Monday, November 14, 2005

Ra đi mùa Thu

Không đợi hết mùa Thu như HH đã nói. Từng chuyến bay vội đi về , kết thúc vài tuần thu xếp vội. Vậy là bạn tôi thật sự đi xa. Một ngày trời chớm lạnh, đủ lạnh để tôi khoát chiếc áo len sợi mỏng đầu mùa. Tôi lơ đãng quanh giọt mưa. Mưa Thu rớt đều, ướt khoảng hành lang ngoài hiên. Chợt biết hôm nay là ngày HH giã từ thành phố.

HH ơi! HH đang ở đâu, HH đã khởi hành chưa? Nụ cừời ấm và câu chào quen thuộc, tắt ngang không hiểu vì sao. Mưa buổi sáng qua nhanh chào nắng giữa trưa đến vội. Tôi nghe lại câu chào và tiếng cười ấm áp, hiền hoà. Mình còn sống sót! Đã lên đường từ sáng nay rồi. Lúc nãy mưa nhòa đoạn đường đèo. Chưa kịp nói điện thoại đã bị mất sóng. Bây giờ mình đang đi ngang qua thành phố, có những quán ăn Việt. Vừa lúc đói bụng lại cần nghỉ ngơi một chút, trước khi tiếp tục để kịp đến nơi không trễ lắm, đêm nay. Tôi nhắc HH lái xe cẩn thận với đường dài, thêm lời chúc may mắn bình an trong những tháng ngày sẽ mở ra phía trước. Tôi không hỏi, cũng không nghe HH nói, vui hay buồn khi quyết định đã rồi. Có lẽ cả hai đã quen nghe chỉ để mà nghe. Không lời từ giả, cũng không băn khoăn vì những gì cần nói tôi đã nghe HH nói, giản dị, chân tình như nói với người thân. An tâm về nhau là điều thường có ở hai bên.

Biết đời như trang sách vừa viết qua chương mới, cho nên tôi bình thản nghe đổi thay và bạn tôi bình thản ra đi. Đi xa với HH cũng mang nghĩa về gần. Nói chi với tôi, HH chưa bao giờ gần cũng như chưa lúc nào xa. HH biết như tôi biết, những ánh mắt nồng ấm thơ ngây sẽ sáng lên, khi có trở lại vòng tay yêu đương cũ. Khoảng thời gian vài năm trống vắng tuổi thơ, tôi nghĩ dài hơn nhiều lắm so với khoảnh thời gian của những người trưởng thành. HH đi về xứ lạnh mang hồn ấm áp. Ấm như tình thương sâu đậm dành cho đám trẻ thơ cùng những hoài bão bạn tôi mang theo về miền Bắc xa xôi. Tình thương cho đi lồng trong tâm từ, bạn tôi chắc chắn không có gì để phải ngập ngừng. Vậy đó, M ơi! Mình sẽ lấp đầy những ngày giờ thảnh thơi nếu có, bằng cách góp một bàn tay giữ gìn phần nào cội nguồn. Những đứa trẻ biết đâu một ngày nào sẽ tự mình tìm đọc trang nhật ký của người cha, không còn là chuyện xa vời hay mơ ước nữa. Một khoảnh đất nằm kề bên con suối nhỏ. Những nụ hoa chớm nở dạo mùa xuân trong nỗi lạnh sắt se...đủ để làm cho mình bận rộn nếu như trở thành điều có thật. Sống hòa cùng với thiên nhiên chính là niềm vui, niềm vui bất tận đó M! Tôi nói rất mừng, khi biết dù ở đâu HH cũng tìm cho mình một đời sống tự tại, ung dung. Thảnh thơi trong bận rộn và biết rõ con đường mình chọn, đi làm sao để không lộn trở lại điểm khởi hành. Hạnh phúc của bạn tôi nhỏ và dễ có, không cần kiếm tìm vẫn thấy mỗi ngày. Những buổi sáng đi làm muộn, ngồi trên thềm ngắm bãi cỏ xanh, những cụm mây hợp tan. HH kể, thường ngó không chán mắt, con mèo nhà hàng xóm, chạy đuổi mãi vẫn chưa bắt được con mồi, chỉ vì người chủ rất từ bi, đeo xâu lục lạc vòng quanh cổ chú mèo, để bảo vệ sự sống cho những con mồi vô tội, là đàn sóc và lũ chim tụ lại hàng ngày trước sân nhà.

Tôi hỏi cho có hỏi, nghĩ gì khi làm người đi trong mưa gió hở HH? Mưa gió trong lòng đã tạnh lâu rồi, cho nên vui chứ chẳng buồn! M biết rồi, mình có thú lái xe một mình những đoạn đường dài. Bao nhiêu năm đi về, cùng một chỗ làm với hai giờ lái xe nhưng chưa bao giờ thấy đường xa. Tôi an tâm, thật sự an tâm. Nhưng vẫn nhắc, về trên đó lạnh nhiều chắc HH sẽ "khói buồn bay lên mây" nhiều hơn nữa phải không? Không đâu M! Không hứa nhưng rồi sẽ không còn vui, buồn với khói một ngày gần. Mình đã ngưng một dạo nhưng ngày đó bị cuốn trở vào vì ở bên cạnh H với Thầy. Tôi bật cười. HH lớn rồi, đừng đổ thừa nghe! Nếu gần Thầy với H cũng chỉ gần trong khoảng ngắn. H ở mãi tận bên này và Thầy cũng chẳng gần nhiều. Bây giờ H đã ngưng rồi. M không mong nghe HH nói tại, bị... ở nơi miền lạnh! Bạn tôi cười. Nhất định được mà. Khi có quyết tâm thì lo gì không thực hiện được hở M?

HH đi rồi, tôi ra bưu điện nhận "gia tài" HH không quên chia phần cho tôi trưóc lúc lên đường. Đứa em gái băn khoăn hỏi, sao ông phát thư không chịu để trước hiên nhà. Lỡ như thùng sách nặng, chị làm sao có thể mang về được? Hay là để đó cho em. Em tôi bao giờ cũng không quên người chị, đủ sức gánh trên vai nặng trĩu nhiều buồn ít vui, trừ ra làm việc nặng. Tôi cười trấn an em. Đừng lo. Chị nghĩ rằng chị mang về được, vì người gởi dường như cũng...ngang sức với chị thôi. Làm sao tôi quên, cảm giác xúc động, thoáng chút bàng hoàng trong lần nghe HH kể chuyện. Cô em gái nhắc nhỡ mình nên ăn uống thêm, vì dạo này như gầy yếu quá. Không dưng, tôi chợt hỏi. Nói cho M nghe, HH cao bao nhiêu, nặng bao nhiêu? Trời ơi! Như vậy là "qua cầu gió bay" rồi? Với sức nặng như thế làm sao làm việc nổi? HH cười. Như vậy vừa đủ cho đôi chân yếu đó M! Rồi HH cười. Có lẽ những nhát kiếm nghiệt oan của một đời làm kiếm sĩ, giờ để lại vết hằn lưu dấu ở đôi chân. Cảm giác bồi hồi, xúc động trôi qua. Với tôi HH luôn luôn vững vàng và cứng cỏi. Biết rõ chọn lựa của mình trên đọan đường còn lại trong đời. HH đã qua thời ngập chìm trong biển rộng, những mê đắm cuồng say cùng hạnh phúc, khổ đau. Để một đôi lần ngoái nhìn, giật mình khi nhận biết rõ ràng những gì mình đã tạo.

Bây giờ, dù ở đâu có lẽ ngày của bạn tôi cũng như nhau. Vẫn nắng vẫn mưa, cỏ cây và vòng tay mở ra ôm gọn cuộc đời bé bỏng yêu thương. Đêm vẫn tiếp tục cùng với những buổi tọa thiền thường nhật, và đi vào giấc ngủ bằng những bài pháp thoại như HH vẫn thường kể tôi nghe. Thật là tuyệt diệu M ơi! Cảm ơn M đã gởi bộ CD của HT Tâm Thanh. Mình càng nghe càng nghiệm thêm nhiều điều vi diệu. Bây giờ nghe giảng kinh đâm ghiền như trẻ thơ ghiền tiếng mẹ ru. Lòng thanh thản, bình an. Kèm theo quyển kinh Pháp Hoa khổ nhỏ, xinh xắn gọn gàng với bìa cứng màu nâu. HH còn gởi cho tôi nhiều sách của thiền tông. Quyển sách mỏng tôi mang theo vào nơi làm đọc là quyển Mùa Hoa Son, tác giả: sư cô Hạnh Chiếu. Những giọt nước mắt đồng cảm của tôi chợt rớt xuống. Cũng may, chỉ một mình tôi trong căn phòng, có ánh sáng không đủ soi rõ mặt.

Những giọt nước mắt khô nhanh không còn dấu vết. HH dù xa hay gần vẫn để lại tiếng cười lẩn quẩn đâu đó quanh tôi. Quyển kinh Pháp Hoa có thật. HH cũng có thật trong giòng đời hư ảo, mênh mông. Cả tôi và HH đang miệt mài tìm theo dấu người xưa. Thôi chẳng cần hẹn nhau một lần gặp mặt. Lòng tôi ấm khi nghe như trong cơn gió thoảng, lời người chị chưa bao giờ gặp trong đời đã một lần nói với tôi rằng. "Hẹn em một lần ngồi trên bãi cỏ, cùng uống trà, ngắm trăng dưới chân chư Phật".

Quỳnh My

Monday, November 07, 2005

Sao không trở lại?

My đến phi trường lúc 7 giờ chiều. Tới sớm hơn My là gia đình dì, người em gái duy nhất của mẹ sang đây đã mười năm. Mười năm với thật nhiều trắc trở. Cuối cùng dì chú thỏa dần ước nguyện. Ðêm nay ba đứa con của dì sang đoàn tụ với gia đình.

My thấy hạnh phúc tràn đầy trên mặt chú. My nhớ lại, như phép lạ. Chỉ cách đây vài năm thôi, Người đàn ông đó sụt xuống còn hơn 80 pounds, phải chuyền thức ăn dinh dưỡng qua ống dẫn vào bao tử, nằm thoi thóp chờ trút hơi thở... Ngày đó trong bệnh viện, hai chị em My nước mắt đầm đìa ôm người người chồng của dì. Tụi con thương chú lắm. Chú ơi, chú ráng vượt qua để còn có cơ hội đem các em sang đây như tâm nguyện. My biết lúc đó My nói mà không dám trông mong, bởi tiếng nói của chú đã tắt, không còn thoát ra được từ thanh quản. Chú nằm im chịu đựng cơn đau. Hai hố mắt sâu và thân xác bất động. Em gái My vừa khóc vừa bảo em rễ đem vào cho chú cái máy nhỏ, để ghi âm lại những gì muốn nhắn gởi với đàn con còn lại ở VN, nếu như chú còn có thể nói được trong giây phút cuối. Rồi em gọi cô y tá, phụ tiếp tay nâng chú vào phòng tắm để em tự tay tắm gội sạch sẽ, thể như chăm sóc cho cha. Dì của My có một thói quen rất kỳ khôi. Dì có thể làm mọi chuyện dù cực nhọc tới độ nào để chăm sóc chồng con, trừ ra lúc phải vào nhà thương. Dì đến thăm như thăm một người quen, rồi vội vã ra về, nhất định không ở lại lâu, như sợ phải xúc chạm vào thịt da người bệnh. Mẹ đã bất bình nhiều khi thấy dì bình thản ra về, nhất định không cận kề bên cạnh người chồng kiệt sức trong bệnh viện. Dì chú sang đây đoàn tụ do đứa con gái một mình vượt biển ngày nào. Ðứa em này qua tới đảo, được anh My bảo trợ sang sống với ba mẹ vài năm. Rồi em tìm sang Canada, đem người bạn trai gặp ở đảo qua đây chung sống. Khởi đầu chỉ một người có mặt nơi này, là nhịp cầu nối dài cho những người thân tiếp bước qua. Nhờ ý chí mãnh liệt, phải sống để thực hiện xong ước nguyện, tạo cơ hội cho đàn con còn lại cơ hội thoát ra khỏi cảnh sống tối tăm, mà chú đã vượt qua nổi chết cận kề. Ngày đó, trong hành lang bệnh viện, ba My đã ngậm ngùi nói vói My rằng, có lẽ nào chú ra đi mang theo luôn những ước mơ chưa thành.

Vậy mà sau đó không lâu, chú vượt qua tất cả làm người sống sót trở về đưa tiễn ba My. Những đứa em còn lại bên nhà, ngày nghe tin ba My mất đả trở thành những đứa con đi vào chùa, quấn khăn tang tụng kinh mỗi thất cho ba My. Thầy trụ trì xúc động nhiều, bởi chưa lần nào nhìn thấy những đứa cháu thọ tang cho người bác chồng của dì mình, tới chùa tụng kinh cầu siêu thất tuần và mỗi năm đúng ngày giỗ đều tới chùa làm lễ cầu siêu như những đứa con hiếu đạo.

Mẹ My lấy chồng năm 18. Năm sau mẹ sinh đứa con đầu rồi cùng ba My giang tay ra để bảo bọc đám em nhỏ mồ côi bởi ông bà ngoại lần lượt ra đi khi chưa chạm tới tuổi già nua. Dì là đứa em gần gủi ba mẹ My hơn hết. Ba My vừa là người anh cả vừa tựa như một người cha. Mẹ là con gái Nam kỳ mộc mạc, lấy người đàn ông phiêu bạt đến từ đất Bắc mù xa. Rồi đứa em vợ lớn dần được ba gả chồng- cũng là một người trai từ Bắc vào Nam lưu lạc, như ba. Anh em My gọi chồng của các dì bằng dượng. Chỉ duy nhất một người gọi bằng chú mà thôi. Cũng vậy, ba và mẹ cũng có riêng một đám cháu gọi cả hai bằng bác. Khác với đám cháu con các dì khác gọi bằng dì dượng theo cách xưng hô của người Nam. Mẹ My bao năm vẫn giống vậy thôi. Dì trái lại nói giọng Bắc như người xứ Bắc và nấu những món ăn Bắc kỳ không thua bất cứ ai! Có lẽ nhờ dì làm dâu qua những tháng năm. Khác với mẹ, vì ba My lạc loài chỉ có một mình. Những người em chồng của dì, đều bắt chước dì gọi ba My bằng hai tiếng "anh Hai" nghe gần gủi làm sao! Còn có thêm những nhân duyên cùng làm việc chung với nhau một khoảng thời gian. Ba My lúc nào cũng được quý kính như bậc trưởng thượng kể luôn bên gia đình chồng của dì My. Đến phút cuối, ba vẫn còn nhân duyên gặp lại người em gái chú. Cô từ VN sang chơi, thăm chú dì và ba mẹ của My. Những ngày cuối cô ở lại, cũng là ngày cô có mặt để tiễn ba My về nơi an nghỉ.

My và lũ em ở phía sau My có nhiều gắn bó vói chú hơn các anh chị lớn. Sau mùa Hè đỏ lửa 72, chú là người đã thuyết phục ba mẹ đem chị em My về sinh sống ở Saigon. My rời nơi được gọi tên là Rừng Lá. Chấm dứt những đêm nằm nằm nghe tiếng mưa rơi từng giọt nhẹ, gõ xuống thanh âm đều đều trên mái lá. Cũng từ vách lá vọng sang tiếng đàn và giọng ca buồn não nuột trong bài hát Mưa Rừng của cô bé hàng xóm xinh như công chúa, sống lạc giữa chốn núi rừng giống chị em My. Chú thương xót chị em My chưa bao giờ ra khỏi căn nhà rộng rãi, êm đềm. Qua cơn binh lửa, phút chốc như trở thành dân du mục. Ðứa em gái giờ vẫn còn mang vết sẹo dài ở ống chân, trong một lần vào rừng đi tắm suối năm nào. My đã trãi qua những đêm trăng nằm ngắm trời sao, trên chiếc đệm trãi trước sân căn nhà lá nhỏ. Những buổi sáng trời mù sương, chưa nhìn thấy dáng những ngọn núi màu tím thẩm, lẫn trong mây buồn ảm đạm quanh năm. My còn loáng thoáng trong trí nhớ, dáng ai cao sừng sững bước lang thang. Những bước rã rời mang trái tim trầy trụa, quặn đau, của người bạn học si tình cô em gái con người dì Út. Em đẹp kiêu sa và dư biết mình xinh đẹp, đủ để dễ dàng làm điêu đứng những mắt nhìn, những con tim dễ lạc nhịp trong khoảnh khắc. My như in sâu vào trong trí dáng lao đao, tiều tụy, như người mắc bệnh tương tư My bắt gặp thuở xưa, trong những lần tiễn My ra chuyến xe đò đưa My về thành phố, để gởi theo những lời hỏi han và trái tim đang vật lộn với những nổi đau..Có lẽ vì vậy mà những năm sau, khi bắt gặp lại dáng cao gầy sừng sững đợi chờ My trên đường về ở Saigon, My chỉ thoáng lao xao chút xíu. Kẻ si tình hoài đi lại những con đường. Rồi sẽ đi qua đoạn gập ghềnh. Rồi sẽ quên trong nhớ và đời trôi đi mãi.

Những ngày đầu về thành phố, My thường ngồi phía sau lưng chú trên chiếc vespa. Chú chở My đi, chỉ dẫn những nơi chốn My cần để có thể tự mình lo cho My cùng các em đến trường trở lại sau mùa hè năm đó. Có lẽ thấy chú tỉ mỉ, để ý chăm sóc cho chị em My từng chút, đem tất cả từ miền núi rừng về ở căn nhà chú vừa mới dọn ra chẳng bao lâu, một trong những người em gái chú, đã đôi khi bóng gió, xa xôi. Chú vẫn thản nhiên bỏ ngoài tai, thay ba My sắp xếp và ổn định cuộc sống cho bầy con gái nhỏ, bơ vơ về thành phố sau cơn binh lửa. Nắng Saigon trong những ngày ngồi sau chú trên chiếc vespa, và sau những tháng làm người miền núi khiến My đen như người Thượng. "Con nhỏ đen thui" là mấy tiếng quen thuộc mà người em chú gọi My. Ðể sau 20 năm gặp lại ở đây, khi MY lên tiếng hỏi chào, người em gái chú ngẩn ngơ, hỏi con nhỏ nào đây, tại sao cô không thể nhớ ra. My cười, là con "con nhỏ đen thui" của ngày xưa. Trời ơi, sao con lạ vậy? Cô không ngờ con nhỏ xíu bây giờ. Mà da thì trắng! Nghĩ cũng lạ, ai cũng được nhận ra dễ dàng sau hơn 20 năm không gặp. Chỉ riêng My thường phải giới thiệu lại tên với người thân. Nào con nhỏ đen thui. Nào con nhỏ đau răng khóc ngập lụt chung quanh. Toàn những hình ảnh mà khi nhớ thấy ngại ngùng vì không chút...nên thơ !

My nhớ khi dì chú còn ở căn nhà cũ, thỉnh thoảng My về chơi vài ngày. Mỗi lần My xuống bếp nhìn dì nấu nướng, dì hay bảo con nêm nếm theo kiểu Nam bữa nay đi. Những đứa em con dì mỗi người một vẻ. Mai Hoa lớn hơn My mấy tuổi, sâu lắng, nhẹ nhàng ngược lại với Thái Hòa bằng tuổi My luôn rộn rã tiếng nói câu cười chừng như không ngừng nghỉ. My thân với Mai Hòa và gần gũi Thái Hòa. Ðám em còn lại My thương quý nhưng không gần lắm. Cả hai chị em này đều hát hay. Hoa hát giọng trầm buồn như khuôn mặt thường thoáng nét u sầu kể cả lúc cười. Thái Hòa thuở ấy hay hát vang những bài tuổi ngọc, tuổi thần tiên như ca sĩ Thái Hiền. Ðời mấy đứa con gái của dì sao buồn. Cả ba đứa em lần lượt theo chồng rồi mang khuôn mặt đầm đìa nước mắt trở về. Mai Hoa bền bỉ, âm thầm trong cảnh khổ kéo dài. Mãi đến khi con lớn mới có đủ can đảm để cắt đứt mới tình thơ mộng thời thiếu nữ nhưng lại trở thành cuộc hôn nhân tràn ngập khổ đau. My nhớ ngày đám cưới Thái Hòa, người dì Út xinh đẹp nhưng khó tính của cả đám cứ theo căn dặn mãi. Ngày mai người ta tới rước dâu, con nhớ không cười, nói thoải mái toàn những câu dễ chọc cười người khác. Phải ra dáng nhu mì, hiền thục một lần. Mai mốt ván đóng thuyền rồi có hiện ra nguyên hình cũng được! Mẹ là chị lớn, My có 3 dì là dì Tư, dì Sáu, mẹ Thái Hòa và dì Út có duy nhất cô con gái đẹp kiêu sa. Dì Út ở quê nhưng đẹp cao sang, và khó tính hơn bất cứ dì nào hết. Dặn dò Thái Hòa chưa đủ. Dì còn thêm, chắc là dì phải cột sợi vào cổ tay của cô dâu để gịật nhẹ, để nhắc cho nó nhớ đừng cười nói khi có mặt của nhà trai trong buổi lễ. Thái Hòa chỉ cười không nói. Em đi theo chồng với nụ cười, để rồi hơn một năm sau trở về với tấm thân tiều tụy, chừng như vướng bệnh lao phổi vì những ngày làm dâu đói rách, nhọc nhằn xa mãi đâu đâu My thật sự đã quên. Cũng may chưa có đứa con nào ra đời trong khoảng đới tăm tối của Thái Hòa. Em sống trở lại thời độc thân vui tính cho mãi đến ngày nay.

Chuyến bay đến phi trường Houston buổi tối hôm qua mang cho dì chú của My 3 đứa con xa. My cùng chàng có mặt ở phi trường lúc 7 giờ, đã bắt gặp cả gia đình chú và gia đình đứa con gái ở chung tới sớm hơn. Những chuyến bay đưa người từ VN sang thường đến vào buổi tối. My không biết đã có bao nhiêu lần đêm ra phi trưòng đón đợi người thân. Cậu mợ, mẹ, anh chị và em gái , lần lượt hiện diện. Chuyến bay đến muộn hơn một tiếng, làm mọi người có dịp ngồi nhắc lại những lần đưa đón. Như mới ngày nào cả mọi người tới đón chú dì. Bây giờ dì chú là người đem thêm những đứa con qua. Người chị dâu của My hơn 4 năm xưa một mình ngơ ngác đến nơi này. Ðêm nay bên cạnh chị là hai đứa bé đang tung tăng chạy nhảy. Hơn 22 năm không gặp, vẫn thường nhìn thấy qua hình cho nên My nghĩ rằng không khó nhận ra nhau. Nhìn dòng người lũ lượt ra khỏi máy bay đi xuống nơi nhận hành lý, My ngạc nhiên vì cả một chuyến bay chỉ bắt gặp môt người Mỹ lạc loài. Còn lại tất cả hầu như là dân Á Ðông của mình thôi. Ba chị em Thái Hòa là những người đi sau cùng. My nhìn thấy Thái Hòa từ trên cao với ánh mắt ngơ ngác, kiếm tìm nhanh. Bàn tay mừng rỡ giơ lên vẫy, và nụ cười năm xưa vẫn còn nguyên. Bước nhanh tới ôm My, nhỏ em cùng tuổi giọng nghe giòn giã, tựa như My chưa bao giờ cách biệt một khoảng đời dài. Trời ơi, My thiệt tệ. Ði mất biệt, mấy mươi năm nhất định không về, để cho em phải lặn lội đi qua, khổ thiệt nha! My nghe ấm áp, thân quen câu trách nhẹ hồn nhiên. Nhìn Cậu đang mỉm cười bên cạnh, My nghĩ phải giới thiệu thêm với cậu về cô em có tính vui đùa tự thuở nào giờ. Cậu chắc chưa biết Thái Hòa con của dì nói chuyện tiếu lâm gần giống HÐào.

Ðứa em trai sau phút bỡ ngỡ tới ôm vai My chụp hình chung. Phải đợi đến mấy mươi năm mới được ôm vai chị một lần, lâu thật là lâu! Chị không già như em tưởng. Vẫn nhỏ nhắn như xưa chư không phát tưóng ha!! My nhìn đứa em nhỏ nhất thấy thật gần. Em mang vóc dáng của Mai Hoa và có vẻ trầm mặc giống như My ngày "ngơ ngác cỏi ngươ`i".. Ngày My chia tay, em mới mấy tuổi thôi. Mai Hân vui nhất vì con gái Út của dì từ đây không xa mẹ nữa. Theo gia đình dì từ phi trường về nhà. Mẹ và anh em My ở lại mừng một lúc rồi về. Dì nấu sẵn nồi phở lớn nên tỏ ra thất vọng khi không ai ở lại ăn chung vì đã muộn. Thái Hòa ngồi kể cho chị em My và mẹ nghe về những người thân. Câu cuối cùng trước lúc ra sân là áo dài của các chị đẹp lắm, nhưng ráng đợi em soạn ra sau vì đêm nay chưa cần mặc phải không? My cười, nói chắc vẫn còn cơ hội gả chồng cho nhỏ nữa rồi. Vẫn không bao giờ già nổi sau mấy mươi năm không gặp! Thái Hòa cười, tóc chị sao rồi, tóc em bạc, nhuộm hoài. Chồng con gì nữa, em lo kiếm tiền để sinh sống thôi, không kiếm chồng đâu! My nhắc lại, vậy mà mấy mươi năm trưóc, rủ chị đi kiếm ông thầy bói đòi tiền vì bói sẽ lấy chồng mà đợi hoài chẳng thấy chồng đâu?

Mẹ, chị em My và những đứa em xa vừa gặp lại rảo bước ra sân. Những nụ cười ấm áp theo My về trên đoạn đường dài. Mẹ, chị em My và đám em con của dì, dù ở nơi đâu vẫn mãi mãi gần. My mừng chú dì có thêm con bên cạnh cuộc đời đã gần bóng hoàng hôn.

Thầm cầu chúc và thầm mong những đứa em qua sau, sẽ sớm thích nghi với đời sống mới. Kiên nhẫn và có thật nhiều may mắn để vượt qua đoạn gập ghềnh trong những bước đầu tiên, như bao nhiêu bước đi trước của những người, sống kiếp chim tha hương, chọn đất trích làm nơi nương tựa.

Quỳnh My

Sunday, November 06, 2005

Góp nhặt

ÐỜI

Hôm nay chúng ta sẽ nói chyện đời, vì đời và đạo là hai mặt của một đồng tiền. Nếu không có đời thì sẽ không có đạo, đời và đạo nương nhau mà có. Phật pháp bất ly thế gian pháp. Không phải chỉ nói thiền, tịnh, vô ngã, tánh không, v.v... mới là Phật pháp mà ngay cả những chuyện ăn uống, ngủ nghỉ, gánh nước, bửa củi, lặt rau, rửa chén, quét nhà cũng là Phật pháp. Phật pháp không hẳn chỉ dạy cầu niết bàn, vì căn cơ chúng sinh khác nhau, đâu phải ai cũng muốn thành A La Hán, Bồ Tát, hay thành Phật hết. Vì thế mới có ngũ thừa Phật giáo: nhân thừa, thiên thừa, thanh văn thừa, duyên giác thừa và bồ tát thừa. Có một kinh điển hình nói về nhân thừa, đó là kinh Thi Ca La Việt (Sigalo-vadasutta), trong đó Phật giảng cho một thanh niên dòng Bà la môn, con nhà giàu ở thành Vương Xá. Ngoài ra lúc còn tại thế đức Phật vẫn thường giảng cho các cư sĩ tại gia sống làm sao cho an vui hạnh phúc, giảng cho vua chúa cách an dân trị nước, những kinh này bàng bạc trong các bộ A-Hàm.
Qua những dịp tiếp xúc với Phật tử, tôi thấy có nhiều người khổ vì tình. Tình ở đây gồm đủ loại: tình vợ chồng, tình cha con, tình anh em, tình yêu, tình bạn, tình đời, v.v... Nhờ có khổ như vậy mới đến chùa học hỏi mong sao hết khổ. Nhưng phần đông lại rơi vào một trường hợp, đó là lấy cảnh chùa làm nơi trốn tránh cuộc đời, trốn tránh bổn phận gia đình, chồng con, vì chồng con nhiều lúc đã làm mình đau khổ. Hãy nhìn hoàn cảnh của người phụ nữ Việt Nam. Theo truyền thống phong tục tập quán, người đàn bà chỉ biết suốt đời hy sinh cho chồng con, nhưng rồi ít có chồng con nào ý thức được sự hy sinh đó. Nho giáo đã xem nhẹ vai trò của người phụ nữ. Cái gọi là tình vợ chồng thật ra là nghĩa vợ chồng. Thời xưa người ta cưới gả nhau ít vì tình mà vì môn đăng hộ đối, hoặc tìm chỗ nương thân, sống chung cho đỡ hiu quạnh. Khi ký một hiệp ước sống chung thì mỗi người phải có bổn phận. Bổn phận làm vợ phải thế này, bổn phận làm chồng phải thế kia. Người phụ nữ phải tam tòng tứ đức. Nhiều cặp vợ chồng bề ngoài có vẻ hạnh phúc, mỗi người làm đúng bổn phận của mình, nhưng bên trong rất nhạt nhẽo vô tình, không có sự thương hiểu lẫn nhau. Tuy sống chung một mái nhà nhưng trong lòng cách xa nhau cả ngàn cây số, mỗi người sống riêng trong thế giới của mình. Sống như vậy đâu có vui thú gì, đúng là oán tắng hội khổ. Nay mình biết chùa muốn tu, muốn dứt bỏ chồng con, nhưng ai cho phép? Nhiều bà, nhiều cô muốn vào chùa thọ bát quan trai một ngày một đêm nhưng chồng không cho phép. Những ông chồng này nói rằng: muốn tu thì cứ việc tu, đâu ai cấm, nhưng phải làm tròn bổn phận người vợ trước đã. Ở đây tôi không thể bênh vực bên nào cả, vì mỗi khi có sự bất hòa thì cả hai bên đều có phần trong đó. Không có ai phải, ai trái mà chỉ có một sự thiếu hiểu biết, không thông cảm, không thực sự thương yêu và thay vào đó là một sự đòi hỏi kẻ khác phải chiều theo ý mình.
Tu học không phải để chạy trốn chồng con. Tu học để tỉnh thức, nhận ra những điều mà trước đây mình không hề hay biết. Nhiều người phàn nàn, chán ngán chồng con, nhưng trước kia ai bắt mình lấy người đó, ai bắt mình đẻ con? Nếu không thương mà lỡ lấy vì bất cứ lý do gì đi nữa thì mình cũng có 50% trách nhiệm. Nếu thương mà lấy thì 100% trách nhiệm. Sinh con ra để làm gì? Ai bắt? Vì thương yêu hay vì bổn phận? Những quan niệm như con trai lớn lên phải có vợ, con gái lớn lên phải có chồng, rồi phải sinh con đẻ cái, v.v... đã gây đau khổ cho nhiều thế hệ.
Con người là loài hữu tình, tiếng Phạn là sattva, có nghĩa là có tình cảm. Ai cũng muốn thương và được thương. Khi thương ai mà được người kia thương lại thì chúng ta sung sướng. Khi cưới được người mình thương thì đúng lý ra ta phải sung sướng chứ? Việc hôn nhân cần phải đạt trên nền tảng của tình yêu. Thương yêu nhau mới cưới và muốn sống chung với nhau. Ở đây tôi không bàn đến những cuộc hôn nhân miễn cưỡng, bất đắc dĩ, vì đương nhiên những cuộc hôn nhân như vậy vô nghĩa, vô tình, làm sao đưa đến hạnh phúc được! Nhưng ngay cả những cuộc hôn nhân do tình yêu đi nữa, sau một thời gian cũng đưa đến sự nhàm chán. Như vậy là sao? Trước kia ở Việt Nam, vấn đề ly dị là điều tối kỵ, dù vợ chồng bất hòa đánh nhau đến đổ máu cũng phải cắn răng sống chung cho tới chết. Ngày nay vợ chồng ly dị là chuyện thường. Sống chung mà không biết thương yêu nhau, chỉ làm khổ nhau thì tốt hơn nên ly dị. Nhưng nhiều khi ly dị xong ta lại cảm thấy cô đơn, muốn đi tìm một người tình khác để yêu, để cưới và để rồi lại ly dị.
Vấn đề tôi muốn nêu lên ở đây là ly dị cho chúng ta bài học gì? Chúng ta hiểu được gì? Hay cứ nhắm mắt theo đà, tái diễn lại cảnh khổ. Nhiều lúc khổ quá muốn đi tu, nhưng tu làm sao yên khi tình cảm hãy còn ướt át? Tôi xin nhấn mạnh một điều là tu không phải dứt tình mà là chuyển tình. Quan niệm chung thường cho rằng tu là dứt hết tình như câu kệ xuất gia:
Hủy hình thủ chí tiết
Cắt ái từ sở thân
Xuất gia hoằng thánh đạo
Thệ độ nhất thế nhân.
Dứt hết tình cảm thì đâu còn là người nữa, tu như vậy để thành gỗ đá chăng? Cây cỏ, núi sông còn có tình huống chi con người.
Chúng ta đau khổ vì tình, vì tình của chúng ta là thứ tình ích kỷ, tình thương chiếm hữu mang nhiều tính chất ái luyến của ngã và vô minh. Thương mà không biết cách thương nên làm cho kẻ khác bực bội, khó chịu đau khổ.
Tu là sửa, là chuyển. Từ đau khổ chuyển thành an vui, từ tình thương ích kỷ, chiếm hữu thành tình thương ban bố vị tha. Vào chùa học đạo mà chỉ biết thương Phật, thương thầy của mình thôi, không biết thương yêu kẻ khác thì đó đâu phải là tu. Phật là người đại từ, đại bi thương chúng sinh, Phật đâu phải là người vô tình. Mặt trời tỏa ánh sáng cho khắp mọi loài, cho cả thế giới, cho khắp vũ trụ, không tỏa riêng cho người giàu, cho nước Mỹ, Canada, hoặc cho riêng trái đất.
Ở Việt Nam trong thời chiến, khi nghe tin người yêu tử trận, nhiều cô nữ sinh ngất xỉu, thấy bầu trời sụp đổ, không còn lẽ sống, có cô quyên sinh tự tử. Ðó là vì dồn hết tình yêu vào một cá nhân, một đối tượng. Một bà mẹ có đứa con cưng độc nhất, chẳng may nó bị bệnh qua đời, bà ta có thể đau khổ phát điên lên được. Nhưng nếu bà ta có mười đứa con và bà thương yêu mười đứa như nhau thì chắc chắn bà sẽ chỉ đau khổ một phần mười mà thôi.
Ở Làng Hồng, vào mùa hè mỗi năm, có rất nhiều gia đình gồm vợ chồng con cái về làng tu học. Thầy Nhất Hạnh giảng dạy những cách thức sống làm sao cho gia đình được hạnh phúc. Có nhiều người 'chuyên tu' phàn nàn rằng thầy không chịu dạy tu mà chỉ dạy hạnh phúc gia đình, thầy chú trọng về đời nhiều! Có lẽ những người này cho tu chỉ là tụng kinh, ngồi thiền, niệm Phật thôi. Quan niệm tu như vậy thật là giới hạn. Từ đấy họ suy ra một ông thầy tu chỉ biết gõ mõ tụng kinh thôi, ngoài ra không biết gì về việc đời. Ðương nhiên cũng có những thầy tu như thế chứ không phải không, nhưng theo Ðại Thừa Phật giáo, một thầy tu là người phát nguyện tự lợi, lợi tha, đi vào cuộc đời để cứu nhân độ thế. Ngay cả người cư sĩ sống trong đời cũng chưa chắc hiểu được cuộc đời. Một thầy tu có thể nghiên cứu tâm lý học, phân tâm học, xã hội học, nhân chủng học, v.v... để hiểu rõ những căn bệnh của con người và để dễ dàng độ sinh hơn.
Người cư sĩ tại gia hãy còn sống với gia đình, nay học cách thức làm sao cho gia đình hạnh phúc, đó không phải là tu hay sao? Ðây cũng là nhân thừa Phật giáo, hay nói cách khác là nhân đạo (con đường làm người). Nhiều lúc nhân đạo chưa xong mà đòi ngay Phật đạo.
Tóm lại sống làm sao cho cuộc đời trở nên đáng sống, có ý nghĩa, có lý tưởng, có thương yêu, hiểu biết thì đó là Ðời Ðạo. Còn chạy theo Ðạo mà quan niệm hẹp hòi, bảo thủ cố chấp, không khoan dung độ lượng thì đó là Ðạo Ðời. Có người sống cả đời chỉ để làm một việc lợi ích thôi, như Lão tử, đến và đi không tung tích, để lại độc nhất một quyển Ðạo Ðức Kinh giá trị vô cùng. Há không phải là một đại thiền sư hay sao?

ÐI TÌM Ý NGHĨA

Có bao giờ trong cuộc sống bon chen vội vã hằng ngày, ta dừng lại vài phút tự hỏi mình sinh ra đời để làm gì? Phải chăng để chạy theo sau đồng tiền, danh lợi, địa vị, tình yêu, sắc đẹp, của cải, v.v...? Ðể lập gia đình, sinh con đẻ cái nối dõi tông đường? Ðể gây dựng một sự nghiệp? Ðể tranh đấu cho một lý tưởng chính trị, kinh tế, xã hội, v.v...? Hay để đơn giản đi làm kiếm ăn sống qua ngày như bao nhiêu người khác? Ðể rồi một ngày kia nằm xuống ra đi với hai bàn tay trắng?
Dừng lại vài phút để tự hỏi hay tự kiểm lại xem cuộc đời mình đang sống đây có ý nghĩa gì không? Mình có hài lòng với những gì đang có và đang sống không? Những cái đó có đem lại cho mình hạnh phúc hay không? Hay mình chỉ làm một kẻ nô lệ, một người máy rô bô mặc cho xã hội vật chất lôi kéo điều khiển.
Ở đây không bàn đến những người vô thần vô đạo, chủ trương duy vật, sống chỉ để hưởng thụ, chết là hết. Ngay trong Phật giáo, đa số cho rằng sinh ra ở đời để tạo nghiệp và trả nghiệp, vay trả trả vay mãi mãi không ngừng. Quan niệm này đúng chứ không sai, đứng trên luật nhân quả mỗi khi ta cử động, nói năng, suy nghĩ một chút dù chỉ vài giây cũng là tạo nghiệp và như vậy đương nhiên sẽ gặp quả báo tránh sao cho khỏi. Nhưng quan niệm này nếu không khéo có thể khiến cho người ta trở nên thụ động, gặp việc gì cũng đổ tại nghiệp rồi ngồi yên chịu trận.
Cuộc đời đã lắm khổ đau, sao ta không tìm những quan niệm khác giúp ta lạc quan hơn trong cuộc sống? Ðối với tôi, con người sinh ra ở đời để học hỏi những kinh nghiệm để tiến hóa. Mỗi kiếp sinh ra là một lớp học. Ta có thể chọn học một hoặc nhiều môn, nhưng bài học phải được hiểu và học cho xong mới được lên lớp.
Ta lấy vợ lấy chồng không phải để thỏa mãn tình cảm nhục dục hay lấp vá cô đơn mà để học thương yêu và sống chung hòa hợp.
Ta sinh con đẻ cái không phải để tiếp nối giòng dõi hay để nhờ vả khi về già mà là để chính ta tập học làm cha làm mẹ, tập thương yêu dạy dỗ giúp đỡ con cái.
Ta làm vua hay tổng thống một nước không phải để ăn trên ngồi trốc, bóc lột của dân mà để học thương dân trị nước.
Ta làm bác sĩ, nha sĩ, dược sĩ không phải để có nhiều tiền hay danh vọng mà để học cách giúp đỡ thương yêu bệnh nhân.
Ta làm bác học, kỹ sư không phải để chế ra những vũ khí máy móc sát nhân hay nô lệ hóa con người mà để đóng góp xây dựng cho cuộc đời bớt khổ về vật chất.
Ta có thể tiếp tục nói về từng nghề nhưng tóm lại tất cả nghề nghiệp trong đời từ cùng đinh hạ tiện cho đến quý phái sang trọng, không có nghề nào thực sự hơn nghề nào vì nghề nào cũng có giá trị và cùng đóng góp cho sự tiến hóa của nhân loại nếu ta đứng trên quan niệm đời là một trường học tiến hóa.
Trong kinh Pháp Hoa và Niết Bàn, đức Phật nói tất cả chúng sinh đều có Phật tánh và đều sẽ thành Phật. Vậy nếu nói theo tinh thần Pháp Hoa thì mỗi kiếp sinh ra đời là mỗi kiếp cho ta cơ hội học hỏi để tiến dần đến Phật quả.
Còn một quan niệm nữa, đó là không phải ai sinh ra đời cũng để tạo nghiệp vay trả trả vay, hoặc để học hỏi tiến hóa. Có những người đã học xong hoặc đã tiến hóa rất xa so với người thường, họ trở lại thế gian hay cõi Ta Bà với một sứ mạng cứu nhân độ thế, hay nói cách khác là giúp nhân loại tiến hóa. Những người này không hẳn phải là những giáo chủ nổi tiếng như Phật, Chúa, Mahomet, Khổng tử, Lão tử, v.v... hoặc các vị lama Trulku Tây Tạng mà là những người thường sống ngay bên cạnh chúng ta.
Ðiều quan trọng cần nhấn mạnh là chúng ta có muốn tỉnh thức để học hỏi tiến hóa hay không? Hay là tiếp tục sống đời vay trả trả vay, sống như những đàn cừu, như những người máy!

TÌNH DỤC

Hỏi: Trong quyển Ðạo Gì thầy nói về năng lượng tính dục (énergie sexuelle), nhiều người cho rằng thầy chủ trương tình dục.
Ðáp: Không nên lẫn lộn năng lượng tính dục (énergie sexuelle) với tình dục (sexe). Khi tôi nói về năng lượng tính dục không có nghĩa là khuyên quý vị làm tình! Người mà phán xét tôi như vậy có vẻ hơi hấp tấp và cùng lúc cho thấy người này có nhiều mặc cảm đối với tình dục. Tôi xin nhấn mạnh là tôi không chủ trương tình dục, nhưng tôi không sợ nói về tình dục. Ai cũng biết ái dục, tình dục hay dục vọng (những ham muốn sai lầm) đều là nguyên nhân đưa đến đau khổ. Nhưng không phải vì thế mà ta không dám nói đến. Tôi lấy thí dụ về thuốc lá. Một người nghiện thuốc lá hay một nhà buôn thuốc lá, khi nói về thuốc lá họ sẽ ca tụng quảng cáo thuốc lá và dụ dỗ người khác hút thuốc lá. Nhưng một ông bác sĩ phổi, khi nói về thuốc lá, sẽ nói về sự nguy hiểm, tai hại của thuốc lá đối với sức khỏe. Hai bên đều nói về thuốc lá nhưng với mục đích hoàn toàn khác nhau. Những tiểu thuyết tình cảm, báo chí khiêu dâm, khi nói về tình dục, sẽ khêu gợi và kích thích lòng dục của con người. Trong khi đó trong quyển Ðạo Gì tôi chưa hề nói về tình dục mà chỉ mới nói về năng lượng tính dục. Không nên lẫn lộn tính dục và tình dục. Chữ tính hay tánh là một nguyên lý (principe), tính dục là nguyên lý của sự ham muốn. Còn tình dục là sự khao khát về nhục dục.
Từ lâu trong các tôn giáo, vấn đề tình dục (sexe) là một điều cấm kỵ (tabou) không được đả động đến, không được hé miệng nói đến. Vì đó là một điều 'bậy bạ'! Nhưng có phải không nói đến điều 'bậy bạ' đó là chúng ta trở thành thánh thiện và không còn ham dục nữa chăng?
Tam độc: tham, sân, si là ba thứ độc nguyên nhân của khổ đau, có phải không được nói đến ba thứ 'độc' đó là chúng ta hết tham, sân,si chăng?
Khi trong người bị bệnh ung thư (cancer), ung thư có nghĩa là thịt thối, đi khám bác sĩ, ta bảo bác sĩ đừng nói đến chữ ung thư vì chữ đó nghe 'ghê' quá, như vậy ta có hết ung thư chăng?
Chúng ta bị ảnh hưởng rất nhiều về quan niệm tu là phải diệt dục, diệt trừ tham, sân, si, tiêu diệt giặc phiền não. Toàn là tiêu trừ, tiêu diệt, đoạn diệt, v.v... Qua những danh từ như thế là thấy có chiến tranh rồi. Tôi vẫn biết có nhiều kinh bàng bạc những quan niệm như thế, đó là những kinh thuộc tư tưởng Nam tông. Nếu quý vị thích tu theo kiểu diệt dục thì cứ theo các kinh đó mà tu. Theo tư tưởng Bắc tông, nhất là hệ bát nhã thì không có gì sinh và cũng không có gì diệt. Các pháp bất sinh bất diệt.Từ đó không có quan niệm diệt phiền não mà là chuyển phiền não. Phiền não không bị tiêu diệt như kẻ thù mà được chuyển thành bạn, thành bồ đề. Tình yêu nam nữ ích kỷ, chiếm hữu không bị tiêu diệt mà được chuyển hóa thành tình bác ái, tình thương nhân loại (amour universel), thành lòng từ bi (amour et compassion).
Dù muốn diệt dục hay chyển dục đi nữa cũng cần phải quán chiếu để sự tu tập được dễ dàng. Về dục (ham muốn), đạo Phật thường đề cập đến năm loại (ngũ dục): tiền của, sắp đẹp, danh vọng, ăn uống và ngủ nghỉ.
Nếu ta ham tiền thì ta phải quán chiếu xem tiền bạc là gì? Ðộng cơ nào thúc đẩy ta tham tiền, thích vơ vét tích trữ tiền của?
Nếu ta ham sắc thì phải quán chiếu sắc đẹp là gì? Ðộng lực nào thúc đẩy ta cứ nghĩ tới sắc đẹp, đứng ngồi không yên?
Về sự diệt dục, kinh sách có dạy quán chiếu về sự bất tịnh của thân thể (bất tịnh quán), xem người đẹp yêu dấu là một túi da hôi thúi (xú bì nang), hoặc vào nghĩa địa nhìn thây ma tan rữa (cửu tưởng quán), v.v... Nhưng đó mới chỉ giúp ta phân nửa trả lời sắc đẹp là gì, tức là quán chiếu đối tượng của dục. Ta chưa hiểu động lực nào đã thúc đẩy ta tham dục. Có thể vì thấy đàn bà con gái là túi da hôi thúi nên ta không ham sắc nữa, nhưng lòng dục vẫn còn và ta đi tìm đối tượng khác, như ham tiền hay ham danh chẳng hạn. Cũng có người không mê sắc đẹp mà họ yêu cái tánh nết thùy mị đoan trang của tình nhân, trong trường hợp này bất tịnh quán sẽ hoàn toàn thất bại!
Dục là một chướng ngại rất lớn cho người tu hành, dù đó là tu sĩ hay cư sĩ. Ấy vậy mà ít ai chịu tìm hiểu sâu xa để giải tỏa. Chỉ toàn là những điều cấm đoán hoặc làm ngơ. Giống như con đà điểu (autruche) gặp thợ săn, bỏ chạy chúi đầu vào bụi cây để lộ thân ra ngoài rồi cho đó là an toàn.
Trên thế giới hiện nay có một bệnh hiểm nghèo, đó là bệnh Sida (Aids). Nhiều bậc cha mẹ không dám nói tới, bàn tới vì cho đó là điều 'bậy bạ'. Một ngày kia con mình lén lút mang bệnh, xấu hổ bỏ nhà ra đi. Những bậc cha mẹ này tự mình không hiểu hiết, không học hỏi, lại còn gây thêm mặc cảm tội lỗi cho con cái!
Trở về vấn đề tình dục, người nào cảm thấy mình tu hành khá, không còn ham dục ham sắc nữa thì hoan hỷ bỏ qua đừng để ý đến phần này. Ở đây chỉ bàn cho những ai còn dính mắc vào tình dục và muốn tìm phương giải tỏa.
Có nhiều cách giải tỏa, hoặc tập thể dục thể thao, hoặc chuyển hóa và thăng hoa theo giáo lý luân xa hoặc qua nghệ thuật sáng tác như thiền cắm hoa, thiền thủ bút (calligraphie), điêu khắc, hội họa, âm nhạc, v.v...
Tóm lại như tôi đã nói trong quyển Ðạo Gì, năng lượng tính dục hay bất cứ năng lượng nào khác cũng cần được hiểu để xử dụng và chuyển hóa trong việc tu hành. Tuy nhiên có nhiều người, khi nghe tới hai chữ 'tình dục', họ cảm thấy khó chịu, bất an, và 'bậy bạ'. Vậy thì đây là một cơ hội để họ nhìn lại, quán chiếu vì sao họ có mặc cảm với danh từ 'tình dục', dù đó chỉ là hai chữ. Chắc chắn nó đã gợi cho họ những kỷ niệm khổ đau, hoặc những cảm tưởng xấu xa, hay nói cách khác là những cái tưởng không tốt đẹp gì. Họ đã tưởng gì về tình dục, tưởng gì về năng lượng tính dục?

TÌNH YÊU VÀ ÁI LUYẾN
Nhiều lần tôi nói về tình thương, đối với tôi tu không phải là dứt tình (đoạn tình) mà là chuyển tình. Nhưng một thầy tu mà nói về tình thương hay tình yêu không khéo sẽ có Phật tử hiểu lầm ngay. Ở cõi Ta Bà này là cõi nhiều chuyện nên Phật Thích Ca đã phải nói suốt 45 năm, ấy vậy mà vẫn còn nhiều người hiểu lầm. Sau cùng Phật phải tuyên bố: từ lúc thành đạo cho đến nhập niết bàn, ta chưa hề nói một lời nào.
Trước hết ta cần phân biệt giữa tình thương và ái luyến. Trong tiếng Việt, hai chữ thương và yêu hình như được dùng lẫn lộn, thương với yêu đồng nghĩa, có người nói thương là tiếng bắc, còn yêu là tiếng nam, hoặc ngược lại. Song le trong sự bày tỏ tình cảm, chữ thương có vẻ nhẹ hơn chữ yêu. Nhiều khi rắc rối quá người ta nói luôn hai chữ cho rồi.
Trong vòng giây xích 12 nhân duyên, vòng thứ 8 là ái (tanha), tiếng Việt dịch là yêu hay thương. Tôi nghĩ nếu chỉ có ái không thôi thì chắc không có vấn đề gì, nhưng vì yêu (ái) rồi muốn nắm giữ (thủ) làm của mình (hữu) nên mới sinh ra ái luyến. Chữ luyến có nghĩa là yêu mến không rời bỏ ra được. Do đó tình yêu trai gái thường được gọi là ái luyến, cô cậu một khi yêu nhau thì không thể rời xa nhau được, tiếng Pháp là amour-attachement. Có lẽ vì chữ yêu (ái) còn mang nhiều tính chất của vô minh nên trong đạo Phật người ta không thích dùng hoặc không dám dùng nó mà thay thế bằng chữ từ bi. Từ bi tiếng Pali là metta-karuna, tiếng Pháp dịch là amour (từ)-compassion (bi). Theo Hán-Việt thì từ là tình thương hay sự hiền lành, bi là thương xót, thương hại. Sau này khi nói đến từ bi, quý thầy dịch cho gọn là ban vui cứu khổ. Nhưng ban vui cứu khổ chỉ là kết quả hay sự thể hiện của cái tình bên trong. Có thương và xót thì mới ban vui cứu khổ được chứ!
Từ từ hai chữ từ bi có vẻ đi gần và hợp với tình thương hơn là tình yêu. Một thầy tu mà nói yêu Phật tử thì thật loạn luân, không thể chấp nhận được, nhưng nếu ông ta đổi đi một chút, nói thương Phật tử thì người ta sẽ bảo là ông từ bi. Cũng cùng là một thứ tình nhưng nếu phát ngôn không đúng với tâm lý xã hội thì sẽ có chuyện ngay.
Con người là loài hữu tình, có quả tim nên ai cũng biết thương, biết yêu, nhưng hầu như mọi sự thương yêu đều dẫn đến thủ hữu, bám víu và ái luyến. Vì ái luyến nên mới đau khổ. Nếu ái mà không luyến, không thủ hữu thì ái (yêu) trở thành từ bi. Vì thế công việc tu hành không phải là cắt ái mà là chuyển ái thành từ, nói cách khác là ái mà không luyến.
Ðối với tôi tình yêu hay tình thương đều được, miễn sao biết yêu thương đúng mức, đúng nghĩa, yêu mà không dính mắc, bám víu, không chiếm làm của mình, yêu một cách sáng suốt tỉnh thức, không ích kỷ và nhất là không được xem đối tượng yêu như một món vật mà là một con người.
Sau đây tôi sẽ dùng chữ yêu, nói về tình yêu để thay đổi không khí, mong quý vi đừng hoảng sợ, nhất là quý vị Phật tử thuần thành ngoan đạo.
Nếu ta thực sự yêu một người nào, ta sẽ không tìm cách thay đổi hay biến người đó theo ý mình, ngược lại ta sẽ giúp người đó tìm lại tư cách của họ, trở thành chính họ và không còn lệ thuộc vào ta nữa.
Thông thường khi yêu nhau, người ta hay có khuynh hướng xâm lấn vào thế giới của người yêu và vô tình tước đoạt dần tự do của người kia. Từ từ tình yêu đẹp đẽ ban đầu bị biến thái, trở thành chiếm hữu, ghen tuông, tranh dành quyền lợi, muốn điều khiển kẻ kia, v.v...
Nếu biết yêu thực sự, không vô minh ái luyến thì tình yêu trở thành một sự tự do vô bờ bến. Và tình yêu này bắt đầu ngay nơi bản thân mình, cá nhân mình, tức là ta phải biết yêu thương mình trước hết. Ta đừng làm kẻ ăn mày đi xin xỏ tình yêu. Ta có dư đủ tình yêu để ban cho mình kia mà! Vì không biết hoặc quên đi điều đó nên ta phải tìm mọi cách, mọi thủ đoạn để khiến người khác yêu ta, ban cho ta những gì ta muốn. Vả chăng nếu người kia có yêu ta đi nữa thì động lực vô minh ban đầu đã khiến cho tình yêu này bị ô nhiễm, trở thành một thứ tình yêu lợi dụng, đổi chác.
Trí huệ hiểu biết rất cần thiết để chuyển hóa tình yêu say mê thành tình yêu chân thật tự tại. Yêu say mê hay si tình là một thứ ái luyến, bám víu và ràng buộc. Tình yêu chân thật có tính chất cởi mở và thông cảm.
Trên đời, người ta yêu nhau, cưới nhau đều đều, nhưng chắc ít có ai biết yêu thực sự. Chỉ có những người trưởng thành tâm linh mới biết yêu đúng với ý nghĩa của tình yêu. Một cặp vợ chồng yêu nhau, quyến luyến nhau, không rời nhau được, đó chỉ là một loại tình yêu ái luyến mường tượng, tức là có vẻ giống như tình yêu nhưng không phải tình yêu.
Một người đã tìm lại được chính mình, biết sống thực với mình, biết thương yêu chính mình thì tự thân người này tỏa ra hào quang của tình yêu. Một người vô ý thức, không biết chính mình, không biết thương yêu mình thì làm sao có tình yêu dư thừa để toát ra ngoài được! Chính vì thế mà anh ta cần phải đi tìm tình yêu từ bên ngoài, giống như một kẻ ăn xin đi gặp một người ăn xin khác và tưởng rằng người kia sẽ có tình yêu cho mình. Nhưng cuối cùng cả hai đều thất vọng và cảm thấy như bị lường gạt. Làm sao ta có thể ban cho người khác những gì mà chính ta không có? Làm sao thương yêu kẻ khác khi chính ta không biết yêu thương mình? Tệ hơn nữa là sau khi thất vọng, thất tình, vì không hiểu biết nên người ta lại đổ lỗi cho nhau, người này bảo lỗi tại người kia...
Khi tình yêu biết cho, biết ban ra, đó là tình yêu thực sự. Khi tình yêu chỉ biết lấy vào, ôm vào, đó là tình yêu giả mạo, một sự khát ái, cần tình.
Tình yêu có ba trình độ:
* Trình độ thứ nhất thuộc thú tánh, mang nặng tính chất sinh lý, nó phát hiện một cách tự nhiên và vô ý thức. Thí dụ một người đàn ông gặp một người đàn bà đẹp, có hình dáng hấp dẫn, thì tự nhiên anh ta như bị thu hút, khởi tâm ưa thích và yêu người đàn bà kia.
* Trình độ thứ hai bớt thô trọc hơn, nó không còn là sự hấp dẫn giữa hai thể xác mà là giữa hai tâm hồn. Nó mang nặng tình cảm hơn là sinh lý. Nhưng nó cũng chịu chung một quy luật, luật vô thường: thành, trụ, hoại, diệt, nói cách khác nó phát sinh rồi sẽ đi đến tàn lụi, chìm dần vào vô thức.
* Trình độ thứ ba thuộc tâm linh. Ðến trình độ này ta không còn yêu ai nữa, không yêu một người hay một đối tượng nào nữa, vì ta với yêu là một, ta là tình yêu, tình yêu là ta. Tình yêu này không hướng vào một đối tượng cá nhân, nếu cần đối tượng thì đối tượng sẽ là cả vũ trụ pháp giới. Tình yêu này tự nó tỏa ra yêu thương như mặt trời tỏa ánh sáng, như bông hoa tỏa mùi thơm dù có hay không có ai ở đó thưởng thức. Loại tình yêu thanh tao và cao thượng này thường là do kết quả của thiền quán hay sự chín mùi của tâm linh. Nó phát sinh khi ta tỉnh thức nhận ra mình là ai và biết sống thật với chính mình. Người mà ý thức được mình với sự sống là một thì biết được tình yêu này. Nó là căn bản mà cũng là cứu cánh của tất cả tôn giáo, đạo giáo. Chúa Giê-Su có nói: 'thương người như mình ta vậy'. Ðức Phật nói bồ tát thương yêu chúng sinh như con một.
Ða số người đời khi nói về tình yêu, họ chỉ biết đến hai trình độ hay hai loại tình yêu đầu. Hai loại tình yêu này thường được người tu xem là giây oan nên họ tìm cách dứt tình. Nhưng làm sao dứt tình được, họ chỉ chuyển tình của họ đến Chúa, đến Phật. Nhưng nếu chỉ biết yêu Chúa, thương Phật thôi, không biết thương yêu kẻ khác thì vẫn chưa đạt đến loại tình yêu thứ ba này. Tu là tập chuyển tình, chuyển hai loại tình yêu nhục dục và ái luyến thành loại tình yêu cao thượng.

ÁI LUYẾN

Ái luyến là muốn người, vật và hoàn cảnh luôn luôn như ý mình và không bao giờ thay đổi. Không muốn thân xác mình già yếu, không muốn tình cảm thay đổi, không muốn tình yêu phai nhạt. Mỗi khi bắt đầu yêu một người nào thì liền có ái luyến theo sau, và đương nhiên là dẫn đến phiền phức và khổ đau. Vì ái luyến ta trở nên chiếm hữu, sợ mất người yêu hoặc người yêu của ta sẽ yêu kẻ khác... Từ đó ta phải suy nghĩ tính toán mưu kế để giữ gìn người yêu. Vô tình ta xâm lấn tự do và biến người yêu thành một món đồ, một vật sở hữu. Cuộc tình ban đầu dần dần trở thành một sự giằng co: một bên xâm lấn, một bên dành lại độc lập tự do. Và nếu cứ tiếp tục sống bên nhau thì chả còn tình nghĩa gì nữa mà là hỏa ngục, danh từ trong đạo gọi là oắn tắng hội khổ. Vì thế ái luyến là thuốc độc của tình yêu, tàn hoại tình yêu.
Nếu chưa yêu được theo trình độ thứ ba thì ta vẫn cứ yêu, nhưng phải học và tập yêu với sự hiểu biết thông cảm, không chiếm hữu, không ghen tuông. Yêu là một nghệ thuật, muốn yêu cho có hạnh phúc ta cần phải học vì bản chất yêu của người đời là ái luyến chứ không phải là yêu theo nghĩa thứ ba đã nói ở trên, không phải tự nhiên mà ta có thể yêu theo kiểu Chúa hay Phật được.

CHIẾM HỮU

Chiếm hữu là biểu tượng của sự nghèo nàn và thèm khát. Người nghèo nàn thiếu thốn tình thương bao nhiêu thì thường có khuynh hướng chiếm hữu bấy nhiêu. Tình yêu chiếm hữu cũng giống như tình trạng của một đứa bé khát sữa đòi bú mẹ. Nhưng mẹ nó bận việc không cho bú được nên nó đâm ra tức tối, giận hờn, ganh tỵ.
Một người trưởng thành về tư tưởng thì không thể chiếm hữu được. Làm sao có thể bắt người khác phải thuộc về ta? Phải thương yêu ta? Mỗi khi gặp nạn hay khổ đau mà đổ lỗi cho người khác, đó là thái độ ấu trĩ nhất trên đời. Một người biết ban bố, chia xẻ thương yêu là người đang làm thể hiện Phật tánh bên trong. Cũng thế, mỗi khi ta cảm thấy muốn đòi hỏi, chiếm hữu, lấy về làm của mình thì phải nhận thức rằng ta đang làm hiển lộ cái tánh ấu trĩ, con nít bên trong. Lúc đó ta hãy ghi nhận, quán sát cái ta con nít đó xem nó biến chuyển và lôi kéo ta như thế nào? Không cần trách mắng hay xua đuổi, chỉ cần nhận diện và quan sát nó. Nhờ tỉnh thức nhận diện, quan sát thường xuyên cái ta con nít bên trong (the baby within) ta sẽ giúp nó trưởng thành. Trước khi muốn thành Phật thì phải thành người trước đã.

HẠNH PHÚC

Hạnh phúc là mục đích sống của con người, là điều mà ai cũng muốn tìm. Nhưng ta không thể xác định hạnh phúc là gì vì nó tùy trình độ tiến hóa của mỗi người.
Nhân loại có thể được xếp thành ba hạng:
- Hạng thứ nhất là những người còn mê ngủ.
- Hạng thứ hai là những người sửa soạn gần thức giấc.
- Hạng thứ ba là những người đã tỉnh giấc, không còn mê ngủ.
Hạng thứ nhất, hạnh phúc đối với họ là những cảm giác khoái lạc thuộc về thể xác như ăn uống, thỏa mãn nhục dục. Suốt đời họ lo chạy đi tìm hạnh phúc, nhưng loại hạnh phúc này rất mong manh. Mong manh ở đây không có nghĩa là không có, nó có nhưng không kéo dài được, thoáng có để rồi nhường chỗ ngay cho sự thèm khát khổ đau. Loại hạnh phúc này rất nguy hiểm, đạo Phật thường ví nó như kẻ khát uống nước muối, càng uống càng khát, hoặc như liếm mật trên lưỡi dao, thoáng nếm vị ngọt nhưng bị đứt lưỡi ngay sau đó.
Càng đi tìm hạnh phúc lại càng thèm khát và không bao giờ được thỏa mãn. Vì thế hạng người này phải tìm cho nhiều, nhiều tiền, nhiều danh, nhiều sắc, họ sống trong ảo tưởng về số lượng (quantité), nghĩ rằng nếu có nhiều thì mới được thỏa mãn hạnh phúc.
Ðối với hạng thứ nhì, hạnh phúc thuộc về phẩm (qualité). Ðối tượng hạnh phúc của họ không còn là những thứ thô kệch như vật chất, sắc đẹp thể xác hào nhoáng bên ngoài, họ chú ý về phẩm chất nhiều hơn. Họ vẫn đi tìm khoái lạc cảm giác, nhưng thanh tao hơn, như nghe một bản nhạc hay, ngâm thơ vịnh phú, thưởng thức hương trà, ngắm kiểng cắm hoa, v.v... hoặc đàm luận với bạn bè, hoặc đơn giản được sống bên cạnh người yêu, người thân là họ cảm thấy hạnh phúc rồi. Loại hạnh phúc này thanh tao, sâu sắc và có vẻ lâu bền hơn loại hạnh phúc thứ nhất nhưng nó vẫn còn tùy thuộc vào đối tượng bên ngoài như thơ, nhạc, hoa, trà, cảnh, người, v.v...Và nếu ngày nào đó đối tượng kia mất đi thì hạnh phúc liền biến thành khổ đau.
Ðối với hạng thứ ba, hạnh phúc không còn tùy thuộc vào đối tượng bên ngoài nữa. Loại hạnh phúc này có thể được xem là hoàn toàn nhất. Hạnh phúc là sự bình an của tâm hồn, là sự tỉnh thức không còn ngủ mê trong đêm tối. Họ sống trong ánh sáng, không còn bóng dáng của chấp ngã lo âu, ham muốn bám víu vào một đối tượng bên ngoài. Họ sống trong hiện tại, bây giờ và ở đây, sống hòa nhịp với cuộc đời và sự sống. Loại hạnh phúc này là một loại sung sướng thứ thật (chân lạc), nó ở ngay trong ta và nó cũng chính là bản chất hay bổn tánh của ta.

THÍCH TRÍ SIÊU
(Góp nhặt- chương 3)