớn xôn xao, cả nước Mỹ xôn xao và tình người năm xưa cũng lao đao. Những con sóng ào ạt ngày xưa ngoài biển rộng, tự lâu rồi đã trở thành con nước của mặt hồ phẳng lặng, im lìm. My nghĩ vậy, những người năm xưa chắc đều nghĩ vậy. Nhưng dường như bão dậy trong lòng những trái tim còn thổn thức dẫu già nua. Nhiều bóng dáng đã chôn vùi trong quá khứ, bỗng sừng sững hiện về đâu đó quanh My.

Những ngày Mẹ tránh bão nơi nhà em gái, là những ngày Mẹ thẩn thờ nghe lời băn khoăn lo lắng của nhiều người. Từ VN, từ xứ sở xa xôi Vi đang sống, không kể từ trên khắp nước Mỹ này. My thương Mẹ đã giật mình khi nghe lại những cái tên xưa. Không giấu nỗi xúc động. Mẹ mộc mạc, đơn sơ, trách nhẹ hỏi vì đâu suốt mấy mươi năm không lần lên tiếng hỏi han. My biết mẹ không nghĩ gì khi ấy, ngoài một trái tim đầy ắp thương yêu, vì mẹ vốn thương yêu luôn cả những đứa con rễ, làm người đi bên cạnh cuộc đời hoài điêu đứng, gian nan. Chỉ có vậy, không thêm lời nào riêng cho My hết, ngoài lời nhắn từ người mà thuở xưa từng mơ làm em rễ của My. "Con thương chị My, mãi mãi vẫn thương. Suốt đời con không bao giờ quên đuợc chị cho dù chỉ may mắn được có chị trong khoảng thời gian ngày đó ở bên nhà".

My không liên lạc, không lên tiếng một lần nào trong suốt mấy mươi năm đằng đẵng. Người trai trẻ giờ đã là cha, vẫn nói tự nhiên những lời thương nhớ chân thành. My an lòng với một nụ cười. Mừng cho đứa em xưa vẫn sống chân thật, nghĩ sao nói vậy, không e ngại, đắn đo. Còn nữa, những lo âu, khắc khoải, cầu mong từ những tình thân My có quanh đây. Tất cả đều lo My "thất lạc", không biết trôi nổi về đâu khi bão tố tàn phá nơi đây.

Ngừng nói chuyện với Vi là 3:45 sáng. My không nghe đồng hồ báo thức hôm nay. Dậy muộn hơn thường lệ, My bắt gặp lá thư gởi cho My để sẵn trên bàn đâu từ bữa tối hôm qua. Tên người gởi là tên một người đàn ông xa lạ. Seatle, Washington là địa chỉ ở bì thư. My ngạc nhiên đọc vội. Vừa xúc động, vừa mỉm cười một mình khi được gọi bằng "anh"- Anh Nguyên Thảo. Chợt biết, đây là một trong những Phật tử Thầy NT bên TVQĐ chuyển tên và đ/c cho My gởi tặng CD Phật pháp. My gởi tới nhiều người, không nhớ chuyện My làm như bệnh và thói quen sẵn có của My. Qua lời thư , người bạn đạo chưa biết mặt đã lo lắng, thành tâm nguyện cầu cho My và cả gia đình được may mắn bình an trong cơn bão dữ thổi qua đây. Cầu nguyện và thiết tha đưọc góp phần chia xẻ, nếu như gia đình My không may trở thành nạn nhân khi cơn bão đi qua. Tình đạo, tình người vẫn hiện diện khắp cùng. My nghĩ phải cầm viết, viết thư trên giấy trắng, để cảm ơn và báo tin My vẫn bình an, bởi My không còn giữ địa chỉ email cũng như không ghi địa chỉ email của My khi gởi tặng CD.

Vi ơi! Đã thấy chưa, một trong những điều nhỏ nhoi bên cuộc sống của My? Đôi khi My ngỡ bạn hiền đã thay cho người bên cạnh, hỏi han My kỹ hơn để có lòng tin My vẫn là My không có "phiêu lưu" trong thế giới ảo mà My góp mặt bấy lâu nay. Tất cả mọi người hiện diện trong cuộc đời mà tự nó đã là hư ảo, mục đích mỗi ngưòi góp mặt nơi đây không ai giống với ai. My tin rằng nếu như Vi vẫn còn muốn học hỏi tìm cầu , một ngày không xa nữa Vi sẽ nhìn thấy rõ chỉ là phương tiện. My đã học để biết rõ chính My trong từng khoảnh khắc, thì có gì đâu Vi phải lo lắng, bất an thay cho người chưa từng gặp hở Vi? Nếu thêm một lần lập lại, có phải rồi hai đứa cũng như nhau chọn làm trang sách mở ra. Dẫu trang sách mở làm người đeo cặp kiếng màu, nhìn thấp thoáng những bóng ma quá khứ, khiến hai đứa mình trở thành "nạn nhân" của dấu hỏi, in đậm nỗi hồ nghi không biết tới bao lâu hay cho đến hết cuộc đời luôn.

Quỳnh My

Wednesday, October 05, 2005

Tình thương

Mở đầu

Tôi bắt đầu đến với Ðạo Phật vào lúc 15 tuổi, nhân dịp lên chùa làm lễ cầu siêu cho ông nội tôi. Rồi từ đó tôi mua sách Phật đọc thường xuyên và thấy thấm thía làm sao. Năm 23 tuổi vào chùa đi tu, tôi tự nhủ thầm phải làm sao giác ngộ giải thoát ngay trong đời này, cố gắng noi theo gương của chư Tổ thuở xưa. Ôi, sơ tâm vào Ðạo bao giờ cũng ngây thơ và dễ thương. Nhờ đó nên tôi đã hăng say phục vụ chúng sinh (vì phục vụ chúng sinh là cúng dường mười phương chư Phật), hăng say học Ðạo, tranh đua cùng với huynh đệ. Sau một thời gian học những nghi thức cúng kiến, ứng phú căn bản của một Thầy tu cùng những giáo lý phổ thông để có thể hướng dẫn cho Phật tử hàng tuần, tôi vẫn cảm thấy mình còn thiếu nhiều hiểu biết, nên tôi đã lên đảnh lễ Thầy Tổ xin phép rời chùa, rời đại chúng ra đi tầm Sư học Ðạo thêm.

Trong thời gian lang thang tầm Ðạo sống đời du Tăng nay đây mai đó, tôi đã gặp nhiều điều mâu thuẫn và vô lý trong cộng đồng tôn giáo. Từ đó tôi phân vân giữa hai phản ứng: hoặc mặc kệ làm ngơ, mạnh ai nấy sống, khéo tu thì nổi vụng tu thì chìm; hoặc nói lên cảm nghĩ của mình. Năm 1987 trong quyển Thiền Tứ Niệm Xứ tôi đã phát biểu cái nhìn của mình và đã bị một số quý Thầy không ưa. Thấy sự phản ứng đó nên những quyển sách sau tôi viết trong phạm vi dịch thuật hoặc khuyên răn Phật tử cách thức tu hành.

Ở đời có hai hạng người: hạng thứ nhất luôn luôn tìm hiểu và đặt câu hỏi về ý nghĩa của cuộc đời; hạng thứ hai không muốn suy nghĩ gì cả, chỉ muốn sống như những đàn cừu, đi làm, ăn no ngủ kỹ, vui chơi theo dòng đời. Người đời làm sao ta làm vậy.

Hạng thứ nhất rất ít, đó là những nhà cách mạng, tiên tri, giáo chủ, bác học... Hạng thứ hai là đa số quần chúng, từ giàu sang tỷ phú cho đến nghèo hèn ăn xin, từ chủ hãng giám đốc cho tới nhân viên, cu li. Tất cả những người chạy theo tiền bạc, sắc đẹp, danh vọng, tham lam ích kỷ. Không bao giờ tự hỏi tại sao ta sinh ra ở đời, để làm gì, v.v...

Ðức Phật là một nhà cách mạng, ngài đã không thỏa mãn với những giáo điều cổ truyền bà la môn nên đã tự mình tìm ra một Ðạo lý mới. Ngài cũng cách mạng chống lại sự phân chia giai cấp của xã hội Ấn thời bấy giờ.

Trong quá trình lịch sử, nếu ta để ý, bao giờ cũng có những cuộc cách mạng sau một thời gian chìm đắm của nhân loại trong cơn mê ngủ. Nhưng rồi những cuộc cách mạng kia cũng không thoát khỏi luật vô thường, nó chỉ làm cho con người bừng tỉnh một thời gian, thay đổi tư tưởng và lối sống, rồi từ từ chính nó cũng bị đưa vào một lề lối nề nếp khiến cho các thế hệ sau lại tiếp tục chìm đắm trong những truyền thống cổ hủ và bảo thủ.

Trở về cá nhân tôi, từ lúc đến với Ðạo Phật, tôi đã nuôi một lý tưởng giải thoát như bao nhiêu người khác. Ðịnh sau khi tu học một thời gian, sẽ xin phép Bổn Sư đi tìm một nơi thanh vắng nhập thất tịnh tu. Ngày ngày hai thời công phu, trì tụng thêm các kinh khác như Kim Cang, Pháp Hoa, Niết Bàn, v.v... Quyết xa lánh thế tục, tham thiền nhập định để mau giác ngộ. Nhưng trời xui đất khiến làm sao, càng tu lại thấy mình càng dốt, cần phải tham cầu học hỏi thêm, vì có nhiều điều khúc mắc chưa thông làm sao an nhiên tham thiền nhập định hoặc tụng kinh trì chú suốt ngày suốt đêm được. Do đó thay vì ở yên nơi am vắng tịnh tu, tôi lại xách gói đi tầm Sư học Ðạo, khiến cho huynh đệ rủa thầm là tu hành gì mà cứ xách gói đi ta bà, không chịu ở một chỗ tụng niệm như mọi người, không chịu hoằng pháp lợi sinh, xây chùa lập hội, v.v...

Trong lúc làm du Tăng tầm Sư học Ðạo, tôi đã viết vài ba quyển sách chia xẻ kiến thức với bạn đạo. Riêng lần này, tôi không viết theo thứ lớp mạch lạc như những lần trước mà tôi để mặc tư tưởng mình, nhớ điều gì viết điều đó, lẫn lộn hồi ký và giáo lý.

Cũng cần nhắc bạn một điều, xin đừng cho những gì trong đây là chân lý. Vì đến bây giờ, chính tôi cũng không chắc là mình có tu đúng với Ðạo Phật hay không, hay là tu theo Ðạo gì mà tôi chưa biết tên. Xin để bạn đọc đặt tên cho Ðạo này sau khi đọc hết tập sách.

Paris, Tháng 6 năm 1996
Thích Trí siêu
*************************
Tình thương




Như đã nói ở vài trang trước, sau một thời gian đi tu, tim tôi hình như khô cằn lại. Dù hai chữ từ bi tôi vẫn thường đọc, thường nhớ nhưng nó chỉ là khái niệm tri thức. Tôi đã quán chiếu nhiều về tình thương ngay từ lúc còn ở Trung học. Tôi thấy những đôi nam nữ yêu nhau đắm đuối nhưng không lâu bền. Do đó mặc dù tôi cũng có bạn gái hồi còn học lớp 10 (đệ tam) nhưng không dám yêu hết mình vì nếu yêu thật nhiều mà lỡ người kia bỏ mình thì sao? Chắc chắn sẽ khổ nhiều. Thôi thì đành yêu nửa chừng, lỡ người kia có bỏ thì mình cũng chỉ khổ phân nửa thôi.

Lên Ðại Học, tôi thấy các cô gái Việt Nam con nhà nho giáo, thấm nhuần quan niệm môn đăng hộ đối, đi chơi với bạn trai chỉ tìm những người có bằng cấp bác sĩ, kỹ sư... Như thế đâu còn tình nghĩa gì nữa! Nếu cố gượng yêu nhau thì đó là một thứ tình yêu điều kiện, tiếng Pháp gọi là amour conditionnel. Tôi yêu anh vì anh có bằng bác sĩ, kỹ sư, vì anh sẽ thỏa mãn những ước muốn của tôi. Thêm quan niệm cổ hủ của nho giáo, cha mẹ đặt đâu con ngồi đó, trai gái cưới nhau vì tiền, vì danh, vì lợi, đâu phải vì tình. Những cuộc hôn nhân như vậy, dùng lý trí tính toán hơn thiệt, bóp chết con tim đâu còn cơ hội cho tình thương hồn nhiên phát triển.

Ngẫm thấy tình thương không có thật, con người sống với nhau chỉ vì ích kỷ lợi mình, nên tôi không thương nữa, nếu có thì chỉ còn thương hại mà thôi.

Ðến khi vào Ðạo tôi được học hai chữ từ bi. Từ là ban vui, bi là cứu khổ. Có nhiều Thầy muốn đề cao Ðạo Phật, dạy rằng từ bi bao la rộng lớn hơn chữ bác ái của Ðạo Chúa, vì bác ái chỉ là lòng thương người thôi, không cứu khổ rốt ráo như Ðạo Phật.

Nhưng phải có thương thì mới ban vui cứu khổ được chứ! Cha mẹ có thương con thì mới mua đồ chơi cho con vui, thấy con buồn khóc thì âu yếm dỗ dành.

Nếu tôi không thương bạn mà bị bắt phải ban vui cho bạn thì hơi khó làm. Nếu có làm chăng nữa thì đó là sự ban vui cưỡng ép, đâu phải phát xuất từ tấm lòng (quả tim). Nhiều lúc tôi rất ghét bạn nhưng cũng phải đối xử từ bi, vì nếu không người ta sẽ bảo rằng tôi không phải là người tu hành. Như thế là từ bi bất đắc dĩ.

Dịch từ bi là ban vui cứu khổ nghe xuôi tai và đơn giản nhưng làm mất ý nghĩa của tình thương .

Từ bi thường đi cùng với hỷ xả. Từ bi hỷ xả là bốn đức tính cao đẹp mà danh từ Ðạo Phật gọi là Tứ Vô Lượng Tâm. Tiếng sanskrit là Brahma-Vihara, có nghĩa là nơi ở của Phạm thiên, hoặc Apramana là vô lượng.

Từ (maitri): tình thương yêu.
Bi (karuna): lòng thương xót.
Hỷ (mudita): mừng lây với cái vui của kẻ khác.
Xả (upeksha): bình đẳng đối với mọi người dù thân hay thù.

Tại sao gọi là vô lượng? Bởi vì chúng sinh vô lượng nên bốn đức tính này cần phải tỏa đến khắp chúng sinh. Không phải chỉ thương yêu vài người thân trong gia đình bạn bè quyến thuộc mà phải thương yêu tất cả chúng sinh. Không phải chỉ thương xót một nhóm người hay một quốc gia mà phải thương xót tất cả mọi loài trên trái đất.

Trên lý thuyết thì bao la như thế, nhưng thực tế nhiều khi một người tôi còn không thương nổi làm sao thương hết chúng sinh. Người đầu tiên mà tôi cần thương yêu đó chính là bản thân tôi. Nếu tôi không biết thương yêu tôi thì làm sao tôi có thể thương yêu kẻ khác được? Thương tôi ở đây không phải là thương cái ngã (égo) của tôi, mà là thương hết toàn thân tâm tôi (tout mon être). Không nên lầm lẫn giữa cái ngã (égo) và con người (être). Thí dụ tôi chỉ cao 1m50, so với người khác thì hơi lùn thấp nên tôi phải đi giầy cao gót để người ta khỏi thấy tôi lùn. Cái ngã của tôi muốn thấy tôi cao 1m60, nhưng con người thật của tôi chỉ cao 1m50. Khi mang gót cao soi gương, tôi thấy tôi đẹp hơn và tôi yêu tôi hơn, đó là tôi đang yêu cái ngã của tôi. Khi bỏ giầy gót ra, nhìn gương thấy mình lùn nên tôi không yêu con người của tôi nữa. Nếu tôi biết thương tôi thì tôi đón nhận tất cả cao thấp, đẹp xấu, đó gọi là bình đẳng. Có nhiều người chỉ thích người khác khen mình đẹp tốt, đạo đức, không thích nghe nói đến tính hư tật xấu của mình. Ðó là ái ngã, yêu cái ngã của mình. Ngã là một khái niệm, ý niệm về cái ta không đúng với sự thật.

Tôi là một Thầy tu, tôi cho rằng tôi đạo đức, thông hiểu kinh điển, tu hành thanh tịnh, v.v... Ðó là tôi đang đúc kết một cái Ta (ngã) về tôi, cái Ta này tôi chỉ muốn thấy nó đẹp tốt và tôi từ chối ngoảnh mặt làm ngơ với những phần xấu dở trong tôi. Như vậy tôi đâu có biết thương toàn thể con người của tôi. Nếu tôi chỉ thấy mình là người đạo đức thông kinh điển thì tôi đâu cần tu hành làm gì nữa và cái ngã của tôi sẽ thấy tôi xứng đáng làm Thầy thiên hạ. Nếu tôi không thấy không thương những phần xấu dở trong tôi thì tôi cần gì phải tu nữa vì tu là sửa tánh hư tật xấu. Chính những phần xấu dở trong tôi, niềm đau nỗi khổ của tôi mới cần tình thương, cần được chuyển hóa và cứu độ. Nếu tôi không biết thương yêu những phần này mà chỉ thích ngắm nghía yêu mến cái ngã tốt đẹp của tôi thì còn gì là từ bi nữa?

Trước khi nói đến từ bi cứu độ chúng sinh, ta cần phải xét lại xem ta đã biết thương chính con người của ta chưa? Hay là ta chỉ biết thương cái ngã, thương những khái niệm về ngã. Cái ngã của tôi muốn tôi có một ngôi chùa to nhất nên tôi phải hăng say vận động, tích cực gom góp tài chánh, quên ăn bỏ ngủ đến khi nào xong ngôi chùa mới hài lòng. Như thế tôi đâu có biết thương thân tâm của tôi cần ăn ngủ điều độ, tôi chỉ lo phục vụ cho cái ngã của tôi thôi.

Trở về Tứ Vô Lượng Tâm, tuy có bốn nhưng chỉ cần một là đủ, đó là tình thương (maitri). Có thương thì đương nhiên sẽ có xót. Bạn thương con bạn thì khi nó khổ chắc chắn bạn sẽ xót xa tìm cách cứu giúp nó. Có thương thì mới có sự thông cảm, có thông cảm thì mới có thể chia mừng được với người khác. Bạn thương con bạn, khi thấy nó thi đậu bạn cũng mừng lây. Có thương thì mới có thể đối xử bình đẳng được. Bởi vậy chỉ cần làm sao khơi dậy và làm tăng trưởng tình thương thì ba đức tính kia sẽ đầy đủ.

Nhưng làm sao khơi dậy tình thương? Tôn giáo nào cũng rao giảng tình thương, nhưng sao con người vẫn chưa biết thương yêu nhau? Không những thế mà lại còn nhân danh tôn giáo để chém giết nhau.

Tôn giáo dạy người ta tình thương để phục vụ tôn giáo, dạy tình thương với những giáo điều. Những vị giáo chủ ra đời để phục vụ chúng sinh, lấy tình thương cảm hóa con người, nhưng đệ tử nối tiếp đời sau không có khả năng thương yêu rộng lớn như các ngài nên bắt buộc phải hệ thống hóa giáo lý và vô tình dần dần đóng khung tình thương. Nếu thương Phật thương Chúa thì phải làm thế này thế nọ, phải hy sinh tánh mạng bảo vệ tôn giáo, nhiều khi sùng tín quá khích sẵn sàng chém giết vì tôn giáo.

Tôn giáo ra đời để phục vụ tình thương chứ không phải lấy tình thương để phục vụ tôn giáo.

Tình thương không thể tìm thấy trong những buổi lễ cầu kinh, trong sự nghiên cứu kinh điển hay nghe giảng giáo lý mà tìm thấy ngay trong sự sống, trong sự tiếp xúc hằng ngày. Tình thương cần được biểu lộ và thể nghiệm qua ba cửa: thân, khẩu, ý và phát xuất từ tấm lòng (quả tim) chứ không phải từ trí óc.

Tình thương mà tôi muốn nói ở đây không phải là thứ tình yêu nam nữ, tình bạn hoặc tình thương cha mẹ con cái. Ðương nhiên những thứ tình kia cũng là một thứ tình khá đẹp, một phần nhỏ của tình thương và là một đề tài bất tận cho những thi sĩ, văn sĩ và nhạc sĩ.

Tôi có thể nói quanh nói quẩn về tình thương nhưng tốt hơn hết bạn hãy theo tôi vào một công viên hoặc một khu rừng, một cánh đồng rồi bạn hãy nằm úp mặt xuống đất, dang hai tay ra như đang ôm quả đất và nói thầm với quả đất rằng bạn thương quả đất, biết ơn và cảm ơn quả đất. Sau đó bạn đứng dậy đi tìm một cây nào khá to lớn, cành lá sum sê, và bạn hãy dang hai tay ôm thân cây vào lòng, hít thở nhẹ nhàng lắng nghe tiếng nói của cây. Nếu tâm bạn lắng và cây kia cảm nhận được tình thương của bạn nó sẽ trả lời.

Nếu tim bạn đang khô héo vì bị loài người vô tình hất hủi từ khước, bạn hãy hướng tình thương của bạn đến thiên nhiên đi. Thiên nhiên và vũ trụ rất cần tình thương của bạn. Tình thương vô điều kiện (amour inconditionnel). Bạn hãy thương cỏ, thương cây, thương mây, thương gió đi. Tình thương là một năng lượng cần được lưu chuyển và trao đổi. Xin nhớ tình thương không phải là một khái niệm mà là một kinh nghiệm.

Thích Trí Siêu
(Đạo gì?)



Saturday, October 01, 2005

Đạo sĩ am mây

Xưa có một đạo sĩ sống ẩn dật tại một thâm sơn cùng cốc đầy mây phủ nọ. Rau rừng, nước suối, quạt gió, đèn trăng tuy đạm bạc nhưng khá đầy đủ đạo vị đối với con người tri túc cắt đứt duyên trần như đạo sĩ.

Trở ngại duy nhất của nhà tu là các chú chuột nhắt trong hang động, thường quấy phá gậm nhấm bất kể đêm ngày.

Ngày lại tháng qua bọn chuột cứ sinh sôi nảy nở đông đúc và ngày một lộng hành chịu hết nổi. Ðạo sĩ đành mang một chú mèo về ở chung, nhờ sự cảm hóa của đạo sĩ, chú mèo chỉ hăm he lũ chuột nhắt chứ riêng chú hoàn toàn trường chay khổ hạnh. Lâu ngày mèo chỉ còn da bọc xương. Chạnh lòng, đạo sĩ phải hạ sơn đi xin sữa bò về bồi dưỡng cho ân nhân, cũng là bạn đồng hành trên đường cầu đạo.

Ðể tránh tối thiểu chuyện đi lại thường làm gián đoạn công phu tu tập, đạo sĩ xin một con bò sữa về nuôi để lấy sữa cho mèo uống. Nhân vật mới này thật là ngu như bò... ả ta cứ nhởn nhơ đi dạo khắp vùng núi ẩn cư và thường quên lối về... Một chú mục đồng được vời đến để trông nom con bò và vắt sữa mỗi ngày. Rừng núi hoang sơ xem chừng không mấy thích hợp lắm với một chàng trai mới lớn và nặng lòng trần tục... Ðạo sĩ đành mượn sợi tóc nữ nhi cột chân chàng trai trẻ... Bằng cách đó chẳng bao lâu vùng núi ẩn dật biến thành một thôn trang trù phú với đông đảo những tập đoàn chuột, mèo, bò, đàn ông, đàn bà và con nít...

Không ai biết đạo sĩ đắc đạo khi nào, tịch ở đâu và truyền pháp cho ai... Lâu dần người ta cũng quên mất tên tuổi ông và chỉ gọi nhà tu là “Ðạo sĩ am mây.”

Em thân mến!

Như vậy không phải là khi không khi khổng mà đức Phật dặn hàng tu sĩ chúng ta nên tu hạnh “thiểu dục tri túc” tức là hãy bằng lòng với tình trạng vật chất hiện có của mình... Lâu lâu có lẽ chúng ta nên kiểm kê tài sản một lần xem nó đã sinh sôi nảy nở đến đâu rồi, kẻo mà “cái sẩy nó nảy cái ung” biết đâu

Thích Nữ Như Thủy